Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tập 1 - Chủ đề 1: Ôn tập và bổ sung - Bài 4: Hơn, kém nhau bao nhiêu.

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Phạm Thị Hương
Ngày gửi: 18h:26' 11-11-2024
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2
MÔN TIẾNG VIỆT – LỚP 4
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC (Ma trận 3 mức)
Nội
Số
Mức 1
Mức 2
Mức 3
dung câu,
HT
HT
HT
kiểm
số TN
TN
TL
TL
TN
TL
khác
khác
khác
tra điểm
Số
Đọc
thàn câu
Sau khi HS đọc thành tiếng xong GV đặt 01 câu hỏi để HS trả
h
lời.
Số
tiếng điểm
Số
2
1
câu
Đọc Câu
1,2
3
hiểu
số
Số
1
0,5
điểm
Số
2
2
Kiến câu
thức Câu
4, 6
5, 7
tiếng
số
việt
Số
2
2,5
điểm
Số
2
1
2
2
câu
Tổng
Số
1
0,5
2
2,5
điểm

Tổng

1
4
3

1,5
4

4,5

8
10

B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT
TT
1

2

Chủ đề
Số câu
Chính tả Câu số
Số điểm
Số câu
Tập làm
Câu số
văn
Số điểm
Tổng số câu
Tổng số điểm

Mức 1
TN TL

Mức 2
TN TL
1
1
4

1
4

Mức 3
TN TL

Tổng
1

1
2
6
1
6

4
1
6
2
10

ĐỀ SỐ 1
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 20.. – 20..
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
I. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Đọc đoạn văn sau:
CHIM KHUYÊN NON MUỐN BAY
Những ngày nằm chờ cho lông cánh, lông đuôi mọc đủ, hai chú chim
khuyên khao khát được bay để ngắm vòm trời xanh ngắt, ngắm thảm cỏ mịn
màng, nhìn ra nơi mịt mù xa xa kia biết bao nhiêu là thứ lạ lùng. Chim anh nở
trước, được mẹ dìu rời tổ trước. Khi về nghe chim anh kể, chim em cứ rộn cả
lên:
– Mẹ ơi! Mai mẹ cho con đi với nhé!
– Con chưa đủ sức bay đâu. Đợi một hai hôm nữa.
Chim em cho rằng mẹ cưng anh hơn. Đợi lúc mẹ và anh bay đi rồi, chim
em gắng dùng đôi cánh còn run run bám vào miệng tổ, kiễng chân lấy đà nhướn
ra ngoài. Vì chưa học cách rời tổ, chim em bị ngã. May sao, dưới gốc cây có lớp
lá mục, chim em không bị thương nhưng cũng hết cả hồn vía.
Chim em đứng lên rũ cánh, định bay trở về tổ. Nhưng buồn quá, chú ta
chỉ bốc mình lên khỏi mặt đất được một đoạn ngắn thì lại rơi bịch xuống đất. Cứ
thế, chim em vừa rên rỉ vừa nhảy chuyền quanh gốc cây, không bay về tổ được.
Chim em sợ quá vội chui vào một lùm cây gần đấy chờ mẹ về. Chờ mãi, chờ
mãi, chim em ngủ thiếp đi lúc nào không biết nữa.
Bỗng có tiếng gọi, chim em mở choàng mắt, thì ra là mẹ. Chim em vừa
khóc vừa kể cho mẹ nghe. Chim mẹ phẩy những hạt đất cát, vụn lá bám trên
mình chim em và dặn:

– Con đừng dại dột như thế nữa nhé!
Chim em ngoan ngoãn rúc vào cánh mẹ thay cho lời vâng ạ. Chim anh
cũng ôm lấy em rồi cùng mẹ dìu em lên tổ.
(Theo Phong Thu)

Câu 1. Những ngày nằm chờ đủ lông đủ cánh, hai chú chim khuyên non
khao khát điều gì? (0,5 điểm)
A. Được mẹ cưng hơn.
B. Được xuống mặt đất.
C. Được chuyền quanh gốc.
D. Được bay đi khám phá những điều mới lạ.
Câu 2. Chuyện gì đã xảy ra với chim em khi nó tự ý rời tổ? (0,5 điểm)
A. Chim em bị ngã xuống đất.
B. Chim em bị thương.
C. Chim em bị mẹ quở trách.
D. Chim em bị rơi xuống vực.
Câu 3. Câu chuyện muốn khuyên các bạn nhỏ điều gì? (0,5 điểm)
A. Không nên tị nạnh với anh chị em trong nhà.
B. Muốn làm tốt một việc nào đó, cần phải tập luyện nhiều.

C. Liều lĩnh, bỏ qua lời khuyên của cha mẹ, có ngày gặp nguy hiểm.
D. Tất cả những đáp án trên đều đúng.
Câu 4. Nối các câu văn chứa dấu gạch ngang với tác dụng tương ứng: (1
điểm)
Một bữa Pa-xcan đi đâu về khuya,

Chú thích bố của Pa-xcan

thấy bố mình – một viên chức tài

làm nghề gì.

chính – vẫn cặm cụi trước bàn làm
việc.
“Những dãy tính công hàng ngàn con

Chỗ bắt đầu lời nói của

số, một công việc buồn tẻ làm sao!” –

nhân vật trong đối thoại và

Pa-xcan nghĩ thầm.

chú thích.

– Con hi vọng món quà nhỏ này có

Chú thích đây là lời nói

thể làm bố bớt nhức đầu vì những con

của nhân vật.

tính – Pa-xcan nói.
Câu 5. Em hãy xác định các thành phần câu và ghi “TN” dưới trạng ngữ,
“CN” dưới chủ ngữ, “VN” dưới vị ngữ: (1 điểm)
a) Mặt trời vừa mọc, các bác nông dân đã ra đồng làm việc.
.................................................................................................................................
b) Vào giờ kiểm tra, bút của Mai chẳng may bị hỏng.
.................................................................................................................................
Câu 6. Đặt 1 câu có trạng ngữ chỉ thời gian hoặc nơi chốn và gạch chân
dưới trạng ngữ đó: (1 điểm)
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Câu 7. Dựa vào bức tranh bên dưới, em hãy đặt câu theo yêu cầu: (1,5
điểm)

a. Chủ ngữ là danh từ chỉ người.
.................................................................................................................................
b. Chủ ngữ là danh từ chỉ sự vật.
.................................................................................................................................
c. Chủ ngữ là danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên.
.................................................................................................................................

B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
1. Nghe – viết (4 điểm)
NGỰA BIÊN PHÒNG
(Trích)
Chúng em trong bản nhỏ
Phơi thật nhiều cỏ thơm
Để mùa đông đem tặng
Ngựa biên phòng yêu thương...
Phan Thị Thanh Nhàn
2. Tập làm văn (6 điểm)
Em hãy viết bài văn tả cây xà cừ mà em yêu thích.

ĐÁP ÁN GỢI Ý
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng (4 điểm)
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
D. Được bay đi khám phá những điều mới lạ.
Câu 2. (0,5 điểm)
A. Chim em bị ngã xuống đất.
Câu 3. (1 điểm)
D. Tất cả những đáp án trên đều đúng.
Câu 4. (1 điểm)

Câu 5. (1 điểm)
a) Mặt trời vừa mọc/, /các bác nông dân/ đã ra đồng làm việc.
TN

CN

VN

b) Vào giờ kiểm tra/, /bút của Mai/ chẳng may bị hỏng.
TN
Câu 6. (1 điểm)

CN

VN

Sáng sớm, các bác nông dân đã dắt trâu đi cày.
Câu 7. (1,5 điểm)
a. Các bạn nhỏ đang chơi thả diều.
b. Những con diều bay lượn trên bầu trời.
c. Buổi chiều, gió thổi lồng lộng.
B. KIỂM TRA VIẾT: (10 ĐIỂM)
1. Chính tả (4 điểm)
- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):
0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.
0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.
- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):
Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm
2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;
Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.
- Trình bày (0,5 điểm):
0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.
0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa
vài chỗ.
2. Luyện tập (6 điểm)
- Trình bày dưới dạng một bài văn, tả cây xà cừ mà em yêu thích, câu văn viết
đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu,
không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Giới thiệu về cây xà cừ mà em yêu thích.
Triển khai:

- Tả bao quát cây: (1) Không biết bác xà cừ đã yên vị ở đây từ bao giờ mà cao
và to lắm. (2) Nhìn từ xa, bác xà cừ như một chiếc ô xanh khổng lồ bung nở. (3)
Ngọn xà cừ vươn cao vượt cả nóc nhà hai tầng. (4) Tán thì xòe rộng cả một
khoảng sân lớn. (5) Thân bác to lắm đến hai đứa học sinh chúng em ôm không
xuể.
- Tả chi tiết: (1) Vỏ cây màu nâu, xù xì rậm rạp, có những đoạn vỏ còn bong ra
thành từng mảng rất cứng. (2) Từ thân có hai cành lớn như hai cánh tay vươn ra
đỡ lấy tán lá xum xuê. Cành con vươn ra tứ phía, uyển chuyển la đà. (3) Ở phần
gần gốc là những cành cây cực kì to, có cành còn to bằng cả thân những cây
bạch đàn ở gần đó. (4) Lá cây xà cừ không to lắm, hai mặt xanh nhẵn bóng. (5)
Lá cây xanh tốt vào mùa xuân vào mùa hè, chuyển vàng ở mùa thu và rụng như
trút vào mùa đông. (5) Rễ cây xà cừ rất to, có những đoạn rễ trồi hẳn lên trên
mặt đất to bằng cổ tay em, nhìn nó ngoằn ngoèo như những con rắn hổ mang.
- Lợi ích của cây xà cừ: làm bóng mát,...
- Tình cảm của em đối với cây xà cừ: (1) Chúng em yêu bác xà cừ lắm!
Những chiếc lá già giã từ thân mẹ lại được các bạn học sinh thu gom sạch sẽ. (2)
Chúng em sẽ bảo vệ và chăm sóc cho bác tốt hơn.
Kết thúc
- Nêu suy nghĩ, tình cảm của em về cây xà cừ.

Bài làm tham khảo
Trường em trồng rất nhiều cây để lấy bóng mát và
làm cảnh như: bàng, phượng vĩ, bằng lăng,… Nhưng
gần gũi và thân thuộc nhất với em là bác xà cừ già ở
giữa sân trường.

Không biết bác xà cừ đã yên vị ở đây từ bao giờ mà
cao và to lắm. Nhìn từ xa, bác xà cừ như một chiếc ô
xanh khổng lồ bung nở. Ngọn xà cừ vươn cao vượt cả
nóc nhà hai tầng. Tán thì xòe rộng cả một khoảng sân
lớn. Thân bác to lắm đến hai đứa học sinh chúng em ôm
không xuể.
Vỏ cây màu nâu, xù xì rậm rạp, có những đoạn vỏ
còn bong ra thành từng mảng rất cứng. Từ thân có hai
cành lớn như hai cánh tay vươn ra đỡ lấy tán lá xum
xuê. Cành con vươn ra tứ phía, uyển chuyển la đà. Phần
tán lá um tùm xanh tốt ấy mời gọi biết bao nhiêu loài
chim về đây làm tổ. Có những ngày chơi dưới tán cây,
chúng em còn nghe rất nhiều lũ chim lách cách nói
chuyện râm ran với nhau trong vòm lá. Ở phần gần gốc
là những cành cây cực kì to, có cành còn to bằng cả
thân những cây bạch đàn ở gần đó. Lá cây xà cừ không
to lắm, hai mặt xanh nhẵn bóng. Lá cây xanh tốt vào
mùa xuân và mùa hè. Mùa thu, lá xà cừ chuyển sang
màu vàng và rụng như trút vào mùa đông. Theo những

cơn gió, từng trận lá cây trút xuống như mưa, mặt đất
như được trải một tấm thảm vàng xuộm vô cùng đẹp
mắt. Rễ cây xà cừ rất to, có những đoạn rễ trồi hẳn lên
trên mặt đất to bằng cổ tay em, nhìn nó ngoằn ngoèo
như những con rắn hổ mang.
Ngày nắng cũng như ngày mưa bác xà cừ vẫn đứng
đó, hiên ngang, kiêu hãnh. Chúng em yêu bác xà cừ
lắm! Những chiếc lá già giã từ thân mẹ lại được các bạn
học sinh thu gom sạch sẽ. Chúng em sẽ bảo vệ và chăm
sóc cho bác tốt hơn.
Bác xà cừ sẽ mãi là một kỉ niệm khó quên trong
thời học sinh của em. Em mong muốn bác xà cừ mãi
tươi tốt để che chở cho học sinh chúng em.

ĐỀ SỐ 2
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 20.. – 20..
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Đọc đoạn văn sau:
NGÀY LÀM VIỆC CỦA TÍ
Trời tờ mờ sáng, trong nhà còn tối om. Bố đã thức giấc. Tí cũng thức
giấc, cựa mình. Bố bảo:
– Hôm nay, Tí đi chăn nghé nhá!
Năm nay, Tí chín tuổi. Tí là cậu bé học sinh trường làng. Từ trước đến
nay, ở nhà, Tí chưa phải làm công việc gì. Thỉnh thoảng, bố sai đi lấy cái điếu
cày hoặc u giao phải đuổi đàn gà đừng để nó vào buồng mổ thóc. Tí chưa chăn
nghé bao giờ.
U lại nói tiếp:
– Con chăn cho giỏi, rồi hôm nào u đi chợ, u mua vở cho mà đi học.
Bố mở gióng dắt nghé ra. Bố dặn:
– Nhớ trông, đừng để nghé ăn mạ đấy.
– Vâng.
Tí cầm dây kéo, con nghé cứ chúi mũi xuống. Tí thót bụng, cố hết sức lôi
con nghé ra cổng. Ra đến ngã ba, Tí dừng lại. Phía cổng làng, các cô chú xã viên
kéo ra ùn ùn. Có người nhận ra Tí cất tiếng gọi:
– Đi nhanh lên, Tí ơi!
Mọi người quay nhìn, cười vang, đua nhau gọi Tí.
Tí chúm miệng cười lỏn lẻn. Phải đi cho kịp người ta chứ! Tí dắt nghé
men theo bờ ruộng còn con nghé ngoan ngoãn theo sau, bước đi lon ton trên bờ

ruộng mấp mô. Cái bóng dáng Tí lũn cũn thấp tròn. Tí đội cái nón quá to đối với
người, trông như cây nấm đang di động.
Theo Bùi Hiển
- U: mẹ (gọi theo nông thôn miền Bắc)
- Xã viên: nông dân làm việc trong hợp tác xã nông nghiệp.
- Nghé: con trâu còn nhỏ

Câu 1. Sáng nay, bố giao cho Tí công việc gì? (0,5 điểm)
A. Lấy điếu cày cho bố.
B. Dắt nghé ra khỏi cổng.
C. Đi chăn nghé.
D. Đuổi gà ăn vụng thóc.
Câu 2. Nhìn Tý dắt nghé, mọi người đã làm gì? (0,5 điểm)
A. Mọi người khuyên Tí quay về nhà.
B. Mọi người chạy đến dắt nghé giúp Tí.
C. Mọi người quay nhìn, cười vang đua nhau gọi Tí.
D. Mọi người thản nhiên nhìn Tí và không nói gì.
Câu 3. Câu chuyện khuyên các bạn nhỏ điều gì? (0,5 điểm)
A. Nên tập đi chăn nghé.
B. Nên phụ giúp ba mẹ những việc phù hợp với độ tuổi của mình.

C. Nên ăn nhiều để khỏe mạnh, có sức kéo nghé.
D. Nên làm những công việc mới lạ, chưa từng làm bao giờ.
Câu 4. Gạch chân vào thành phần thứ hai trong đoạn văn sau: (1 điểm)
Lương Định Của là một nhà nông học xuất sắc và là cha đẻ của nhiều
giống cây trồng mới... Ông là người đầu tiên ứng dụng một cách sáng tạo các kĩ
thuật canh tác của nước ngoài vào việc trồng lúa ở Việt Nam.
Theo Minh Chuyên
Câu 5. Gạch chân vào các tính từ có trong đoạn văn sau: (1 điểm)
Nơi đây cất lên những tiếng chim ríu rít. Chúng từ các nơi trên miền
Trường Sơn bay về. Chim đại bàng chân vàng mỏ đỏ đang chao lượn, bóng che
rợp mặt đất. Mỗi lần đại bàng vỗ cánh lại phát ra những tiếng vi vu vi vút từ trên
nền trời xanh thẳm, giống như có hàng trăm chiếc đàn đang cùng hoà âm. Bầy
thiên nga trắng muốt chen nhau bơi lội…
(Trích “Chim rừng Tây Nguyên”)
Câu 6. Em hãy sử dụng dấu ngoặc đơn để viết lại các câu sau: (1 điểm)
a. Chim sâu còn gọi là chích bông xuất hiện nhiều vào mùa lúa chín. Đây là loài
chim có ích cho nhà nông vì thức ăn chính của chúng là sâu.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
b. Khẩu phần ăn của cú tuyết Bắc Cực chủ yếu là những con chuột Lơ-min một
loại động vật gặm nhấm nhỏ sống ở vùng khí hậu lạnh giá.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Câu 7. Em hãy tìm chủ ngữ của mỗi câu sau và đặt câu hỏi cho bộ phận
vừa tìm được: (1,5 điểm)

a) Ông lão ăn xin rên rỉ cầu xin cứu giúp.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
b) Tôi chạy nhanh hơn Lan.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
c) Con chim kêu “túc...túc...” không ngớt.
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
1. Nghe – viết (4 điểm)
CÂY ĐA QUÊ HƯƠNG
(Trích)
Chiều chiều, chúng tôi ra ngồi gốc đa hóng mát. Lúa vàng gợn sóng. Đây
đó, ễnh ương ộp oạp, và xa xa, giữa cánh đồng, đàn trâu bắt đầu ra về, lững
thững từng bước nặng nề, nhịp nhàng. Bóng sừng trâu dưới ánh chiều kéo dài,
lan giữa ruộng đồng yên lặng.
Theo Nguyễn Khắc Viện
2. Tập làm văn (6 điểm)
Em hãy viết một bức thư thăm hỏi khi nghe tin quê bạn gặp bão lũ.
ĐÁP ÁN GỢI Ý
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng (4 điểm)
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
C. Đi chăn nghé.
Câu 2. (0,5 điểm)

C. Mọi người quay nhìn, cười vang đua nhau gọi Tí.
Câu 3. (0,5 điểm)
B. Nên phụ giúp ba mẹ những việc phù hợp với độ tuổi của mình.
Câu 4. (1 điểm)
Lương Định Của là một nhà nông học xuất sắc và là cha đẻ của nhiều
giống cây trồng mới... Ông là người đầu tiên ứng dụng một cách sáng tạo
các kĩ thuật canh tác của nước ngoài vào việc trồng lúa ở Việt Nam.
Câu 5. (1 điểm)
Nơi đây cất lên những tiếng chim ríu rít. Chúng từ các nơi trên miền
Trường Sơn bay về. Chim đại bàng chân vàng mỏ đỏ đang chao lượn, bóng che
rợp mặt đất. Mỗi lần đại bàng vỗ cánh lại phát ra những tiếng vi vu vi vút từ
trên nền trời xanh thẳm,... Bầy thiên nga trắng muốt chen nhau bơi lội…
Câu 6. (1 điểm)
a. Chim sâu (còn gọi là chích bông) xuất hiện nhiều vào mùa lúa chín. Đây là
loài chim có ích cho nhà nông vì thức ăn chính của chúng là sâu.
b. Khẩu phần ăn của cú tuyết Bắc Cực chủ yếu là những con chuột Lơ-min (một
loại động vật gặm nhấm nhỏ sống ở vùng khí hậu lạnh giá).
Câu 7. (1,5 điểm)
a) Ông lão ăn xin rên rỉ cầu xin cứu giúp.
- Chủ ngữ: “Ông lão ăn xin”
- Đặt câu: Ai rên rỉ cầu xin cứu giúp?
b) Tôi chạy nhanh hơn Lan.
- Chủ ngữ: “Tôi”
- Đặt câu: Ai chạy nhanh hơn Lan?
c) Con chim kêu “túc...túc...” không ngớt.
- Chủ ngữ: “Con chim”
- Đặt câu: Con gì kêu “túc...túc...” không ngớt?

B. KIỂM TRA VIẾT: (10 ĐIỂM)
1. Chính tả (4 điểm)
- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):
0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.
0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.
- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):
Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm
2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;
Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.
- Trình bày (0,5 điểm):
0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.
0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa
vài chỗ.
2. Luyện tập (6 điểm)
- Trình bày dưới dạng một bức thư, thăm hỏi khi nghe tin quê bạn gặp bão lũ,
câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu,
không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Địa điểm, thời gian viết thư, lời chào, lí do viết thư.
Triển khai:
- Thăm hỏi tình hình người nhận thư: Gia đình cậu an toàn cả chứ? Nhà cửa
và hoa màu có bị thiệt hại nhiều không? Mực và Mít hôm bão sợ hãi tiếng sấm
thì có chạy lung tung không?

- Nói về tình hình của em: (1) Ở Hà Nội dạo này trời mưa nhiều, áo quần phơi
mãi không khô được. Việc đi lại cũng gặp nhiều bất tiện. (2) Nhưng nó chẳng là
gì so với mọi người ở trong đấy chống chọi với bão lũ cả.
- Lời động viên: Cậu hãy cố gắng lên nhé!
Kết thúc
- Lời chúc và lời hứa hẹn, chữ kí của người viết thư.

Bài làm tham khảo
Hà Nội, ngày 21 tháng 1 năm 2024
Hà Vy yêu quý!
Xem tivi và đọc báo, mình biết Đà Nẵng đã phải
hứng chịu trận bão nặng nề vô cùng. Những video cảnh
cơn bão quét qua thành phố, làng quê mà mình đau lòng
quá. Mình lo lắng cho cậu lắm nên ngay khi vừa đi học
về, mình đã viết thư cho cậu ngay.
Nhà cậu ở Đà Nẵng thế nào? Có bị bão gây ảnh
hưởng nhiều không? Cả gia đình cậu đều bình an và
khỏe mạnh chứ? Vườn hoa và những cây ổi trong vườn
có bị mưa làm hỏng hết không? Mực và Mít hôm bão sợ
hãi tiếng sấm thì có chạy lung tung không? Cậu hãy
chia sẻ cho mình trong thư tới nhé.

Ở Hà Nội dạo này trời mưa nhiều, áo quần phơi
mãi không khô được. Việc đi lại cũng gặp nhiều bất
tiện. Nhưng nó chẳng là gì so với mọi người ở trong đấy
chống chọi với bão lũ cả.
Cậu hãy cố gắng lên nhé!
Chúc cậu và gia đình sớm quay lại cuộc sống
thường ngày. Có thời gian mình sẽ về thăm gia đình
cậu.
Bạn của
cậu
Nhiên
Đào An Nhiên

ĐỀ SỐ 3
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 20.. – 20..
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (4 điểm)
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Đọc đoạn văn sau:
ANH HÙNG THỰC SỰ
Có một ông lão sống cùng ba người con trai. Cả ba đều khỏe mạnh, giỏi
giang. Biết mình sắp đến ngày vĩnh biệt cõi đời, ông gọi các con lại và nói:
– Ta có ba con nhưng chỉ có một viên kim cương làm báu vật từ nhiều đời
để lại. Bây giờ, các con hãy đi, rồi về sau một tuần. Khi đó cha sẽ trao cho
người xứng đáng nhất.
Đúng một tuần sau, họ trở về. Người con cả báo với cha: anh đã mang
một nửa tài sản của mình chia cho những ngươi nghèo khổ. Người con thứ hai
kể anh đã cứu một bé gái sắp chết đuối. Ông lão tỏ vẻ rất hạnh phúc. Ông trìu
mến nhìn sang người con thứ ba:
– Còn con, con mang được gì về?
Anh thưa:
– Con thấy một người đàn ông say rượu nằm bên bờ vực sâu. Chỉ một cử
động nhỏ cũng có thể làm anh ta rơi xuống vực. Con đã xốc anh ta ra khỏi chỗ
đó. Cha biết đó là ai không? Là San-chô, kẻ thù của gia tộc ta. Đã có vài lần,
anh ta đe dọa sẽ giết con, nếu có cơ hội. San-chô tỉnh dậy, nhìn con đăm đăm.

Rồi chúng con khoác tay nhau cùng về. Bây giờ, con đã hiểu mỗi người xung
quanh ta đều có thể làm bạn, dù trước đó là kẻ thù.
Ông lão cầm viên kim cương đặt vào tay người con thứ ba và nói:
– Con quả là một người anh hùng thật sự, con trai ạ!
(Theo Báo Thiếu niên Tiền phong)

Câu 1. Lúc sắp mất, ông lão nói sẽ trao viên kim cương cho ai? (0,5 điểm)
A. Người con mà ông thấy xứng đáng nhất.
B. Người con trai cả của ông.
C. Người con út của ông.
D. Những người nghèo khổ.
Câu 2. Tại sao ông cụ xem người con trai thứ ba là “người anh hùng thực sự''?
(0,5 điểm)
A. Anh đã cứu người đàn ông say rượu khỏi bị rơi xuông vực sâu.
B. Anh là một người cao thượng, biết vượt qua lòng hận thù.
C. Anh biết nhường nhịn không kể lể, không tranh giành.
D. Anh đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
Câu 3. Theo em câu chuyện muốn gửi gắm điều gì tới bạn đọc? (0,5 điểm)
A. Phải biết đem tài sản của mình chia sẻ cho người nghèo khổ.
B. Phải can đảm, chiến thắng nỗi sợ hãi để cứu người bị tai nạn.

C. Phải biết sống cao thượng, biết tha thứ, biết thêm bạn bè bớt thù.
D. Phải biết cứu trợ và giúp đỡ người nghèo khổ.
Câu 4. Em hãy tìm lời nói trực tiếp trong đoạn văn sau: (1 điểm)
Bác tự cho mình là “người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt mặt trận”, là
“đầy tớ trung thành của nhân dân”.
Ở Bác, lòng yêu mến nhân dân đã trở thành một sự say mê mãnh liệt. Bác
nói:
“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành.”
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Câu 5. Dùng dấu “/” để ngăn cách hai thành phần chính trong các câu sau
và ghi “CN” dưới chủ ngữ, “VN” dưới vị ngữ: (1 điểm)
a) Phố tôi có một cây bàng.
.................................................................................................................................
b) Trong vòm lá, gió chiều gảy lên những điệu nhạc li kì tưởng chừng như ai
đang cười đang nói.
.................................................................................................................................
Câu 6. Viết mỗi từ in đậm trong đoạn văn dưới đây vào nhóm thích hợp: (1
điểm)
Núi Hàm Rồng nằm ngay sát cạnh thị trấn Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Ngọn
núi này tuy không quá cao nhưng nếu đứng trên đỉnh núi, du khách sẽ ngắm
được toàn cảnh Sa Pa, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, bản Tả Phìn ẩn hiện
trong sương khói đầy vẻ mờ ảo. Đặc biệt ngày nay, nó thực sự được xem như
một thắng cảnh đầy hoa trái.

(Theo Nguyên Vy)
- Danh từ chung: .....................................................................................................
.................................................................................................................................
- Danh từ riêng: ......................................................................................................
.................................................................................................................................
Câu 7. Dựa vào bức tranh dưới đây, em hãy đặt một câu có sử dụng trạng
ngữ chỉ thời gian và một câu có sử dụng trạng ngữ chỉ nơi chốn: (1,5 điểm)

.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
1. Nghe – viết (4 điểm)
LÚA VÀ GIÓ
Cua con hỏi mẹ
Dưới ánh trăng đêm

- Cô lúa đang hát
Sao bỗng lặng im?
Đôi mắt lim dim
Mẹ cua liền đáp:
- Chú gió đi xa
Lúa buồn không hát!
Phạm Hổ
2. Tập làm văn (6 điểm)
Em hãy viết bài văn miêu tả cây phượng ở sân trường em.
ĐÁP ÁN GỢI Ý
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng (4 điểm)
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
A. Người con mà ông thấy xứng đáng nhất.
Câu 2. (0,5 điểm)
B. Anh là một người cao thượng, biết vượt qua lòng hận thù.
Câu 3. (1 điểm)
C. Phải biết sống cao thượng, biết tha thứ, biết thêm bạn bè bớt thù.
Câu 4. (1 điểm)
- Lời nói trực tiếp là: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.”
Câu 5. (1 điểm)
a) Phố tôi / có một cây bàng.
CN

VN

b) Trong vòm lá /, / gió chiều / gảy lên những điệu nhạc li kì tưởng chừng như ai
TN

CN

VN

đang cười đang nói.
Câu 6. (1 điểm)
- Danh từ chung: thị trấn; núi, du khách, sương khói, thắng cảnh, hoa trái. 
- Danh từ riêng: Hàm rồng, Lào Cai, Sa Pa, Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn.
Câu 7. (1,5 điểm)
- Sáng sớm, bác nông dân đã có mặt ở cánh đồng.
- Trên bầu trời, những chú chim đang bay lượn.
B. KIỂM TRA VIẾT: (10 ĐIỂM)
1. Chính tả (4 điểm)
- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):
0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.
0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.
- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):
Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm
2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;
Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.
- Trình bày (0,5 điểm):
0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.
0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa
vài chỗ.
2. Luyện tập (6 điểm)
- Trình bày dưới dạng một bài văn, miêu tả cây phượng ở sân trường em, câu
văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu,
không đúng nội dung yêu cầu.

Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Giới thiệu cây phượng trên sân trường em.
Triển khai:
- Tả bao quát về cây phượng: (1) Trông từ xa, phượng ta như một chàng hiệp
sĩ hiên ngang. (2) Cây đã già lắm rồi.
- Miêu tả chi tiết về cây phượng: (1) Thân cây đã chuyển sang gam màu xám
có nhiều đốm trắng bạc. (2) Dưới gốc cây, nổi lên những cái rễ lớn, ngoằn
ngoèo, uốn lượn như những con rắn đang trườn vào bóng râm bóng mát. (3)
Phía trên là tán lá như một cái lọng khổng lồ. (4) Những đóa hoa phượng đỏ rực.
(5) Mùa đông, cây rụng hết lá, phô ra những cành trơ trụi, khẳng khiu. (6)
Nhưng sang xuân, chồi non lại nhú ra, phủ một màu xanh tươi mát cho cây.
- Tả hoạt động của con người bên cây phượng: (1) Vào giờ ra chơi, những
cánh hoa phượng được các bạn gái tách ra thành những chú bướm xinh xinh. (2)
Em thường kể những câu chuyện về ông cho các em nhỏ trong xóm cùng nghe.
- Ý nghĩa của hoa phượng: (1) Sau đó không lâu, ở khắp sân trường hình ảnh
của mùa hè lại được vẽ lên bằng những chùm hoa đỏ thắm. (2) Nó đem lại niềm
vui sướng, háo hức cho tuổi học trò.
Kết thúc
- Nêu suy nghĩ, tình cảm của em đối với cây phượng.

Bài làm tham khảo
Giữa sân trường tôi, đứng sừng sững một cây phượng
đang nở rộ những đóa hoa đỏ thắm.
Trông từ xa, phượng ta như một chàng hiệp sĩ hiên
ngang. Cây đã già lắm rồi. Thân cây đã chuyển sang gam màu

xám có nhiều đốm trắng bạc vì cao tuổi. Dưới gốc cây, nổi
lên những cái rễ lớn, ngoằn ngoèo, uốn lượn như những con
rắn đang trườn vào bóng râm bóng mát. Phía trên là tán lá như
một cái lọng khổng lồ. Tôi không biết ai đã đan những cành
cây lại với nhau mà thành cái lọng khéo đến như vậy. Những
chú ve thường ẩn mình trong vòm lá phượng và cất tiếng kêu
ra rả suốt ngày.
Giữa khoảng trời mênh mông, những đóa hoa phượng đỏ
rực nổi bật lên, rực thắm và dễ thương. Vào giờ ra chơi, những
cánh hoa phượng được các bạn gái tách ra thành những chú
bướm xinh xinh. Sau những trận mưa rào, hoa phượng rơi rải
rác khắp sân trường tựa như cả mặt sân được trải lên một tấm
thảm màu đỏ tươi, ánh lên dưới tia nắng mặt trời. Cây phượng
thay lá quanh năm. Mùa đông, cây rụng hết lá, phô ra những
cành trơ trụi, khẳng khiu. Nhưng sang xuân, chồi non lại nhú
ra, phủ một màu xanh tươi mát cho cây. Mỗi lần như thế
dường như tuổi thanh xuân lại trở về với cây phượng già, xóa
đi sự già nua đã in hằn lên thân hình của nó. Sau đó không lâu,
ở khắp sân trường hình ảnh của mùa hè lại được vẽ lên bằng
những chùm hoa đỏ thắm. Nó đem lại niềm vui sướng, háo
hức cho tuổi học trò.

Mùa hè lại đến và những cánh phượng như những cánh
bướm vẫn nằm trong những trang lưu bút của tụi nhỏ chúng
tôi như một dấu ấn kỉ niệm đẹp mà trước lúc chia tay gửi lại
cho nhau để nghỉ hè.

ĐỀ SỐ 4
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 20.. – 20..
MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (4 điểm)
II. Đọc thầm và làm bài tập: (6 điểm)
Đọc đoạn văn sau:
SỰ TÍCH HỒ BA BỂ
Ngày nọ, ở xã Nam Mẫu thuộc tỉnh Bắc Kạn, người ta mở hội. Mọi người
đều nô nức đi xem. Bỗng một bà lão ăn xin xuất hiện. Ai cũng xua đuổi bà vì
trông bà rất gớm ghiếc.
May sao, bà gặp được hai mẹ con người nông dân đi chợ về. Thấy bà lão
tội nghiệp quá, người mẹ bèn đưa bà cụ về nhà, cho bà cụ ăn rồi mời nghỉ lại.
Khuya hôm đó, người mẹ bỗng thấy chỗ bà cụ nằm sáng rực lên, lấy làm sợ hãi
lắm.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, hai mẹ con thấy không có gì lạ. Bà cụ ăn xin đang
sửa soạn ra đi. Bà lão nói với hai mẹ con: “Vùng này sắp có lụt lớn. Ta cho mẹ
con chị gói tro này, nhớ rắc xung quanh nhà mới tránh được nạn.”. Rồi bà cụ
liền nhặt một hạt thóc, cắn vỡ ra, đưa vỏ trấu cho hai mẹ con và nói: “Hai mảnh
vỏ trấu này sẽ giúp hai mẹ con nhà chị lúc cần.”. Nói rồi, bà lão biến mất.

Tối hôm đó, giữa lúc đám hội đang náo nhiệt thì bỗng có một cột nước từ
dưới đất phun lên. Nước dâng lên cao, nhấn chìm toàn bộ nhà cửa, làng mạc.
Chỉ có ngôi nhà của hai mẹ con cứ dần cao hơn nước.
Đau xót vì thấy dân làng bị chìm trong lũ lụt, hai mẹ con liền lấy hai
mảnh vỏ trấu thả xuống nước. Lạ thay, hai mảnh vỏ trấu lập tức biến thành hai
chiếc thuyền lớn. Hai mẹ con vội chèo thuyền đi khắp nơi cứu dân làng.
Khu làng bị nước ngập hoá thành ba cái hồ rộng lớn, người ta gọi là hồ
Ba Bể. Còn cái nền nhà của hai mẹ con chính là một hòn đảo nhỏ giữa hồ.
(Theo Truyện dân gian Việt Nam)

Câu 1. Hai mẹ con người nông dân đã làm gì ...
 
Gửi ý kiến