Tản mạn về âm dương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Lê Phượng
Ngày gửi: 22h:46' 18-11-2008
Dung lượng: 62.5 KB
Số lượt tải: 203
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Lê Phượng
Ngày gửi: 22h:46' 18-11-2008
Dung lượng: 62.5 KB
Số lượt tải: 203
Số lượt thích:
0 người
TẢN MẠN VỀ ÂM DƯƠNG, CHẴN LẺ
Nguyễn Từ Thức
Ý niệm âm dương đã ăn sâu trong tâm thức người Việt từ ngàn xưa và được phản chiếu rất rõ nét trong ngôn ngữ. Từ ý niệm này các cặp từ đối lập về ý nghĩa được hình thành rất nhiều trong ngôn ngữ Việt.
Các từ như trời-đất, cha-mẹ, đực-cái, đêm-ngày, tối-sáng, nóng-lạnh,chẵn lẻ bao giờ cũng được ghép chung đôi để chỉ hai ý niệm tương phản nhưng lại có tánh cách bổ sung cho nhau. Cặp từ đối lập biểu trưng cho ý niệm âm dương rõ rệt nhứt là cặp từ "mẹ-cha". Mẹ là giống cái có tiềm năng sinh sản nên khi mang thai, tuy một mà hai, ứng với số chẵn. Do đó người xưa đã dùng ký hiệu hai gạch ngắn - - để biểu trưng cho âm. Cha là giống đực, không có khả năng sinh sản nhưmẹ nên phải chịu lẻ loi và ứng với số lẻ. Ký hiệu biểu trưng cho dương là một gạch dài _. Hai ký hiệu này về sau được dùng để vẽ các quẻ trong Bát quái. Ðất cũng được xem là âm vì đất có khả năng sinh sản như mẹ qua hình ảnh các vụ mùa và cây cỏ đâm chồi nẩy lộc. Ðất được biểu tượng bằng hình vuông như trong câu nói "trời tròn, đất vuông". Thật vậy, từ mặt đất nhìn lên trời như một vòng tròn cao xa vời vợi, uy nghi hùng dũng được đồng hoá với cha thuộc về dương. Ðêm lạnh thuộc âm, ngày nóng thuộc dương. Ðêm thì tối nên màu đen thuộc âm và ban ngày nắng đỏ nên màu đỏ thuộc âm. Phương bắc thường thuộc về miền lạnh như mùa đông nên phương đông và mùa đông thuộc âm. Trái lại mùa hè và phương nam thuộc dương. Hai biểu tượng vuông tròn để chỉ trời và đất đồng thời cũng chỉ ý niệm hài hoà có âm có dương. Khi nói "vuông tròn" là nói đền sự hoàn mỹ, hoàn thiện như trong phong tục cúng Tết với bánh dầy tròn, bánh chưng vuông, hay trong cách nói "mẹ tròn con vuông", hoặc như trong các câu ca dao như:
- Ba vuông sánh với bảy tròn,
Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu..
- Lạy trời cho đặng vuông tròn,
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.
Một lễ vật không thể thiếu trong tục cưới hỏi của dân ta là bánh su sê tức bánh phu thê (vợ chồng) đọc trại ra. Bánh su sê hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông bằng lá úp khít vào nhau chánh là biểu tượng cho nguyên lý âm dương, vuông tròn nói lên ý nghĩa cuộc sống lứa đôi vẹn toàn, hoàn mỹ, hoà hợp hài hoà giữa người với người cũng như giữa người và trời đất.
Những ý niệm cặp đôi đơn sơ đó của Việt tộc là căn nguyên của tư tưởng nhị nguyên mà sau này được dùng làm nền tảng cho Kinh Dịch. Tư tưởng nhị nguyên này đã để lại dấu vết trong sự tích Tiên Rồng là huyền sử mang tánh cách cặp đôi về hai vật tổ của Việt tộc là Tiên và Rồng. Tánh cách cặp đôi này cũng thấy được trong các huyền thoại dân gian khác như chuyện Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, chuyên Trầu cau, chuyện Trương Chi - Mỵ Nương.. Nếp tư duy cặp đôi này đã khiến cho người Việt khi nói đến cha liền nghĩ ngay đến mẹ:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Khi nói đến đất là ghép liền vào với trời, khi nói tới nước là ghép liền vào với non như đất trời, như non nước là những cụm từ mang ý nghĩa vượt lên ý nghĩa vật thề để chỉ một ý niệm trừu tượng hơn là quốc gia, là tổ quốc. Tiếng cặp đôi như vậy trong ngôn ngữ Việt có rất nhiều không thể kể ra hết được.
Ý niệm cặp đôi tức số 2 cũng được trừu tượng hoá thành một phạm trù triết học để nói lên quan niệm âm dương lưỡng hợp, chỉ sự biến hoá: tuy một mà hai, tuy hai mà một. Trong huyền sử Việt tộc có rất nhiều biểu tượng mang tánh cách lưỡng hợp này như trong mắt của hai ông Nghiêu Thuấn có đến 2 con ngươi dùng để nói lên quan niệm"trùng hoa", hai ông bà Phục Hi, Nữ Oa sống được trên đất lẫn dưới nước được gọi là "lưỡng thê", hoặc hai vật tổ Tiên và Rồng trong huyền sử về nguồn gốc của Việt tộc, một dân tộc biết sống dung hợp giữa âm và dương nên đã đạt được Ðạo, "nhất âm nhất dương chi vị đạo".
Tuy nhiên, ý niệm âm dương không phải lúc nào cũng được phân biệt rõ rệt như vậy mà từ lâu Việt tộc đã nhìn thấy rằng không có gì hoàn toàn âm, hoặc hoàn toàn dương, mà trong âm có dương và trong dương có âm. Ngôn ngữ đã thể hiện điều nhận thức này qua các cách nói như: "trong rủi
Nguyễn Từ Thức
Ý niệm âm dương đã ăn sâu trong tâm thức người Việt từ ngàn xưa và được phản chiếu rất rõ nét trong ngôn ngữ. Từ ý niệm này các cặp từ đối lập về ý nghĩa được hình thành rất nhiều trong ngôn ngữ Việt.
Các từ như trời-đất, cha-mẹ, đực-cái, đêm-ngày, tối-sáng, nóng-lạnh,chẵn lẻ bao giờ cũng được ghép chung đôi để chỉ hai ý niệm tương phản nhưng lại có tánh cách bổ sung cho nhau. Cặp từ đối lập biểu trưng cho ý niệm âm dương rõ rệt nhứt là cặp từ "mẹ-cha". Mẹ là giống cái có tiềm năng sinh sản nên khi mang thai, tuy một mà hai, ứng với số chẵn. Do đó người xưa đã dùng ký hiệu hai gạch ngắn - - để biểu trưng cho âm. Cha là giống đực, không có khả năng sinh sản nhưmẹ nên phải chịu lẻ loi và ứng với số lẻ. Ký hiệu biểu trưng cho dương là một gạch dài _. Hai ký hiệu này về sau được dùng để vẽ các quẻ trong Bát quái. Ðất cũng được xem là âm vì đất có khả năng sinh sản như mẹ qua hình ảnh các vụ mùa và cây cỏ đâm chồi nẩy lộc. Ðất được biểu tượng bằng hình vuông như trong câu nói "trời tròn, đất vuông". Thật vậy, từ mặt đất nhìn lên trời như một vòng tròn cao xa vời vợi, uy nghi hùng dũng được đồng hoá với cha thuộc về dương. Ðêm lạnh thuộc âm, ngày nóng thuộc dương. Ðêm thì tối nên màu đen thuộc âm và ban ngày nắng đỏ nên màu đỏ thuộc âm. Phương bắc thường thuộc về miền lạnh như mùa đông nên phương đông và mùa đông thuộc âm. Trái lại mùa hè và phương nam thuộc dương. Hai biểu tượng vuông tròn để chỉ trời và đất đồng thời cũng chỉ ý niệm hài hoà có âm có dương. Khi nói "vuông tròn" là nói đền sự hoàn mỹ, hoàn thiện như trong phong tục cúng Tết với bánh dầy tròn, bánh chưng vuông, hay trong cách nói "mẹ tròn con vuông", hoặc như trong các câu ca dao như:
- Ba vuông sánh với bảy tròn,
Ðời cha vinh hiển, đời con sang giàu..
- Lạy trời cho đặng vuông tròn,
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.
Một lễ vật không thể thiếu trong tục cưới hỏi của dân ta là bánh su sê tức bánh phu thê (vợ chồng) đọc trại ra. Bánh su sê hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông bằng lá úp khít vào nhau chánh là biểu tượng cho nguyên lý âm dương, vuông tròn nói lên ý nghĩa cuộc sống lứa đôi vẹn toàn, hoàn mỹ, hoà hợp hài hoà giữa người với người cũng như giữa người và trời đất.
Những ý niệm cặp đôi đơn sơ đó của Việt tộc là căn nguyên của tư tưởng nhị nguyên mà sau này được dùng làm nền tảng cho Kinh Dịch. Tư tưởng nhị nguyên này đã để lại dấu vết trong sự tích Tiên Rồng là huyền sử mang tánh cách cặp đôi về hai vật tổ của Việt tộc là Tiên và Rồng. Tánh cách cặp đôi này cũng thấy được trong các huyền thoại dân gian khác như chuyện Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, chuyên Trầu cau, chuyện Trương Chi - Mỵ Nương.. Nếp tư duy cặp đôi này đã khiến cho người Việt khi nói đến cha liền nghĩ ngay đến mẹ:
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Khi nói đến đất là ghép liền vào với trời, khi nói tới nước là ghép liền vào với non như đất trời, như non nước là những cụm từ mang ý nghĩa vượt lên ý nghĩa vật thề để chỉ một ý niệm trừu tượng hơn là quốc gia, là tổ quốc. Tiếng cặp đôi như vậy trong ngôn ngữ Việt có rất nhiều không thể kể ra hết được.
Ý niệm cặp đôi tức số 2 cũng được trừu tượng hoá thành một phạm trù triết học để nói lên quan niệm âm dương lưỡng hợp, chỉ sự biến hoá: tuy một mà hai, tuy hai mà một. Trong huyền sử Việt tộc có rất nhiều biểu tượng mang tánh cách lưỡng hợp này như trong mắt của hai ông Nghiêu Thuấn có đến 2 con ngươi dùng để nói lên quan niệm"trùng hoa", hai ông bà Phục Hi, Nữ Oa sống được trên đất lẫn dưới nước được gọi là "lưỡng thê", hoặc hai vật tổ Tiên và Rồng trong huyền sử về nguồn gốc của Việt tộc, một dân tộc biết sống dung hợp giữa âm và dương nên đã đạt được Ðạo, "nhất âm nhất dương chi vị đạo".
Tuy nhiên, ý niệm âm dương không phải lúc nào cũng được phân biệt rõ rệt như vậy mà từ lâu Việt tộc đã nhìn thấy rằng không có gì hoàn toàn âm, hoặc hoàn toàn dương, mà trong âm có dương và trong dương có âm. Ngôn ngữ đã thể hiện điều nhận thức này qua các cách nói như: "trong rủi
 








Các ý kiến mới nhất