Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tâm tư trong tù

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:06' 20-05-2008
Dung lượng: 66.5 KB
Số lượt tải: 96
Số lượt thích: 0 người
Chuyên đề 2
thơ tố hữu
I. Thân thế và sự nghiệp:
1. Thân thế: Tên thật Nguyễn Kim Thành sinh năm 1920 ở Huế. Sinh ra trong một gia đình nghèo không đỗ đạt gì, nhưng lại am hiểu rất sâu về thơ ca, rất ham thích sưu tầm ca dao tục ngữ. Chính cha ông là người đã dạy ông làm thơ từ nhỏ. Mẹ ông là phụ nữ Huế tiêu biểu rất giàu lòng thương con, thuộc nhiều ca dao tục ngữ, dân ca Huế. Chính hồn thơ của Tố Hữu sau này đã được hình thành từ tiếng ru của mẹ. Xứ Huế lại nổi tiếng là một vùng văn hóa phong phú và độc đáo với hai dòng văn hóa đan xen đó là Văn hóa cung đình và Văn hóa dân gian.
Năm 1938 ông đã được kết nạp vào Đảng. Đối với Tố Hữu thì cái thời điểm “Từ ấy” này hết sức quan trọng, vì bắt đầu từ đây sự nghiệp thơ ca của ông hoàn toàn thống nhất với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Đầu năm 1939 TH bị bắt giam và đã trải qua rất nhiều nhà giam ở Tây Nguyên ở Huế. Tháng 3 -1942 lại vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), vượt hàng trăm cây số đường rừng tìm ra Thanh Hoá để bắt liên lạc với Đảng.
2. Sự nghiệp sáng tác: Đối với TH thì thơ ca và CM là một do vậy sự nghiệp thơ ca của ông luôn thống nhất chặt chẽ đối với mỗi bước đi của CM. Trong nền thơ VN hiện đại, TH là một tác giả có vị trí đặc biệt. Là nhà thơ của cuộc CM theo khuynh hướng vô sản, thơ TH gắn liền với các giai đoạn, các mục tiêu đấu tranh CM và có sức cổ vũ to lớn với đông đảo quần chúng trong nhiều thập kỷ qua.
a. Từ ấy: Là tập hợp những sáng tác của TH từ 1937 – 1946. Tập thơ này bao gồm 3 phần Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng. Từ ấy biểu hiện tấm lòng yêu thương xúc động của người chiến sĩ CM trước những cảnh đời cũ đầy ngang trái bất công (Đi đi em, Tiếng hát sông Hương) Từ ấy ghi lại niềm vui bắt gặp lý tưởng cách mạng của người thanh niên xứ Huế , sự hòa nhập với cuộc đời chung của dân tộc (Từ ấy, Trăng trối). Từ ấy còn là tiếng hát cất lên từ xiềng xích ngục tù thể hiện tinh thần đấu tranh kiên cường của người chiến sĩ cộng sản (Tâm tư trong tù, Nhớ đồng, con cá chột nưa, Tiếng hát đi đày..) Tập thơ khép lại bằng một niềm vui lớn, niềm vui giải phóng, niềm vui tung phá xiềng xích ngục tù, niềm vui bay lên với sông núi tự do (Huế tháng Tám, Xuân nhân loại, Vui bất tuyệt. ) Những bài thơ của Từ ấy giàu sức sống mới mẻ, hấp dẫn. Người ta nói, nếu như Máu lửa và Xiềng xích là phần TH tự thể hiện bản thân thì đến phần Giải phóng ông lại nép mình đi để thể hiện cuộc đời mới. Như vậy ông đã đi từ tự thể hiện đến thể hiện, nói khác là đi từ cái tôi đến cái ta.
b. Việt Bắc:
- Bao gồm những bài thơ TH viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ 1947 đến 1954. Nội dung chủ yếu của tập thơ này bao gồm 2 phần:
+ Tái hiện lại cuộc kháng chiến của những con người kháng chiến ở Việt Bắc và niềm tự hào về đất nước anh hùng. Tiêu biểu nhất là các bài Bầm ơi, Cá nước, Lên Tây Bắc, Phá đường.
+ Thể hiện những tình cảm lớn như lòng yêu nước, tình quân dân và đăc biệt nhất là tình cảm quần chúng với lãnh tụ. Bài Sáng tháng năm có thể xem là bài thơ tiêu biểu nhất không phải chỉ của TH mà là của thơ ca Việt Nam viết về lãnh tụ.Tập thơ này cũng dựng được bức chân dung của những con người tham gia kháng chiến khá rõ nét (anh vệ quốc, anh bộ đội, em liên lạc, bà bầm, bà bủ…). Đặc biệt tập thơ này được khép lại bằng hai bản trường ca mang tầm vóc của những sử thi anh hùng, đó là Việt Bắc và Ta đi tới.
c. Gió lộng:
Bao gồm những sáng tác của TH từ 1955 – 1961. Đậy là thời kỳ đất nước ta bị chia cắt làm hai miền. MBắc thì hàn gắn vết thương chiến tranh rồi tiến hành xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa. Một nội dung rất lớn của tập thơ này là ngợi ca cuộc sống mới, con người mới trên miền Bắc (Trên miền Bắc mùa xuân, Mùa thu mới, Tiếng chổi tre, Bài ca xuân 61). Tiêu biểu nhất là bài Bài ca xuân 61. Trong khi đó nửa nước phía Nam chìm trong đau thương tang tóc. Vì thế một nội dung thứ 2 của tập thơ là thể hiện tấm lòng nhớ thương của người dân MBắc với đồng bào MNam (Mẹ Tơm).
d. Ra trận (62 – 71) và Máu và hoa (72 – 77)
Đây là 2 tập thơ TH viết trong khoảng từ 62 – 77. Đây là thời kỳ cả nước có chiến tranh . Bởi thế nội dung chủ yếu của 2 tập thơ này là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng CM của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Trong Ra trận TH đã dành hai bài thơ viết về Bác. Bài Bác ơi! được xem là một điếu văn bi hùng của thời đại, còn Theo chân Bác được xem là bả trường ca anh hùng tái hiện hình ảnh Bác Hồ trên những chặng đường lịch sử. Trong Máu và hoa chúng ta ghi nhận Nước non ngàn dặm
đ. Từ 1977 đến tận những ngày cuối đời: TH vẫn tiếp tục sáng tác và ông có thêm hai tập thơ nữa: “Một tiếng đờn” và “Ta với ta”. Khuynh hướng trữ tình chính trị với sự nhạy cảm trước những vấn đề thời sự tuy vẫn là nét khá ổn định, nhưng đã không còn là mạch cảm hứng duy nhất trong thơ ông.
II. Phong cách nghệ thuật
- Như trên đã nói, đối với TH thì thơ ca và CM là một, do vậy sự nghiệp thơ ca của ông luôn thống nhất chặt chẽ đối với mỗi bước đi của CM. Vì thế có thể coi nhà thơ TH như là một nhà thơ trữ tình chính trị. Ông có khả năng thơ hoá những vẫn đề chính trị khô khan “Rất chân thật chia 3 phần tươi đỏ…” . Ông nói chuyện chính trị mà cứ đắm say như các nhà thơ khác nói chuyện tình yêu.
Nét PCách này của TH được thể hiện ở những điểm cụ thể dưới đây:
- TH là nhà thơ trữ tình chính trị kiểu mới:
+ Chính ông chứ không phải ai khác đã tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật và tuyên truyền. Tác giả làm thơ để nói những vấn đề chính trị nhưng lại bằng cảm xúc cá nhân nên rất chân thành, tha thiết.
+ Có lẽ tất cả những vấn đề chính trị, những sự kiện lớn của đất nước, của lịch sử đều trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ TH. Thơ TH là thơ của tình cảm lớn, lẽ sống lớn, của CM, của cuộc sống CM.
+ Vấn đề bao trùm trong thơ TH là vấn đề lý tưởng cách mạng xuyên suốt từ tập thơ "Từ ấy" cho đến hầu hết các tập thơ sau này.
+ Với kiểu thơ trữ tình chính chị ấy, tác giả thường phát hiện và phản ánh vẻ đẹp con người từ phương diện lý tưởng cách mạng, nhiệm vụ CM. Chính yếu tố nhiệm vụ CM, lý tưởng CM là yếu tố phát sáng làm nên vẻ đẹp lấp lánh của con người trong thơ TH.
- Thơ Tố Hữu là thơ giàu chất sử thi:
Sự kết hợp các chủ đề chính trị với đề tài lịch sử – dân tộc làm cho thơ trữ tình Tố Hữu trở thành thơ chính trị sử thi. Bởi sử thi là sự nhìn nhận con người qua góc độ xã hội, dân tộc. Tác giả sử thi tư duy bằng dân tộc, xã hội, nhân loại, khác với các thể tài đời tư nhìn xã hội qua các nhân với tư cách là một con người các thể. Sử thi đòi hỏi các sự kiện lớn xâm chiếm toàn bộ cuộc sống đất nước, dân tộc. Sử thi đòi hỏi mỗi người phải đối xử với nhau như anh em, đồng bào, đồng chí bạn bè… Thơ Tố Hữu đã làm được tất cả những điều đó. Cảm hứng sử thi trong thơ Tố Hữu thể hiện rõ cả trong nội dung và hình thức. Nhà thơ hay hướng tới cái phi thường, cái lý tưởng. Trên cơ sở hiện thực mà LM hoá hiện thực. Chính vì hướng về lí tưởng nên hiện thực dù gian khổ khó khăn cũng được nhìn với hình ảnh của tương lai gợi lên niềm tin và hi vọng. Các hình hượng anh hùng trong thơ TH đã trở thành biểu tượng cao cả cho phẩm chất anh hùng cách mạng VN. Chị Trần Thị Lý, Bác Hồ kính yêu, Môrixơn, Anh Trỗi, Mẹ Suốt, Mẹ Tơm.
- Thơ Tố Hữu là thơ giàu chất dân tộc:
- Vốn là một thuộc tính chung của văn học, nhưng ở Th tính dân tộc đậm đà đến mức trở thành một bản sắc riêng không thể lẫn với bất kỳ 1 bài thơ nào khác. Về mặt thể loại TH thường hay làm thơ bằng những thể thơ dân tộc nhất là thể thơ lục bát. Chính vì vậy mà thơ TH rất gần với ca dao, dân ca. Thậm chí nhiều câu thơ của TH nhiều người đọc cứ nghĩ là ca dao. TH cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm. Điều này giải thích tại sao thơ TH dễ đọc dễ nhớ và nhờ thế thơ ông phổ cập rất sâu rộng.
III. Thi pháp thơ Tố Hữu
Quan niệm nghệ thuật về con người
a. Quan niệm thi pháp:
Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con người. Không thể lý giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể hiện ở trong đó. Bình luận về con người được thể hiện, miêu tả trong thơ là một nội dung của nghiên cứu thơ. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả. Phương diện quan trọng cơ bản hơn của việc bình thơ là tìm xem nhà thơ đã lý giải, quan niệm đối tượng đó như thế nào. Điều đó cho phép người nghiên cứu khẳng định tác giả đã phát hiện và thể hiện đối tượng ở một chiều sâu nào. Nhược điểm của nghiên cứu phê bình xã hội học là say sưa với chủ nghĩa đề tài, xem nhẹ vai trò của sáng tạo tư tưởng, nghệ thuật thẩm mĩ của tác giả.
Như vậy con người trong văn học không phải là con người có trong thực tế, mà là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mĩ và nghệ thuật. Chẳng những đề tài của văn học không ngừng đổi thay, mà quan niệm n
 
Gửi ý kiến