Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

tài nguyên rừng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Huy (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:03' 04-11-2008
Dung lượng: 173.5 KB
Số lượt tải: 72
Số lượt thích: 0 người
a) Hàm lượng chất rắn: Tổng lượng chất rắn là tính chất vật lý đặc trưng quan trọng của nước thải, bao gồm chất rắn nổi, chất rắn lơ lửng (hay huyền phù), chất rắn keo và chất rắn hoà tan.
Tổng lượng chất rắn được xác định là phần coi lại sau khi cho bay hơi mẫu nước thải trên bếp cách thuỷ, tiếp tục sấy khô ở nhiệt độ 1030C cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/l.
(Theo kích thước, chất rắn trong nước được chia như trong Bảng 10 - Phụ lục). [38], [40], [49].
b) Hàm lượng ô xy hoà tan DO (Disslved Oxygen): Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của nước thải là hàm lượng oxy hoà tan vì oxy không thể thiếu được đối với tất cả các cơ thể sống trên cạn cũng như dưới nước. Oxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lượng cho sự sinh trưởng, sinh sản và tái sản xuất.
Oxy là loại khí khó hoà tan và không tác dụng với nước về mặt hoá học. Độ hoà tan của oxy phụ thuộc vào các yếu tố như áp suất, nhiệt độ và các đặc tính khác của nước (thành phần hoá học, vi sinh, thuỷ sinh sống trong nước...). Khi thải các chất thải sử dụng oxy vào các nguồn nước, quá trình oxy hoá sẽ làm giảm nồng độ oxy hoà tan vào các nguồn nước này, thậm chí có thể đe doạ sự ống của các loài cá, cũng như các loài sống dưới nước.
Việc xác định thông số về hàm lượng oxy hoà tan có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì điều kiện hiếu khí của nước tự nhiên và quá trình phân huỷ hiếu khí trong quá trình XLNT. Mặt khác, hàm lượng oxy hoà tan còn là cơ sở của phép phân tích xác định nhu cầu oxy sinh hoá. [40], [49].
c) Nhu cầu oxy trong quá trình sinh hoá BOD (Biochemical Oxygen Demand): Nhu cầu oxy sinh hoá là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức độ ô nhiễm của nước thải đô thị và chất thải hữu cơ của công nghiệp và là thông số cơ bản để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước.
BOD là lượng oxy vi sinh vật tính bằng miligam hoặc bằng gam, dùng để oxy hoá các chất hữu cơ nhờ vi khuẩn hiếu khí ở điều kiện 200C, đơn vị tính là mg/l. Phương trình tổng quát của phản ứng:
Chất hữu cơ + O2 Vi khuẩn CO2 + H20 + tế bào mới + sản phẩm cố định.
BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất hữu cơ trong nước có thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật.
Trong thực tế người ta không thể xác định lượng oxy cần thiết để phân huỷ hoàn toàn chất hữu cơ vì như thế tốn quá nhiều thời gian (mất 20 ngày), mà chỉ xác định lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ 200C (ký hiệu BOD5). Vì lúc này đã có khoảng 70 ( 80% các chất hữu cơ đã bị oxy hoá. [40].
d) Nhu cầu oxy hoá học COD (Chemical Oxygen Demand): Chỉ số COD là lượng oxy cần thiết tính bằng gam hoặc miligam cho quá trình oxy hoá các chất hữu cơ trong mẫu nước thành cacbonic và nước.
Chỉ số COD biểu thị lượng chất hữu cơ có thể oxy hoá bằng hoá học, bao gồm cả lượng các chất hữu cơ không bị oxy hoá bằng vi sinh vật, do đó giá trị COD > BOD. Phép phân tích COD có ưu điểm là cho kết quả nhanh (hết khoảng 3h) nên đã khắc phục được nhược điểm của phép đo BOD. [40].
e) Các chất dinh dưỡng:
- Hàm lượng nitơ: Nitơ có thể tồn tại ở các dạng chính sau: Nitơ hữu cơ, amoniac, nitric, nitrat. Vì nitơ là nguyên tố chính xây dựng tế bào tổng hợp protein nên một số liệu về chỉ tiêu nitơ sẽ rất cần thiết để xác định khả năng có thể xử lý một loại nước thải nào đó bằng các quá trình sinh học. Trong trường hợp không đủ nitơ, có thể bổ sung thêm để chất thải đó trở nên có khả năng xử lý bằng phương pháp sinh học.
- Hàm lượng phốt pho: Ngày nay người ta quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm soát hàm lượng các hợp chất phốt pho trong NTSH và NTCN thải vào nguồn nước. Vì nguyên tố này là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự phát triển “bùng nổ” của tảo ở một số nguồn nước mặt.
Phốt pho trong nước thải thường tồn tại ở dạng orthophotphat (PO3-4, HPO2-4, H2PO2-4, H3PO4) hay polyphotphat {Na3(PO3)6 và photphat hữu cơ.
- Hàm lượng Sunfat: Ion sunfat thường có trong nước cấp cho sinh hoạt cũng như trong nước thải. Lưu huỳnh cũng là một nguyên tố cần thiết cho tổng hợp protein và được giải phóng ra trong quá trình phân
 
Gửi ý kiến