TAI LIEU ON THI TN THPT LICH SU

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Trọng Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:30' 02-01-2009
Dung lượng: 412.0 KB
Số lượt tải: 266
Nguồn:
Người gửi: Phan Trọng Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:30' 02-01-2009
Dung lượng: 412.0 KB
Số lượt tải: 266
Số lượt thích:
0 người
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NƯỚC TA
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT
ĐẾN ĐẦU NĂM 1930 (1919 - 1930)
* Chủ đề này cần nắm vững:
-Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương đã diễn ra như thế nào và kết quả của nó.
-Ảnh hưởng của cuộc khai thác đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam. Vai trò của mỗi giai cấp trong xã hội.
-Khả năng CM của các GC, tầng lớp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh.
1-Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương (1919 - 1929):
Phần này cần nắm vững 3 khía cạnh chính:
-Bối cảnh (Nguyên nhân) của cuộc khai thác.
-Nội dung của cuộc khai thác.
-Kết quả của cuộc khai thác.
-Tác động của cuộc khai thác đối với xã hội Việt Nam.
a-Bối cảnh (Nguyên nhân):
_ Sau chiến tranh thế giới I, Pháp tuy là nước thắng trận, nhưng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế bị kiệt quệ, sa sút.
_ Để bù đắp thiệt hại trong chiến tranh, để bóc lột nhiều hơn và khôi phục địa vị kinh tế, chính trị của mình trong thế giới tư bản, một mặt Pháp tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, mặt khác chúng đẩy mạnh khai thác các thuộc địa, trong đó Đông Dương được chúng xem là một thuộc địa "quan trong trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất".
b-Nội dung khai thác:
_ Cuộc khai thác thuộc địa lần II diễn ra từ 1919 đến 1929.
_ So với cuộc khai thác thuộc địa lần I, cuộc khai thác lần này lớn hơn nhiều cả về quy mô và mức độ; từ 1924 - 1929, số vốn đầu tư vào Đông Dương tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1919), (4 tỷ Frăng).
* Kinh tế:
_ Hai ngành chúng đầu tư nhiều nhất là công nghiệp và nông nghiệp:
+ Trong nông nghiệp, chú ý đến việc tước đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, trong đó chủ yếu trồng lúa và trồng cây cao su. Diện tích trồng cao su tăng từ 15.000 ha (1918) lên 120.000 ha (1930), nhiều công ty cao su lớn ra đời như Phú Riềng, Đất Đỏ, Mitsơlanh...
+ Trong công nghiệp, chú ý khai khoáng, nhất là khai thác than. Nhiều công ty than mới ra đời như Hạ Long, Đông Triều, Uông Bí... ngoài ra chúng chú ý một số ngành công nghiệp chế biến (Sợi, rượu, diêm, gạo...) để thu nhiều lợi nhuận.
_ GTVT: Mở mang hệ thống GTVT cả về đường sắt lẫn đường bộ và đường biển, để phục vụ cho công cuộc khai thác.
_ Thương nghiệp: Thiết lập một hàng rào thuế quan nghiêm ngặt để ưu tiên hàng Pháp. Đánh thuế nặng vào hàng ngoại nhập, nhưng nhập nhiều hàng Pháp miễn thuế.
_ Tài chính: Tổng số vốn Pháp đầu tư từ 1924 - 1929 vào Đông Dương tăng gấp 6 lần vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1919). Chúng lập ra ngân hàng Đông Dương để điều hành vốn đầu tư, chỉ huy các ngành kinh tế ở Đông Dương.
( Sở dĩ chúng chỉ đầu tư vào những ngành này vì vốn bỏ ra ít nhưng lợi nhuận nhiều và nhanh. Đặc biệt chúng đầu tư nhiều nhất vào đồn điền cao su và khai thác than, vì cao su và than là những mặt hàng mà cả Pháp và các nước khác đang rất cần. Tất cả những chính sách kinh tế đó đều phục vụ cho việc khai thác và bóc lột của Pháp.
* Chính trị:
_ Thiết lập một bộ máy cai trị hà khắc, chuyên chế triệt để, chia để trị: Chia Việt Nam làm 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo… mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay người Pháp, vua quan Nam triều chỉ là bù nhìn.
_ Lợi dụng triệt để bộ máy cường hào địa phương để thực hiện áp bức, thống trị dễ dàng hơn.
* Văn hóa – GD: Thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa. Chỉ mở một số trường đào tạo công chức và công nhân lành nghề phục vụ công cuộc khai thác, tăng cường đàn áp…
c-Kết quả và tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai:
* Kinh tế:
_ TB Pháp nhất là TB tài chính thu được những món lợi kết sù.
_ Ngân hàng Đông Dương từ 1912 - 1930 vốn tăng gấp 3.
_ Quan hệ sản xuất TBCN trong một chừng mực nhất định đã được du nhập vào Việt Nam, xen kẽ với quan hệ sản
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NƯỚC TA
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ NHẤT
ĐẾN ĐẦU NĂM 1930 (1919 - 1930)
* Chủ đề này cần nắm vững:
-Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương đã diễn ra như thế nào và kết quả của nó.
-Ảnh hưởng của cuộc khai thác đối với sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam. Vai trò của mỗi giai cấp trong xã hội.
-Khả năng CM của các GC, tầng lớp trong xã hội Việt Nam sau chiến tranh.
1-Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Đông Dương (1919 - 1929):
Phần này cần nắm vững 3 khía cạnh chính:
-Bối cảnh (Nguyên nhân) của cuộc khai thác.
-Nội dung của cuộc khai thác.
-Kết quả của cuộc khai thác.
-Tác động của cuộc khai thác đối với xã hội Việt Nam.
a-Bối cảnh (Nguyên nhân):
_ Sau chiến tranh thế giới I, Pháp tuy là nước thắng trận, nhưng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế bị kiệt quệ, sa sút.
_ Để bù đắp thiệt hại trong chiến tranh, để bóc lột nhiều hơn và khôi phục địa vị kinh tế, chính trị của mình trong thế giới tư bản, một mặt Pháp tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, mặt khác chúng đẩy mạnh khai thác các thuộc địa, trong đó Đông Dương được chúng xem là một thuộc địa "quan trong trọng nhất, phát triển nhất và giàu có nhất".
b-Nội dung khai thác:
_ Cuộc khai thác thuộc địa lần II diễn ra từ 1919 đến 1929.
_ So với cuộc khai thác thuộc địa lần I, cuộc khai thác lần này lớn hơn nhiều cả về quy mô và mức độ; từ 1924 - 1929, số vốn đầu tư vào Đông Dương tăng gấp 6 lần so với 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1919), (4 tỷ Frăng).
* Kinh tế:
_ Hai ngành chúng đầu tư nhiều nhất là công nghiệp và nông nghiệp:
+ Trong nông nghiệp, chú ý đến việc tước đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền, trong đó chủ yếu trồng lúa và trồng cây cao su. Diện tích trồng cao su tăng từ 15.000 ha (1918) lên 120.000 ha (1930), nhiều công ty cao su lớn ra đời như Phú Riềng, Đất Đỏ, Mitsơlanh...
+ Trong công nghiệp, chú ý khai khoáng, nhất là khai thác than. Nhiều công ty than mới ra đời như Hạ Long, Đông Triều, Uông Bí... ngoài ra chúng chú ý một số ngành công nghiệp chế biến (Sợi, rượu, diêm, gạo...) để thu nhiều lợi nhuận.
_ GTVT: Mở mang hệ thống GTVT cả về đường sắt lẫn đường bộ và đường biển, để phục vụ cho công cuộc khai thác.
_ Thương nghiệp: Thiết lập một hàng rào thuế quan nghiêm ngặt để ưu tiên hàng Pháp. Đánh thuế nặng vào hàng ngoại nhập, nhưng nhập nhiều hàng Pháp miễn thuế.
_ Tài chính: Tổng số vốn Pháp đầu tư từ 1924 - 1929 vào Đông Dương tăng gấp 6 lần vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1919). Chúng lập ra ngân hàng Đông Dương để điều hành vốn đầu tư, chỉ huy các ngành kinh tế ở Đông Dương.
( Sở dĩ chúng chỉ đầu tư vào những ngành này vì vốn bỏ ra ít nhưng lợi nhuận nhiều và nhanh. Đặc biệt chúng đầu tư nhiều nhất vào đồn điền cao su và khai thác than, vì cao su và than là những mặt hàng mà cả Pháp và các nước khác đang rất cần. Tất cả những chính sách kinh tế đó đều phục vụ cho việc khai thác và bóc lột của Pháp.
* Chính trị:
_ Thiết lập một bộ máy cai trị hà khắc, chuyên chế triệt để, chia để trị: Chia Việt Nam làm 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo… mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay người Pháp, vua quan Nam triều chỉ là bù nhìn.
_ Lợi dụng triệt để bộ máy cường hào địa phương để thực hiện áp bức, thống trị dễ dàng hơn.
* Văn hóa – GD: Thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa. Chỉ mở một số trường đào tạo công chức và công nhân lành nghề phục vụ công cuộc khai thác, tăng cường đàn áp…
c-Kết quả và tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai:
* Kinh tế:
_ TB Pháp nhất là TB tài chính thu được những món lợi kết sù.
_ Ngân hàng Đông Dương từ 1912 - 1930 vốn tăng gấp 3.
_ Quan hệ sản xuất TBCN trong một chừng mực nhất định đã được du nhập vào Việt Nam, xen kẽ với quan hệ sản
 









Các ý kiến mới nhất