Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Tài liệu GDĐP Tp. HCM

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: UBND TP. HCM. Sở GD và ĐT
Người gửi: Vũ Thị Lụa
Ngày gửi: 11h:20' 02-10-2025
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
23

áng

01 – 2

0

Chịu trách nhiệm xuất bản

Tổ chức và chịu trách nhiệm bản thảo

Biên tập nội dung:

Trình bày bìa:

Thiết kế sách:

Minh hoạ:

Sửa bản in:

Chế bản:

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: ....................
In .................... bản (QĐ .................... ), khổ 19 x 26,5 cm.
Đơn vị in : ....................
Địa chỉ : ....................
Số ĐKXB: ....................
Số QĐXB : .................... ngày .................... tháng .................... năm 20...
In xong và nộp lưu chiểu tháng .................... năm 20...

LỚP 7

UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGUYỄN BẢO QUỐC (Tổng Chủ biên)
LÊ DUY TÂN (Chủ biên)
CAO THỊ TÚ ANH – TRẦN THANH PHONG – PHẠM NGỌC MAI
TRẦN QUANG MINH – NGUYỄN CÔNG PHÚC KHÁNH – CAO THỊ NGUYỆT
HUỲNH QUANG THỤC UYÊN – HUỲNH THỊ THÚY HẰNG – HUỲNH VIỆT HÙNG

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG

THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Lớp 7

1

MỤC LỤC
Lời nói đầu........................................................................................................................................3
Hướng dẫn sử dụng tài liệu........................................................................................................4
Chủ đề 1
MỘT SỐ TRANG PHỤC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH........................................................5
Chủ đề 2
SẮC MÀU NGÔN NGỮ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH...................................................... 19
Chủ đề 3
MỘT SỐ TÍNH CÁCH TỐT ĐẸP
CỦA CON NGƯỜI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.............................................................. 25
Chủ đề 4
VĂN HOÁ ẨM THỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.............................................................. 35
Chủ đề 5
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.................................................. 42
Chủ đề 6
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.................................................................................................. 53
Chủ đề 7
TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH................................................................................................... 61
Chủ đề 8
HIỂU MÌNH, HIỂU NGHỀ, SÁNG TƯƠNG LAI....................................................................... 67
Bảng tra cứu thuật ngữ............................................................................................................. 80

2

Lời nói đầu
Các em học sinh thân mến!
Tiếp nối Tài liệu giáo dục địa phương Thành phố Hồ Chí Minh lớp 6,
Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn Tài liệu
giáo dục địa phương Thành phố Hồ Chí Minh lớp 7 nhằm giúp các em
tiếp tục tìm hiểu, trải nghiệm, khám phá những những vấn đề về địa lí,
lịch sử, văn hoá,… của Thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung tài liệu gồm 8 chủ đề, gắn với các đặc trưng về địa lí,
lịch sử, văn hoá,… của Thành phố Hồ Chí Minh và đảm bảo tính kế thừa
các nội dung của Tài liệu giáo dục địa phương Thành phố Hồ Chí Minh
lớp 6. Các chủ đề vẫn được thiết kế theo các hoạt động Khởi động,
Khám phá, Luyện tập và Vận dụng nhằm tạo điều kiện giúp các em
phát huy được tính tích cực trong quá trình học tập, đồng thời hỗ trợ
các em phát triển năng lực tự học của bản thân.
Chúng tôi hi vọng rằng, Tài liệu giáo dục địa phương Thành phố
Hồ Chí Minh lớp 7 sẽ đồng hành cùng các em học sinh trên con đường
chinh phục tri thức, rèn luyện các kĩ năng, bồi dưỡng tình yêu
quê hương và tiếp tục mang đến cho các em những trải nghiệm thú vị
và bổ ích.


BAN BIÊN SOẠN

3

HÖÔÙNG DAÃN SÖÛ DUÏNG TAØI LIEÄU

MỤC TIÊU

Mục tiêu

Những phẩm chất, năng lực mà các em cần
đạt được sau mỗi chủ đề.

Những kiến thức, phẩm chất, năng lực và thái độ mà
các em cần đạt được sau mỗi chủ đề hoặc bài học.
Giúp các em huy động kiến thức nền, tạo
Khởi động
hứng thú để dẫn dắt vào chủ đề mới.

KHỞI ĐỘNG
Giúpmâu
cácthuẫn
em thông
qua
Tạo được tình huống
trong tư
duyhoạt
và sựđộng
hứng học
thú tập
Khám
phá
để
hình
thành
tri
thức
mới.
trong tìm hiểu kiến thức mới.

Giúp các em luyện tập, thực hành những điều
KHÁM
Luyện
tập PHÁ vừa khám phá được.

Giúp các em tự chiếm lĩnh những kiến thức thông qua các chuỗi
hoạt động dạy học và giáo dục.
Giúp các em vận dụng những tri thức đã học
Vận dụng
vào thực tiễn cuộc sống.

LUYỆN TẬP
em được
tiếp
cận những
kiến thức
Giúp các em tậpGiúp
làm các
và hiểu
rõ hơn
những
điều vừa
nâng
cao

mở
rộng
liên
quan
đến
bài học.
Mở
rộng
khám phá được.

VẬN DỤNG

Giúp các em vận dụng những nội dung đã học vào thực tiễn.

4

CHỦ ĐỀ

1

MỘT SỐ TRANG PHỤC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỤC TIÊU
– Liệt kê được một số trang phục thường dùng và trang phục mặc trong ngày lễ
của người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Trình bày được đặc điểm của một trang phục tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Thực hiện được một số việc làm phù hợp để góp phần giữ gìn và phát huy vẻ đẹp của
các trang phục dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh.

KHỞI ĐỘNG

Hình 1

Hình 2

Hình 3

(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )

5

Hình 4

Hình 5

(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )

Xem các hình ảnh trên và thực hiện các yêu cầu sau:
– Hãy gọi đúng tên của các trang phục trong các hình ảnh trên.
– Hãy chia sẻ với các bạn cùng lớp những hiểu biết của em về các loại trang phục trên
và thực hiện bảng dưới đây.
W (Want)

L (Learned)

Điều em muốn biết
về các loại trang phục trên.

Điều em đã học được
về các loại trang phục trên
sau khi chia sẻ với
các bạn cùng lớp.

?

?

KHÁM PHÁ
I. ÁO DÀI – TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
(1)
Áo dài từ lâu đã là trang phục truyền thống và là nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Việt
Nam. Trải qua từng thời kì phát triển của lịch sử, áo dài luôn không ngừng biến đổi nhưng
vẫn đảm bảo tôn lên được nét đẹp dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam.

6

(2)
Chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kì phát triển,
ở mỗi thời kì đều có những nét đặc trưng riêng. Nguồn gốc của chiếc áo dài đầu tiên
xuất hiện vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765) khi có những cải cách về trang
phục. Sự xuất hiện của áo dài bắt nguồn từ chiếc áo giao lĩnh hay đối lĩnh (1740) là kiểu
áo sơ khai nhất, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài chấm gót. Thân áo
được may bằng bốn tấm vải mặc cùng thắt lưng màu và váy đen.
Sau đó, để thuận tiện hơn trong lao động sản xuất của người phụ nữ, chiếc áo giao lĩnh
được may rời hai tà trước để buộc vào nhau, hai tà sau may liền lại thành vạt áo. Áo không
có khuy nên bên trong phải mặc thêm chiếc yếm cổ xoay, kết hợp với dây lưng nhỏ, áo
cánh khoác và váy bên ngoài.
Đến thời vua Gia Long (đầu thế kỉ XIX), áo ngũ thân xuất hiện trên cơ sở của áo tứ thân.
Áo có bốn vạt được may thành hai tà như áo dài, ở tà trước có thêm một vạt áo như lớp
lót kín đáo chính là vạt áo thứ năm. Kiểu áo này được may theo dáng rộng, có cổ và rất
thịnh hành đến thế kỉ XX.
Năm 1939, áo dài Lemur ra đời và được cải biến từ áo ngũ thân do hoạ sĩ Cát
Tường sáng tạo. Áo chỉ có hai vạt (trước và sau), vạt trước dài chấm đất. Áo được
may ôm sát cơ thể, tay thẳng và có viền nhỏ. Cổ áo có các dạng như cổ tròn, cổ lá
sen, cổ nhún bèo, cổ khoét rộng hoặc để hở cổ và có viền đăng ten. Vai áo may bồng
hoặc không có tay. Khuy áo được mở sang bên sườn để tăng thêm vẻ đẹp nữ tính.
Áo dài Lemur được mặc chung với quần hoa cài khuy bên hông hoặc có vải buộc.
Ống quần bó sát từ hông đến đầu gối rồi từ đó xuống tới gấu thì xoè ra như hình cái loa.
Gam màu tổng thể của áo dài Lemur dịu nhẹ, thanh nhã, tươi sáng, thẩm mĩ và mang nét
tinh tế của người châu Âu. Kiểu áo này thịnh hành đến năm 1943 thì bị lãng quên.
Đến năm 1950, áo dài Lê Phổ xuất hiện. Đây cũng là một sự kết hợp mới từ áo dài
tứ thân, biến thể từ áo dài Lemur của hoạ sĩ Lê Phổ. Áo được may ôm sát cơ thể, mặc cùng
quần ống loe màu trắng. Vạt áo dài, tay không phồng, cổ kín, nút bên phải áo. Đây là kiểu
áo dài được phụ nữ Việt Nam yêu thích trong suốt thời gian dài, được coi là “vật tổ” của
các áo dài sau này.
Đến năm 1960, áo dài Raglan (còn gọi là giắc lăng) xuất hiện do nhà may Dung ở
Đa Kao, Sài Gòn sáng tạo ra. Áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo xuống một
góc 450 giúp người mặc có cảm giác thoải mái hơn. Hai tà nối với nhau bằng hàng nút
bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong cách cho áo dài
Việt Nam sau này.

7

(3)
Ngày nay, áo dài trở thành nét văn hoá của người Việt Nam nói chung và của người
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Những người yêu mến mảnh đất này dần yêu hơn,
thương hơn cái nét, cái dáng của tà áo dài thướt tha. Áo dài Thành phố Hồ Chí Minh mang
nét đẹp đồng điệu với áo dài mọi miền đất nước nhưng có sự cách tân mạnh mẽ hơn để
phù hợp với lối sống năng động ở Thành phố này.
Tà áo dài được cách điệu nhiều, rộng dài chấm gót, đường eo mượt không còn thắt eo
nhấn sâu. Tà áo dài còn được làm thành nhiều lớp, bay bổng tựa như váy đầm. Chất liệu
áo dài cũng đa dạng với các loại như ren, gấm,… Dáng áo gần như ôm sát với phần trên
cơ thể. Hàng cúc bấm, cúc cài bên cổ áo và mạn sườn cũng được cách tân bằng nhiều
cách như mở khoá kéo sau lưng, bên hông,…
Áo dài được sử dụng phổ biến trong các dịp của đời sống hàng ngày như đến trường,
đi lễ chùa, đến giáo đường, tham gia các buổi tiệc,... Câu hát “Tà áo em… Tung bay tà áo
tung bay… Quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu…” trong tác phẩm Một thoáng
quê hương của nhạc sĩ Từ Huy và Thanh Tùng càng khiến người dân Thành phố Hồ Chí Minh
thêm tự hào về chiếc áo dài. Tất cả đã nói lên được giá trị của chiếc áo dài truyền thống
trong đời sống tinh thần của người dân Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay và cả mai sau.
(4)
Chiếc áo dài truyền thống Việt Nam trải qua các thời kì và có sự biến đổi với nhiều kiểu
dáng, chất liệu, từ hiện đại đến phá cách. Áo dài còn được biến chuyển thành áo cưới,
áo cách tân,... Nhưng dù thế nào, chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam
vẫn giữ được nét uyển chuyển, kín đáo mà không trang phục nào có được.
?

CÂU HỎI
– Dựa vào đoạn (2), em hãy cho biết:
 Chiếc áo dài Việt Nam đã trải qua những thời kì phát triển nào?
 Hãy vẽ sơ đồ hệ thống quá trình hình thành và phát triển của áo dài.
– Dựa vào đoạn (3), em hãy cho biết:

 Áo dài của Thành phố Hồ Chí Minh có những sự cách tân như thế nào so với áo dài
truyền thống?
 Áo dài được người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và người dân Việt Nam
nói chung mặc trong những hoàn cảnh nào? Từ đó, hãy nêu nhận xét của em về giá trị của
chiếc áo dài trong đời sống của người dân Việt Nam.

8

 Áo dài Việt Nam qua các thời kì

Hình 6. Áo giao lãnh
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)

Hình 7. Áo tứ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)

Áo giao lãnh (1744) còn gọi là áo đối
lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ
tay rộng, thân dài chấm gót. Đây là kiểu
dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam.

Áo tứ thân ra đời vào thế kỉ XIX (thời
vua Gia Long) nhằm tạo sự cách biệt sang
trọng giữa tầng lớp quý tộc và nông dân
trong xã hội thời bấy giờ. Áo có 4 vạt được
may như áo dài.

Áo ngũ thân là kiểu áo truyền thống của phụ nữ
miền Bắc, áo gồm năm thân, năm tà (hai tà sau, hai
tà trước và một tà ẩn dưới hai tà trước). Vạt cả (vạt
bên trái, nằm ở ngoài) rộng gấp đôi vạt con (vạt bên
phải, nằm ở trong). Hai vạt nối nhau nhờ cổ áo cao
2 – 3cm được cài kín bằng năm khuy. Khi mặc,
phụ nữ thường chỉ cài bốn khuy, để hở khuy cổ
nhằm khoe cổ cao ba ngấn. Người giàu thường mặc
áo ngũ thân để phân biệt với tầng lớp nghèo hơn
mặc áo tứ thân.
Hình 8. Áo ngũ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)

9

Hình 9. Áo dài Lemur Cát Tường
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)

Áo dài Lemur được cải biến từ
áo ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường
thiết kế năm 1939 và thịnh hành
đến năm 1943. Áo có 2 vạt, tà trước
chấm đất, tay thẳng và có viền nhỏ,
khuy áo được mở sang bên sườn.
Dù kiểu áo này thịnh hành không
lâu nhưng đã thể hiện sự thay đổi
tư duy về chiếc áo dài Việt Nam của
người dân lúc bấy giờ.

Hình 10. Áo dài Lemur
(Nguồn: Báo Phong Hoá)

10

Áo dài Lê Phổ xuất hiện từ những năm 1945 – 1950, cách tân từ áo dài Lemur
của hoạ sĩ Cát Tường. Áo dài Lê Phổ đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân,
ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai
vạt dưới được tự do bay lượn. Áo dài Lê Phổ đã khắc phục những nhược điểm của
các kiểu áo trước đó. Phần cổ áo cao của áo dài Lê Phổ được xem là mẫu nguyên
gốc của thiết kế áo dài Việt Nam hiện nay.

Hình 11. Tranh kí hoạ cô gái
với chiếc áo dài Lê Phổ
của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân
(Nguồn: Ngọc Mai)

Hình 12. Tranh thiếu nữ của hoạ
sĩ Lê Phổ
(Nguồn: Ngọc Mai)

Hình 13. Hoạ sĩ Lê Thị Lựu
trong trang phục áo dài Lê Phổ
(Nguồn: Ngọc Mai)

Áo dài Raglan xuất hiện vào những năm
1960 do nhà may Dung ở Đakao (Sài Gòn)
sáng tạo ra với điểm khác biệt là cách nối tay
raglan vào áo dài. Tay áo được nối từ cổ chéo
xuống một góc khoảng 45o tới nách. Tà trước
và tà sau nối với nhau qua hàng nút bấm từ
cổ xuống nách và dọc theo một bên hông.
Áo dài Raglan đã góp phần định hình phong
cách chiếc áo dài Việt Nam ở cả những thiết kế
cách tân sau này.
Hình 14. Áo dài Raglan
(Nguồn: Ngọc Mai)

11

Hình 15. Áo dài bà Nhu
(Nguồn: Ngọc Mai)

Hình 16. Áo dài chiết eo
(Nguồn: Ngọc Mai)

Kiểu áo dài này được gọi
là áo dài bà Nhu, thiết kế
và cải tiến vào thập niên 60
của thế kỉ XX. Phần cổ được
khoét rộng, gọi là áo cổ
thuyền. Phần eo được chiết
thon gọn.

Những năm 1960 – 1970, mẫu áo dài chiết eo
ra đời, tôn phần eo, ngực, tà áo may rộng, gấu áo
thẳng, dài đến mắt cá chân.

Trải qua nhiều biến đổi, mẫu áo dài hiện đại
được phát triển trên cơ sở trang phục truyền thống
từ áo dài Lê Phổ. Trang phục áo dài đã tôn lên
vẻ đẹp quý phái của phụ nữ Việt Nam.

Hình 17. Áo dài hiện đại
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM)

12

II. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER

Hình 18. Trang phục lễ hội của người Khmer
(Nguồn: thanhnien.vn)

Đối với người Khmer, trang phục truyền thống không chỉ tạo nên vẻ đẹp hình thể mà
còn là niềm tin, sự tự tôn về mĩ thuật, tín ngưỡng và tâm linh. Cho dù trang phục hiện đại
ngày càng phong phú và đa dạng đến đâu thì trang phục truyền thống của người phụ nữ
Khmer vẫn luôn giữ được những nét đặc trưng, mang đậm bản sắc văn hoá riêng của
dân tộc mình. Trang phục truyền thống của người phụ nữ Khmer khá cầu kì và rực rỡ, có
sự kết hợp hài hoà giữa áo tầm vông (còn gọi là áo cổ vòng), vận sà rông và sbay(1) cùng
với những hạt cườm, hạt kim sa lấp lánh được đính trên nền hoa văn tinh xảo.
Ngay từ cuối thế kỉ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cộng đồng dân tộc
sinh sống. Trong đó, người Khmer đã có mặt từ rất sớm. Mặc dù có sự cộng cư lâu đời với
người Việt và người Hoa nhưng người Khmer ngày nay vẫn bảo tồn được nhiều yếu tố
văn hoá của dân tộc mình. Đặc biệt là những bộ trang phục truyền thống khá cầu kì,
rực rỡ, tinh tế và có nét độc đáo riêng.
Để tạo nên một chiếc áo tầm vông trong bộ trang phục truyền thống của người Khmer
phải trải qua nhiều quá trình như trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm màu, dệt lụa,… Tất cả các
công đoạn này đều làm thủ công, thể hiện tâm huyết của người thợ cần mẫn, yêu nghề,
yêu dân tộc.
Những tư liệu trước đây viết về người Khmer ở Nam Bộ cho thấy họ từng biết trồng
dâu, nuôi tằm, dệt lụa và dệt vải. Tiếc thay, nghề dệt của người Khmer đã bị mai một.
Sbay: Một loại khăn lụa xanh mềm mại, cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải, tạo nên bộ trang phục
truyền thống của phụ nữ Khmer Nam Bộ.

(1)

13

Cho đến trước năm 1975, nghề dệt của người Khmer hầu như thất truyền. Nghề dệt lụa ở
những vùng có người Khmer sinh sống thuộc các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long xưa hay nghề
dệt vải, nhuộm mặc nưa ở tỉnh An Giang nay cũng không còn,… Nơi còn sót lại nghề dệt
cổ truyền của người Khmer là sóc Tà Kốt, phum Tropeng Tchau (có nghĩa là ao sâu) thuộc
xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, cách huyện lị 5 km trên đường từ huyện Tịnh Biên đi đến
huyện Tri Tôn.
Trang phục truyền thống của người Khmer không chỉ phong phú về màu sắc, hoạ tiết,
hoa văn mà còn được thiết kế theo nhiều kiểu dáng. Chiếc áo vêng(1) mang màu trắng
hoặc vàng làm chủ đạo được dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với các loại hoa
văn khác nhau. Màu vàng được ưa dùng vì đây là màu sắc gợi nên không khí hội hè và đây
cũng là màu sắc thường gặp trong trang trí kiến trúc tôn giáo truyền thống. Loại áo này
thường có đặc điểm dài qua gối, thân rộng, xẻ ngực, tay áo chật, hai bên sườn ghép thêm
bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến gấu áo.
Sà rông là một mảnh thổ cẩm rực rỡ trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn, trong đó hình
trám là hoa văn chủ đạo, khi mặc thì cuốn lại che nửa người phía dưới. Kích thước của
sà rông rộng khoảng 1 m, dài khoảng 3,5 m. Vào mỗi dịp lễ tết, lên chùa lễ Phật, người Khmer
mặc sà rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp. Để tôn thêm nét dịu dàng, uyển chuyển và đầy
nữ tính, không thể thiếu sbay trong bộ lễ phục này. Mỗi khi xuất hiện hay trình diễn,
nét đặc trưng của trang phục luôn thu hút mọi ánh nhìn bởi sự cầu kì, tỉ mỉ, màu sắc
rực rỡ, hoa văn trang trí tinh xảo được điểm xuyết, nhấn nhá bằng những hạt cườm,
kim sa lấp lánh,… Trang phục truyền thống của phụ nữ Khmer e ấp, luôn mang theo
những thông điệp tươi tắn. Cách tạo hình và mô-típ hoa văn trên váy và cách ăn mặc là
nét đặc trưng độc đáo ở trang phục của người Khmer.
Trước đây, phụ nữ Khmer Nam Bộ thường mặc xăm pốt (váy kín). Xăm pốt được mặc
theo cách quấn quanh thân từ hông và vắt về một phía, gấu váy cao trên cổ chân. Đây là
loại váy tơ tằm dệt với nhiều hoạ tiết. Riêng chiếc váy cổ truyền, có tính điển hình nhất
của dân tộc Khmer là chiếc xăm pốt chân khen (Sămpết chôn Kpal). Đó là tấm vải rộng
quấn quanh thân từ hông xuống ngang đùi, phần vải phía sau kéo luồn giữa hai chân
vắt ra phía trước rồi giắt lại ở hông thành một loại như chiếc quần phồng ngắn.
Hiện nay, trang phục thường ngày của phụ nữ Khmer giống người Kinh ở địa phương
và tùy theo độ tuổi mà họ ăn mặc khác nhau. Người trẻ mặc quần lụa đen, áo bà ba hoặc
quần âu, áo sơ mi. Người lớn tuổi mặc quần áo bà ba đen với chiếc khăn rằn vắt vai,
đội đầu hay quàng cổ. Trang phục nam của người Khmer rất đơn giản, họ chỉ mặc sà rông
và ở trần. Khi ra đường, họ sẽ mặc áo bà ba đen giống như những người nông dân Kinh.
Vì thế, trang phục truyền thống của người Khmer vẫn được bảo tồn qua nhiều thế hệ.
Ngày hội văn hoá Khmer Nam Bộ được tổ chức định kì trong vùng với việc trình diễn trang
phục dân tộc, lễ hội và trò chơi dân gian nhằm tôn vinh, bảo tồn văn hoá dân tộc Khmer.
(1)

14

Áo vêng: Còn gọi là áo bầm pông hay áo tầm vông. Đây là loại áo dài truyền thống của phụ nữ Khmer Nam Bộ.

?

CÂU HỎI

– Trang phục truyền thống của người Khmer được làm từ chất liệu gì? Họ đã làm ra
chúng như thế nào?
– Người Khmer thường mặc trang phục truyền thống trong những dịp nào?
– Khi chung sống với người Kinh, người Khmer mặc trang phục truyền thống như
thế nào?
– Theo em, việc giữ gìn vẻ đẹp của trang phục truyền thống có ý nghĩa như thế nào
đối với người Khmer nói riêng và các dân tộc nói chung?

LUYỆN TẬP
1. Đọc các thông tin, hình ảnh bên dưới và trả lời các câu hỏi sau:
– Dựa vào hình 8 và những mô tả trên, em hãy chỉ ra những bộ phận cấu tạo nên chiếc
áo dài.
– Em hãy nêu một số trang phục truyền thống được các dân tộc khác mặc ở Thành phố
Hồ Chi Minh.
– Đề xuất các giải pháp để giữ gỉn vẻ đẹp truyền thống của trang phục dân tộc.
Chiếc áo dài được thiết kế theo định hướng nhẹ nhàng, dịu dàng, thướt tha với
nhiều màu sắc khác nhau, phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng. Một chiếc áo dài
truyền thống có cấu tạo gồm cổ áo, tay áo, thân áo, tà áo và quần.
Cổ áo dài thường cao từ 3 – 5 cm. Ngày nay, cổ áo dài được thiết kế với nhiều kiểu đa
dạng như cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U và trên cổ áo có thể được đính ngọc hoặc cườm.
Tay áo dài có chiều dài đến cổ tay, thuôn dài từ vai xuống cánh tay rồi đến cổ tay,
ôm sát nách.
Thân áo dài (từ phần cổ xuống eo) được thiết kế ôm dáng có nút bấm một bên.
Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Ở ngực và sau lưng
áo dài sẽ có chiết li. Để thuận tiện cho người mặc, nhiều chiếc áo dài được thiết kế có
khoá ở dọc phần hông hoặc phần sau lưng.
Áo dài có hai tà: trước và sau. Tà áo dài được xẻ từ eo cho đến gần cổ chân. Trên tà
trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.
Quần áo dài có ống rộng, độ dài từ eo đến mắt cá chân hoặc dài cho đến gót chân.
Màu sắc thông dụng nhất là trắng hoặc đen. Trong xu hướng thời trang hiện nay, quần áo
dài thường có cùng tông màu với áo dài.

15

Hình 19. Cấu tạo chi tiết của áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)

16

2. Dựa vào hình ảnh gợi ý dưới đây, hãy thiết kế một chiếc áo dài để mặc trong một dịp
cụ thể (đến trường, đi dự tiệc,…).

Hình 20. Sản phẩm thiết kế áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM )

17

VẬN DỤNG
1. Thực hiện theo nhóm một sản phẩm để giới thiệu chiếc áo bà ba của Nam Bộ theo
các gợi ý sau:
Hình thức sản phẩm

Nội dung

– Tập san

– Nguồn gốc, lịch sử hình thành áo bà ba

– Bài thuyết trình

– Cấu tạo của áo bà ba

– Đoạn phim ngắn


– Áo bà ba trong đời sống của người dân ở
Thành phố Hồ Chí Minh

2. Tham quan Bảo tàng Áo dài (Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh) và thực hiện bài
thu hoạch.

Hình 21. Bảo tàng Áo dài, thành phố Thủ Đức
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)

Yêu cầu:
– Chụp lại hình ảnh trong chuyến tham quan (hình ảnh áo dài, hình ảnh hoạt động
nhóm,…)
– Giới thiệu một số chiếc áo dài mà nhóm tâm đắc.
– Thực hiện bài thu hoạch với nhiều hình thức: bài viết, bài thuyết trình, video,…

18

CHỦ ĐỀ

2

SẮC MÀU NGÔN NGỮ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỤC TIÊU
– Nêu được các đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Xác định được vai trò của ngôn ngữ đối với đời sống văn hoá của người dân ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đề xuất được phương án bảo tồn, phát triển các ngôn ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh.

KHỞI ĐỘNG
Bằng trải nghiệm thực tế của mình, hãy nêu một số điểm đặc biệt của ngôn ngữ ở
Thành phố Hồ Chí Minh.

KHÁM PHÁ
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi.
SẮC MÀU NGÔN NGỮ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế – văn hoá lớn của cả nước. Nơi đây có nền
văn hoá đặc biệt, được thể hiện qua nhiều phương diện, nổi bật là ngôn ngữ. Ngôn ngữ
ở Thành phố Hồ Chí Minh như một bức tranh lớn, vừa đa dạng sắc màu, vừa mang nét
đặc trưng riêng.

19

1. Sự đa dạng của ngôn ngữ ở Thành phố Hồ Chí Minh
Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim,
vùng đất Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành qua các cuộc chinh chiến, dung nạp
nhiều nhóm lưu dân từ buổi đầu khai mở. Họ là những người miền ngoài ở vùng đất
Thuận Quảng theo chúa Nguyễn lập nghiệp ở phương Nam; là người Minh Hương theo
đường biển xin chúa Nguyễn tá túc; và người dân Khmer (xưa gọi là người Miên), vốn
là người của nước Chân Lạp cách đây hơn năm(1) . Trải qua quá trình hình thành và phát
triển, đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh là miền đất lành hội tụ cư dân từ khắp mọi nơi.
Theo thống kê, có 54 dân tộc được công nhận ở Việt Nam cư trú tại Thành phố. Theo
cơ cấu dân tộc, người Việt (Kinh) chiếm đa số, thứ hai là người Hoa, còn lại là các tộc người
khác như Khmer, Chăm,... Như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đa dân t
 
Gửi ý kiến