Sự thật về cái chết của Cao Bá Quát

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hà Phương Ly
Ngày gửi: 14h:01' 30-10-2008
Dung lượng: 60.5 KB
Số lượt tải: 111
Nguồn:
Người gửi: Hà Phương Ly
Ngày gửi: 14h:01' 30-10-2008
Dung lượng: 60.5 KB
Số lượt tải: 111
Số lượt thích:
0 người
Cao Bá Quát - Có sách nhà ghi? [ 10/11/2008 11:28:16 AM ]
1 - Từ góc nhìn Bát quái chúng tôi đã tìm thấy Ngày Giờ sinh và số mệnh Cao Bá Quát .
Như có hồn thiêng của Người hiện về mách bảo, chúng tôi đã căn cứ vào nhiều nhà nghiên cứu, xác định năm sinh của CBQ là năm Mậu Thìn (1808), lại căn cứ những bài thơ có liên quan đặt giả thuyết ông sinh ngày 9-9 âm lịch năm đó. Sau đó sử dụng thuật toán Hà Lạc do Nhà Tiên tri Trần Đoàn đời nhà Tống (Trung Hoa) sáng tạo và công nghệ máy tính tìm ra giờ sinh là giờ Tị (từ 9 -11g) ngày nói trên, can chi là Năm Mậu Thìn, tháng Nhâm Tuất, ngày Nhâm Thân, giờ Ất Tị. Từ can chi này mà dùng thuật toán Hà Lạc tính ra số mệnh thì thấy ra ông được quẻ Kinh Dịch tên là Địa Thủy Sư, chủ mệnh hào 5, từ quẻ này mà tìm ra từng chặng đường đời, từng năm. Lại lấy từng lời phán đoán trong quẻ Dịch đối chiếu với niên biểu CBQ và thơ ca CBQ thì bàng hoàng nhận thấy từng chặng đường, từng năm, lời quẻ lời hào phán xét ra sao, thực tế hành trạng và thơ ca của nhà thơ diễn biến đúng như thế, ăn khớp nhau một cách kỳ lạ. Điều đó chứng tỏ rằng giả thuyết về ngày giờ sinh đã đúng với thực tế.
Ví dụ:
Tiền vận ông Cao gồm 39 năm (1808-1846) được quẻ Địa Thủy Sư, hào chủ mệnh chi phối những năm tiền vận là hào 5. Sư là Đám đông, là Quân đội. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc làm lính thì trở thành người chỉ huy quân đội. Hào 5 quẻ Sư thuộc về mệnh của người nguyên thủ đất nước bảo rằng: Đất nước bị xâm hại, việc ra quân không lỗi. Khi có việc dùng binh hãy dùng người lão thành làm tướng cầm quân, nếu dùng bọn kẻ tài đức kém, thì phải chở thây mà về, dù có danh nghĩa chính đáng, kết quả vẫn xấu.
Đối chiếu với hành trạng và thơ CBQ, chúng tôi nhận thấy đúng là ông có mệnh quẻ Sư hào 5. Nhiều nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét thơ CBQ có khẩu khí đế vương (nguyên thủ) từ rất sớm. Chúng tôi sơ bộ tách ra trong 418 bài thơ Tập I Toàn tập Cao Bá Quát có 60 bài mang khí thế và suy ngẫm người quẻ Sư. Tiêu biểu nhất là bài Vũ Hầu xuất sư biểu (Bài biểu ra quân của Vũ Hầu Gia Cát Lượng (tr. 1079):
(Dịch) Chí cũng muốn phò Viêm Hán
Lòng những bời bời việc ra quân
Đem hết lòng lo việc nước
Chắp máu làm thành lời.
Tắm ở khe Bàn Thạch (tr. 283)
(Dịch) Sớm lên đứng trên núi Hoành Sơn
Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch
Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá
Cả non sông không đầy một vốc tay.
Quẻ Sư của họ Cao đã chi phối và dẫn ông đến một sự nghiệp thơ ca lộng lẫy, bạn bè với những người nổi tiếng và có thanh thế trong xã hội, được vua vời đến, được tuyển vào kinh làm chức quan nhỏ trong bộ Lễ và dẫn đến vai trò chấm thi sơ khảo năm 1841. Chính trong cuộc chấm thi này ông đã thất bại: Dùng muội đèn chữa bài thi cho thí sinh phạm quy, việc bị phát giác, ông bị giam cầm, tra khảo, may mà còn sống. Ông chỉ biết đi theo ý chí và lòng nhân từ của mình, không tính đến thời thế và hoàn cảnh, nên thất bại là điều dễ hiểu. Lời hào 5 có câu: Dù chính đáng cũng thất bại, xe chở thây về. Ta sẽ thấy cuộc thất bại của khởi nghĩa Mỹ Lương sau này mà ông là một nhà lãnh đạo, cũng mang âm hưởng hào 5 quẻ Sư: Dù khởi nghĩa có chính đáng, nhưng dùng phải những người kém tài đức, thiếu thử thách, nên “xe chở thây về” là không tránh khỏi, và điều này đã được báo trước.
Trong toán Hà Lạc, tiền vận quẻ Sư hào 5 sẽ dẫn đến hậu vận quẻ Thuần Khảm, chủ mệnh hào 2, từ năm ông Cao 40 tuổi (1847). Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Tượng quẻ Thuần Khảm là hai làn Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới. Không gì hiểm bằng nước sâu, Khảm có tượng Nước, nên Khảm là hiểm. Người quẻ Thuần Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì, lấy lòng chí thành, linh hoạt, khôn ngoan mà tránh hiểm. Được quẻ Khảm, thì một là trở thành anh hùng, hai là trở thành kẻ bần cùng chìm ngập trong nguy khốn.
Đối
1 - Từ góc nhìn Bát quái chúng tôi đã tìm thấy Ngày Giờ sinh và số mệnh Cao Bá Quát .
Như có hồn thiêng của Người hiện về mách bảo, chúng tôi đã căn cứ vào nhiều nhà nghiên cứu, xác định năm sinh của CBQ là năm Mậu Thìn (1808), lại căn cứ những bài thơ có liên quan đặt giả thuyết ông sinh ngày 9-9 âm lịch năm đó. Sau đó sử dụng thuật toán Hà Lạc do Nhà Tiên tri Trần Đoàn đời nhà Tống (Trung Hoa) sáng tạo và công nghệ máy tính tìm ra giờ sinh là giờ Tị (từ 9 -11g) ngày nói trên, can chi là Năm Mậu Thìn, tháng Nhâm Tuất, ngày Nhâm Thân, giờ Ất Tị. Từ can chi này mà dùng thuật toán Hà Lạc tính ra số mệnh thì thấy ra ông được quẻ Kinh Dịch tên là Địa Thủy Sư, chủ mệnh hào 5, từ quẻ này mà tìm ra từng chặng đường đời, từng năm. Lại lấy từng lời phán đoán trong quẻ Dịch đối chiếu với niên biểu CBQ và thơ ca CBQ thì bàng hoàng nhận thấy từng chặng đường, từng năm, lời quẻ lời hào phán xét ra sao, thực tế hành trạng và thơ ca của nhà thơ diễn biến đúng như thế, ăn khớp nhau một cách kỳ lạ. Điều đó chứng tỏ rằng giả thuyết về ngày giờ sinh đã đúng với thực tế.
Ví dụ:
Tiền vận ông Cao gồm 39 năm (1808-1846) được quẻ Địa Thủy Sư, hào chủ mệnh chi phối những năm tiền vận là hào 5. Sư là Đám đông, là Quân đội. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, hoặc làm lính thì trở thành người chỉ huy quân đội. Hào 5 quẻ Sư thuộc về mệnh của người nguyên thủ đất nước bảo rằng: Đất nước bị xâm hại, việc ra quân không lỗi. Khi có việc dùng binh hãy dùng người lão thành làm tướng cầm quân, nếu dùng bọn kẻ tài đức kém, thì phải chở thây mà về, dù có danh nghĩa chính đáng, kết quả vẫn xấu.
Đối chiếu với hành trạng và thơ CBQ, chúng tôi nhận thấy đúng là ông có mệnh quẻ Sư hào 5. Nhiều nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét thơ CBQ có khẩu khí đế vương (nguyên thủ) từ rất sớm. Chúng tôi sơ bộ tách ra trong 418 bài thơ Tập I Toàn tập Cao Bá Quát có 60 bài mang khí thế và suy ngẫm người quẻ Sư. Tiêu biểu nhất là bài Vũ Hầu xuất sư biểu (Bài biểu ra quân của Vũ Hầu Gia Cát Lượng (tr. 1079):
(Dịch) Chí cũng muốn phò Viêm Hán
Lòng những bời bời việc ra quân
Đem hết lòng lo việc nước
Chắp máu làm thành lời.
Tắm ở khe Bàn Thạch (tr. 283)
(Dịch) Sớm lên đứng trên núi Hoành Sơn
Chiều xuống tắm ở dòng khe Bàn Thạch
Nhặt lấy mỗi nơi một viên đá
Cả non sông không đầy một vốc tay.
Quẻ Sư của họ Cao đã chi phối và dẫn ông đến một sự nghiệp thơ ca lộng lẫy, bạn bè với những người nổi tiếng và có thanh thế trong xã hội, được vua vời đến, được tuyển vào kinh làm chức quan nhỏ trong bộ Lễ và dẫn đến vai trò chấm thi sơ khảo năm 1841. Chính trong cuộc chấm thi này ông đã thất bại: Dùng muội đèn chữa bài thi cho thí sinh phạm quy, việc bị phát giác, ông bị giam cầm, tra khảo, may mà còn sống. Ông chỉ biết đi theo ý chí và lòng nhân từ của mình, không tính đến thời thế và hoàn cảnh, nên thất bại là điều dễ hiểu. Lời hào 5 có câu: Dù chính đáng cũng thất bại, xe chở thây về. Ta sẽ thấy cuộc thất bại của khởi nghĩa Mỹ Lương sau này mà ông là một nhà lãnh đạo, cũng mang âm hưởng hào 5 quẻ Sư: Dù khởi nghĩa có chính đáng, nhưng dùng phải những người kém tài đức, thiếu thử thách, nên “xe chở thây về” là không tránh khỏi, và điều này đã được báo trước.
Trong toán Hà Lạc, tiền vận quẻ Sư hào 5 sẽ dẫn đến hậu vận quẻ Thuần Khảm, chủ mệnh hào 2, từ năm ông Cao 40 tuổi (1847). Khảm là Hãm, Hiểm, Gian nan, Trở ngại. Tượng quẻ Thuần Khảm là hai làn Nước (cuồn cuộn) đang tiến tới. Không gì hiểm bằng nước sâu, Khảm có tượng Nước, nên Khảm là hiểm. Người quẻ Thuần Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng xem tượng quẻ mà xử thời hiểm thì không sợ gì, lấy lòng chí thành, linh hoạt, khôn ngoan mà tránh hiểm. Được quẻ Khảm, thì một là trở thành anh hùng, hai là trở thành kẻ bần cùng chìm ngập trong nguy khốn.
Đối
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất