SGV HÓA HỌC 11 - Chương 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Từ Đức Hà
Ngày gửi: 21h:10' 15-10-2008
Dung lượng: 349.0 KB
Số lượt tải: 1484
Nguồn:
Người gửi: Từ Đức Hà
Ngày gửi: 21h:10' 15-10-2008
Dung lượng: 349.0 KB
Số lượt tải: 1484
Số lượt thích:
0 người
Chương 9
anđehit xeton – axit cacboxylic
phần 1. mở đầu chương
I. mục tiêu của chương
1. thức
HS biết :
– Khái niệm về anđehit xeton, axit cacboxylic, cách phân loại và gọi tên của chúng.
– Tính chất hoá học của anđehit xeton và axit, phương pháp điều chế chúng.
2. Kĩ năng
– Biết cách nhận dạng các loại hợp chất qua CTCT.
– Biết cách tiến hành thí nghiệm, giải thích được các hiện tượng thí nghiệm.
3. Tình cảm thái độ
Từ các ứng dụng trong đời sống và trạng thái tự nhiên của một số anđehit, axit, HS thấy Hóa học rất gắn bó, gần gũi với đời sống, tăng lòng yêu thích bộ môn.
II. Hệ thống kiến thức của chương
III. Một số điểm lưu ý về nội dung dạy học và PPDH
Chương này nghiên cứu hai loại hợp chất anđehit và axit cacboxylic. Cấu trúc của các bài cũng theo dàn ý chung của chương 1. Vì vậy, cần tận dụng phương pháp xây dựng kiến thức mà HS đã có ở phần ancol, phenol .
Tuy anđehit là hợp chất lần đầu được giới thiệu một cách hệ thống nhưng HS cũng đã biết qua phản ứng cộng nước của axetilen. Nhiều loại tinh dầu ở nước ta có thành phần chính là anđehit, do đó tùy từng địa phương GV có thể giới thiệu thêm về chúng. Thí dụ : tinh dầu quế có anđehit xinamic (trans –C6H5CH=CH–CHO), tinh dầu chanh và tinh dầu xả có geranial (trans–CH3C(CH3)=CHCH2CH2C(CH3)=CHCHO), tinh dầu xả có xitronelal (CH3C(CH3)=CHCH2CH2CH(CH3)CH2CHO), ... Một số anđehit có mùi thơm dùng trong công nghiệp thực phẩm, mĩ phẩm được điều chế từ các chất là thành phần chính của tinh dầu, thí dụ vanilin (điều chế từ eugenol trong tinh dầu hương nhu) dùng làm chất thơm trong bánh kẹo, geranial làm hương liệu trong nước hoa, ...
Việc ôn tập về các loại hiđrocacbon và gốc hiđrocacbon (trong bài ôn tập đầu năm) là rất cần thiết cho việc nhận diện các loại dẫn xuất (halogen, ancol, anđehit, axit) theo gốc hiđrocacbon.
– Do thời lượng hạn chế, nên tập trung vào thí dụ đối với dẫn xuất no, mạch hở, đơn chức. Các thí dụ vận dụng về tính chất hóa học cũng chỉ nên áp dụng cho dẫn xuất no, đơn chức, mạch hở là chủ yếu.
Vì HS đã được biết về axit hữu cơ qua axit axetic, do đó cần khai thác các kiến thức cũ của HS và quán triệt quan điểm ”cấu tạo hóa học quyết định tính chất "giúp HS suy luận từ tính chất của axit axetic để áp dụng cho các axit khác.
HS đã có khái niệm về axit axetic (lớp 9) và cách phân loại của ancol, anđehit do đó có thể dành nhiều thời gian cho thí nghiệm este hóa. Các phương trình phản ứng về tính axit có thể nâng ở mức viết phương trình ion trên cơ sở các phản ứng đã được làm quen ở lớp 9.
Hợp chất xeton chỉ giới thiệu sơ lươc, nên không nên yêu cầu HS viết CTCT gọi tên các xeton. Nên so sánh xeton và anđehit về đặc điểm cấu tạo để HS hiểu được sự giống và khác nhau về tính chát.
Nếu HS khá có thể tiến hành dạy bài Anđ-xeton theo cấu trúc của SGK nâng cao : (R’ là H hoặc ( H).
Phần sách (file tex)
Phần đĩa CD
Bài học (1)
Phương pháp dạy học (2
anđehit xeton – axit cacboxylic
phần 1. mở đầu chương
I. mục tiêu của chương
1. thức
HS biết :
– Khái niệm về anđehit xeton, axit cacboxylic, cách phân loại và gọi tên của chúng.
– Tính chất hoá học của anđehit xeton và axit, phương pháp điều chế chúng.
2. Kĩ năng
– Biết cách nhận dạng các loại hợp chất qua CTCT.
– Biết cách tiến hành thí nghiệm, giải thích được các hiện tượng thí nghiệm.
3. Tình cảm thái độ
Từ các ứng dụng trong đời sống và trạng thái tự nhiên của một số anđehit, axit, HS thấy Hóa học rất gắn bó, gần gũi với đời sống, tăng lòng yêu thích bộ môn.
II. Hệ thống kiến thức của chương
III. Một số điểm lưu ý về nội dung dạy học và PPDH
Chương này nghiên cứu hai loại hợp chất anđehit và axit cacboxylic. Cấu trúc của các bài cũng theo dàn ý chung của chương 1. Vì vậy, cần tận dụng phương pháp xây dựng kiến thức mà HS đã có ở phần ancol, phenol .
Tuy anđehit là hợp chất lần đầu được giới thiệu một cách hệ thống nhưng HS cũng đã biết qua phản ứng cộng nước của axetilen. Nhiều loại tinh dầu ở nước ta có thành phần chính là anđehit, do đó tùy từng địa phương GV có thể giới thiệu thêm về chúng. Thí dụ : tinh dầu quế có anđehit xinamic (trans –C6H5CH=CH–CHO), tinh dầu chanh và tinh dầu xả có geranial (trans–CH3C(CH3)=CHCH2CH2C(CH3)=CHCHO), tinh dầu xả có xitronelal (CH3C(CH3)=CHCH2CH2CH(CH3)CH2CHO), ... Một số anđehit có mùi thơm dùng trong công nghiệp thực phẩm, mĩ phẩm được điều chế từ các chất là thành phần chính của tinh dầu, thí dụ vanilin (điều chế từ eugenol trong tinh dầu hương nhu) dùng làm chất thơm trong bánh kẹo, geranial làm hương liệu trong nước hoa, ...
Việc ôn tập về các loại hiđrocacbon và gốc hiđrocacbon (trong bài ôn tập đầu năm) là rất cần thiết cho việc nhận diện các loại dẫn xuất (halogen, ancol, anđehit, axit) theo gốc hiđrocacbon.
– Do thời lượng hạn chế, nên tập trung vào thí dụ đối với dẫn xuất no, mạch hở, đơn chức. Các thí dụ vận dụng về tính chất hóa học cũng chỉ nên áp dụng cho dẫn xuất no, đơn chức, mạch hở là chủ yếu.
Vì HS đã được biết về axit hữu cơ qua axit axetic, do đó cần khai thác các kiến thức cũ của HS và quán triệt quan điểm ”cấu tạo hóa học quyết định tính chất "giúp HS suy luận từ tính chất của axit axetic để áp dụng cho các axit khác.
HS đã có khái niệm về axit axetic (lớp 9) và cách phân loại của ancol, anđehit do đó có thể dành nhiều thời gian cho thí nghiệm este hóa. Các phương trình phản ứng về tính axit có thể nâng ở mức viết phương trình ion trên cơ sở các phản ứng đã được làm quen ở lớp 9.
Hợp chất xeton chỉ giới thiệu sơ lươc, nên không nên yêu cầu HS viết CTCT gọi tên các xeton. Nên so sánh xeton và anđehit về đặc điểm cấu tạo để HS hiểu được sự giống và khác nhau về tính chát.
Nếu HS khá có thể tiến hành dạy bài Anđ-xeton theo cấu trúc của SGK nâng cao : (R’ là H hoặc ( H).
Phần sách (file tex)
Phần đĩa CD
Bài học (1)
Phương pháp dạy học (2
sao không chương 8?









Các ý kiến mới nhất