sáng kiến kinh nghiệm tiểu học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Văn Thành
Ngày gửi: 21h:44' 04-11-2010
Dung lượng: 9.8 KB
Số lượt tải: 147
Nguồn:
Người gửi: Vũ Văn Thành
Ngày gửi: 21h:44' 04-11-2010
Dung lượng: 9.8 KB
Số lượt tải: 147
Số lượt thích:
0 người
NÂNG CAO HIỆU QUẢ
DẠY VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4 & LỚP 5
I. Lý do:
- Xuất phát từ tình hình thực tế ở nhà trường , Bản thân đang là giáo viên trực tiếp
đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình đổi mới sách giáo khoa. Trong thời gian qua,
tôi nhận thấy việc giảng dạy, học tập và thực hành làm văn miêu tả của học sinh có nhiều
điểm cần lưu tâm và đó chính là lý do bản thân tôi đã đúc kết kinh nghiệm và áp dụng cụ
thể vào thực tiễn giảng dạy.
II. Thực trạng:
1. Về cấu trúc chương trình:
- Trong nội dung học của chương trình Tiếng Việt Lớp 4 và Lớp 5, mỗi tuần có 2 tiết
học tập làm văn. Cả năm học mỗi lớp có tổng số 70 tiết tập làm văn, trong đó trừ 4 tuần ôn
tập GHKI; CHKI, GHKII và CHKII thì văn miêu tả lớp 4 và lớp 5 có thời lượng như sau:
Học kì I
Học kì II Cả năm
Lớp 4
7 tiết 23 tiết 30 tiết
Lớp 5
22 tiết 24 tiết 46 tiết
PHÂN P PHỐI SỐ TIẾT HỌC VĂN MIÊU TẢ
HỐI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4 & LỚP 5
2. Về sách giáo khoa:
- Kiến thức tập làm văn trong chương trình được sắp xếp học trong tuần sau khi đã
được học các phân môn khác .
- Thông tin của phân môn tập làm văn được thể hiện toàn bộ bằng kênh chữ, không
có kênh hình minh họa. Nhìn chung tập làm văn mang tính đặc thù của một môn học giàu
trí tưởng tượng và biểu cảm.
- Tập làm văn là phân môn tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn: Tập đọc, Chính
tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện.
3. Thuận lợi:
- Nội dung các bài tập làm văn lớp 4 và lớp 5 được gắn với các chủ điểm, có sự tích
hợp rõ nét với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt. Quá trình hướng dẫn học
sinh thực hiện các kĩ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói, viết đoạn hoặc cả bài văn là
những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học. Việc phân
tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày và tranh
luận … Góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh. Tư duy hình tượng
của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân
hoá… khi miêu tả.
- Học các tiết làm văn miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con
người và thiên nhiên, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển mẫu
mực nhân cách con người Việt Nam.
* Về học sinh:
- Trẻ em rất giàu khả năng sáng tạo, trong tư duy của mỗi em đều có những sở trường
riêng. Ở độ tuổi học lớp 4 và lớp 5, trẻ em thích tỏ ra mình là người lớn và say mê nghệ
thuật, ham học hỏi, ham hiểu biết. Luôn hồn nhiên , ngây thơ, trong sáng. Trẻ em thường
thể hiện nét ngộ nghĩnh và cảm nhận thế giới xung quanh theo cách riêng với trí tưởng
tượng phong phú.
- Trẻ được sự chăm sóc tốt của gia đình, được giáo dục trong môi trường lành mạnh,
trong xã hội phát triển, tiến bộ. Học sinh có động cơ học tập đúng đắn và muốn tìm tòi
khám phá thế giới muôn màu muôn vẻ ở xung quanh.
* Về giáo viên:
- Cần đầu tư sâu để có những thiết kế bài dạy mở rộng phong phú. Hiểu kĩ nội dung,
mục đích yêu cầu bài dạy để đảm bảo tính chính xác, sáng tạo. Hiểu tâm lý từng học sinh
trong lớp, nắm được sức học của từng em để từ đó giáo viên có hướng rèn luyện giáo dục
đúng đắn, tạo hứng thú học văn miêu tả trong các em.
- Giáo viên là người tổ chức các hoạt độïng trên lớp của học sinh. Với mong muốn
dạy cho các em một cách cặn kẽ và thấu đáo, chúng ta không chỉ truyền đạt kiến thức tập
làm văn mà là khuyến khích học sinh khơi dậy tư duy yêu môn tập làm văn và mưu cầu
kiến thức tập làm văn.
4 Khó khăn:
- Trong cuộc sống, giao tiếp là hình thức cơ bản để con người phát triển tư duy và
hình thành nhân cách. Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa, điều kiện để các em phát triển
đa chiều các mối quan hệ giao tiếp không được mở rộng như ở thành thị, chưa nhạy bén
trong va chạm, vốn sống của các em cũng chưa thật
DẠY VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4 & LỚP 5
I. Lý do:
- Xuất phát từ tình hình thực tế ở nhà trường , Bản thân đang là giáo viên trực tiếp
đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình đổi mới sách giáo khoa. Trong thời gian qua,
tôi nhận thấy việc giảng dạy, học tập và thực hành làm văn miêu tả của học sinh có nhiều
điểm cần lưu tâm và đó chính là lý do bản thân tôi đã đúc kết kinh nghiệm và áp dụng cụ
thể vào thực tiễn giảng dạy.
II. Thực trạng:
1. Về cấu trúc chương trình:
- Trong nội dung học của chương trình Tiếng Việt Lớp 4 và Lớp 5, mỗi tuần có 2 tiết
học tập làm văn. Cả năm học mỗi lớp có tổng số 70 tiết tập làm văn, trong đó trừ 4 tuần ôn
tập GHKI; CHKI, GHKII và CHKII thì văn miêu tả lớp 4 và lớp 5 có thời lượng như sau:
Học kì I
Học kì II Cả năm
Lớp 4
7 tiết 23 tiết 30 tiết
Lớp 5
22 tiết 24 tiết 46 tiết
PHÂN P PHỐI SỐ TIẾT HỌC VĂN MIÊU TẢ
HỐI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4 & LỚP 5
2. Về sách giáo khoa:
- Kiến thức tập làm văn trong chương trình được sắp xếp học trong tuần sau khi đã
được học các phân môn khác .
- Thông tin của phân môn tập làm văn được thể hiện toàn bộ bằng kênh chữ, không
có kênh hình minh họa. Nhìn chung tập làm văn mang tính đặc thù của một môn học giàu
trí tưởng tượng và biểu cảm.
- Tập làm văn là phân môn tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn: Tập đọc, Chính
tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện.
3. Thuận lợi:
- Nội dung các bài tập làm văn lớp 4 và lớp 5 được gắn với các chủ điểm, có sự tích
hợp rõ nét với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt. Quá trình hướng dẫn học
sinh thực hiện các kĩ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói, viết đoạn hoặc cả bài văn là
những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học. Việc phân
tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày và tranh
luận … Góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh. Tư duy hình tượng
của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân
hoá… khi miêu tả.
- Học các tiết làm văn miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con
người và thiên nhiên, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển mẫu
mực nhân cách con người Việt Nam.
* Về học sinh:
- Trẻ em rất giàu khả năng sáng tạo, trong tư duy của mỗi em đều có những sở trường
riêng. Ở độ tuổi học lớp 4 và lớp 5, trẻ em thích tỏ ra mình là người lớn và say mê nghệ
thuật, ham học hỏi, ham hiểu biết. Luôn hồn nhiên , ngây thơ, trong sáng. Trẻ em thường
thể hiện nét ngộ nghĩnh và cảm nhận thế giới xung quanh theo cách riêng với trí tưởng
tượng phong phú.
- Trẻ được sự chăm sóc tốt của gia đình, được giáo dục trong môi trường lành mạnh,
trong xã hội phát triển, tiến bộ. Học sinh có động cơ học tập đúng đắn và muốn tìm tòi
khám phá thế giới muôn màu muôn vẻ ở xung quanh.
* Về giáo viên:
- Cần đầu tư sâu để có những thiết kế bài dạy mở rộng phong phú. Hiểu kĩ nội dung,
mục đích yêu cầu bài dạy để đảm bảo tính chính xác, sáng tạo. Hiểu tâm lý từng học sinh
trong lớp, nắm được sức học của từng em để từ đó giáo viên có hướng rèn luyện giáo dục
đúng đắn, tạo hứng thú học văn miêu tả trong các em.
- Giáo viên là người tổ chức các hoạt độïng trên lớp của học sinh. Với mong muốn
dạy cho các em một cách cặn kẽ và thấu đáo, chúng ta không chỉ truyền đạt kiến thức tập
làm văn mà là khuyến khích học sinh khơi dậy tư duy yêu môn tập làm văn và mưu cầu
kiến thức tập làm văn.
4 Khó khăn:
- Trong cuộc sống, giao tiếp là hình thức cơ bản để con người phát triển tư duy và
hình thành nhân cách. Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa, điều kiện để các em phát triển
đa chiều các mối quan hệ giao tiếp không được mở rộng như ở thành thị, chưa nhạy bén
trong va chạm, vốn sống của các em cũng chưa thật
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất