sang kien kinh nghiem

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Vũ Đình Huy
Ngày gửi: 13h:52' 22-04-2008
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 530
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Vũ Đình Huy
Ngày gửi: 13h:52' 22-04-2008
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 530
Số lượt thích:
0 người
A. Đặt vấn đề.
Qua thực tế giảng dạy môn mĩ thuật ở bậc THCS trong chương trình cũ, cũng như trong chương trình thay SGK mới. Đặc biệt với môn mĩ thuật và phân môn “ Thường thức mĩ thuật” có đặc điểm riêng về nội dung, lượng kiến thức, cách trình bày sẽ dẫn đến bài giảng đơn điệu, kém hiệu quả nếu ta không có phương pháp thiết kế bài giảng cho phù hợp.
Vì vậy mục đích của sáng kiến là việc ghi lại quá trình giảng dạy và tự rút ra những kinh nghiệm cho bản thân, cũng để cho đồng nghiệp tham khảo để cùng nhau tìm ra những giải pháp tốt, có hiệu quả phục vụ tốt cho phương pháp, công tác giảng dạy chuyên môn “ Thường thức mĩ thuật “ trong chương trình mĩ thuật THCS ngày càng được tốt hợn.
PHạM VI áp dụng:
áp dụng trong giảng dạy mĩ thuật THCS theo chương trình mới:
Cơ sở thực tiễn :
Nghiên cứu tổng hợp chương trình mĩ thuật bậc THCS ở chương trình SGK mới.
Nghiên cứu chung về lịch sử mĩ thuật Thế giới và lịch sử mĩ thuật Việt Nam. Qua chương trình mĩ thuật ở bậc CĐ và ĐH. qua một số cuốn sách:
+ “ Mĩ thuật và phương pháp dạy học” của Trịnh Thiệp + Ưng Thị Châu.
+ “ Kỹ hoạ và bố cục” của Tạ Phương Thảo, Nguyễn Lăng Bình.
+ “ Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học” của Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh và Nguyễn Thái Lại.
+ Tài liệu lịch sử (SGK 6, 7, 8, 9) và tài liệu lịch sử nói chung.
+ Một số sách về văn học với những tập tục, những nét văn hoá của người Việt Nam.
B. Giải quyết vấn đề.
I. Giới thiệu các phân môn trong chương trình mĩ thuật THCS.
Trong chương trình giảng dạy mĩ thuật ở THCS có bốn phân môn chính mang tính khái quát về mĩ thuật như sau:
1, Phân môn vẽ theo mẫu.
Là phân môn cung cấp cho HS biết quan sát, nhận xét nhanh đặc điểm của đối tượng, qua đó hình thành khả năng ghi và nhớ hình ảnh, làm phong phú trí tưởng tượng và biết cách tái hiện hình ảnh đó bằng diễn tả hình và khối. Đối tượng chủ yếu để vẽ là những đồ vật quen thuộc trong cuộc sống. Được thể hiên bằng chì, bằng màu sắc.
2, Phân môn trang trí.
Cung cấp cho HS hiểu về màu sắc, bản chất màu sắc và cách pha màu sắc. HS hiểu được cái đẹp trong màu sắc trong thiên nhiên, cuộc sống và trong mĩ thuật.
Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về trang trí các hình cơ bản và trang trí ứng dụng trong cuộc sống.
Qua đó HS hình thành những kỹ năng về trang trí các hình cơ bản, thực hành làm bài tốt dưới sự quan sát, nhận xét trong thiên nhiên và trí tưởng tượng phong phú.
3, Phân môn vẽ tranh đề tài.
Là phân môn tổng hợp cả về hình và màu trong nghệ thuật tạo hình. Phân môn vừa cung cấp, khêu gợi cho HS về thế giới phong phú của màu và hình. Qua đó giúp các em có khả năng tái hiện lại những hình ảnh, đề tài cuộc sống qua hình và màu, phát huy trí tưởng tượng phong phú và cách thể hiện hồn nhiên của HS THCS.
4, Phân môn “Thường thức mĩ thuật”.
Mĩ thuật là môn học có từ lâu đời gắn liền và xuyên suốt cuộc sống nhân loại ngay từ buổi đầu của chế độ công xã nguyên thuỷ đến nay và sẽ còn mãi mãi. Là môn học mang lại vẻ đẹp cho cuộc sống con người. Trải qua nhiều thế kỷ mĩ thuật cũng có nhiều thay đổi, sự mất đi và sự sinh sôi những quan điểm nghệ thuật, những trào lưu trường phái nghệ thuật, những thành tựu, những đỉnh cao chói lọi.
Phân môn “ Thường thức mĩ thuật” giúp cho HS hiểu được phần nào hoặc là bao quát về lịch sử mĩ thuật, những trào lưu,trường phái, quan điểm của từng thời kỳ cũng như những thành tựu đó.
Nội dung kiến thức mang tính tổng hợp nên GV cần phải có kiến thức tổng hợp sâu, rộng, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp.
II. Một số kinh nghiệm và giải pháp khi giảng day phân môn.
1, Một số yêu cầu về kiến thức.
a, Yêu cầu về kiến thức:
Như đã nói, đây là phân môn có nội dung kiến thức mang tính chất tổng hợp của nhiều môn khoa học.
- Khoa học lịch sử: Nhân loại đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội (từ XH nguyên thuỷ đến nay là XHCN) đã sản sinh những tư tưởng chính trị, xuất hiện xã hội khác nhau. Con người của từng thời đại phụ thuộc vào ý thức hệ thống chính trị đương thời. Nên các nền văn minh, văn hoá cũng nằm trong ý thức hệ đó và phản ánh xã hội đó, tư tưởng chính trị đương thời của xã hội đó.
VD: Đêm trường trung cổ Châu âu hơn 10 thế kỷ con người bị coi rẻ về nhân cách, coi khi sống là gửi gắm linh hồn, khi chết mới là cuộc sống vĩnh cửu và do giai cấp thống trị đã làm ngu muội tư tưởng, nhận thức con người để dễ cai trị. Nghệ thuật lúc đó đều hướng về chúa trời. Hay thời kỳ phục hưng ngay sau đó do giai cấp tư sản đánh đổ giai cấp phong kiến đã có tinh thần khôi phục giá trị nhân văn con người đã mất của thời kỳ hưng thịnh cổ đại. Thì các tác phẩm đều ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, đồ vật…đều được ghi lại trong lịch sử.
Vì vậy GV cần hiểu sâu, rộng kiến thức áp dụng vào bài giảng chính xác, lấy VD sinh động sẽ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh.
Khoa văn học: Văn-Thơ mới thời đại, trào lưu cũng như các môn nghệ thuật nói chung đều ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng văn học thơ ca có liên hệ ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật tạo hình. Văn thơ diễn tả thế giới bằng sức mạnh ngôn từ, ngữ nghĩa, mĩ thuật diễn tả thế giớ bằng hình khối thông qua đường nét, màu sắc. mà qua các tác phẩm văn học dân gian, hiện đại có thể là đề tài cho những tác phẩm hội hoạ. Ngược lại vẻ đẹp trong tác phẩm mĩ thuật cũng có khi là đề tài cho những ngôn từ xúc tích.
Nhiều môn khoa học khác.
Mĩ thuật diễn tả thế giới bằng độ đậm nhạt của màu sắc và diễn tả không gian bằng luật xa gần để tạo không gian 3 chiều trên mặt phẳng 2 chiều thông qua luật xa gần của người hoạ sĩ 1 lăng kính hội tụ. Như vậy về mặt ánh sáng (đậm nhạt của màu sắc) liên quan đến vật lý học, luật xa gần (thấu kính hội tụ, độ tụ của những đường thẳng song song…) chứa đựng cả vật lý học và hình học, cảm xúc để diễn đạt những thứ đó liên quan đến sự cảm nhận và tâm sinh lý con người.
Ngoài ra, người hoạ sĩ xây dựng tác phẩm còn dựa vào yếu tố lớn, phụ thuộc vào tư tưởng của thời đại, phụ thuộc quan điểm nghệ thuật của trường phái và cảm xúc riêng của mình về thế giới xung quanh.
Với những trình bày đó người giáo viên muốn giảng đả nội dung, giảng hay nội dung của phân môn này phải có một kiến thức tổng hợp uyên thâm, cách trình bày cô đọng, xúc tích.
b, Yêu cầu chuẩn bị đồ dùng, tài liệu.
Sưu tầm tài liệu + Tranh ảnh minh hoạ.
- Phân môn mang nội dung kiến thức sâu rộng và tổng hợp. GV cần phải sưu tầm được những tư liệu, số liệu tương đối chính xác, phong phú để minh hoạ, chứng minh cho những vấn đề cụ thể.
VD: Chương trình mĩ thuật 6.
Bài 2: Sơ lược mĩ thuật Việt nam thời kỳ cổ đại.
Cần sưu tầm tài liệu lịch sử 6 phần cuộc sống người nguyên thuỷ.
Bài 8: Sơ lược mĩ thuật thời Lý (1010-1225) và bài 12 cần sưu tầm lịch sử thời lý- Đặc điểm XH thời Lý và sách “Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học” của Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh.
Bài 19 và bài 24:
Sưu tầm tài liệu tranh dân gian Việt Nam của Lê Thanh Đức, sưu tầm thêm một số tranh dân gian quen thuộc ngoài phạm vi bài giảng: Vịt và hoa sen, vinh hoa, phú quí, bán đồ, canh nông, phú quí...
Bài 29-32:
Sưu tầm tài liệu “Lịch sử mĩ thuật thế giới” của Phạm Thị Chỉnh và những tác phẩm của thời kỳ này như tranh ảnh về kim tự tháp, tượng nhân sư, tượng vệ nữ MiLô (Hy lạp), tượng Ôguýt (La Mã)... kèm theo những số liệu cụ thể về kích thước, chất liệu.
Có được những số liệu, tư liệu, tranh ảnh cụ thể, GV nhàn hơn khi giảng dạy, có sức hấp dẫn, thuyết phục, lôi cuốn HS để bài giảng đạt hiệu quả cao.
2, Một số phương pháp chung và áp dụng một số bài cụ thể:
a, Chia bố cục của bài thành những phần nhỏ có sự lôgic về nội dung (dựa trên SGK) mở rộng.
-Đây là phương pháp áp dụng những bài có nội dung dài và rộng. GV có thể dựa vào SGK (cả những kiến thức bài cũ và kiến thức bài mới) và SGV sắp đặt lai bố cục bài dạy cho phù hợp với phương pháp mình đang áp dụng nhằm đạt hiệu quả cao hơn. HS cảm nhận sự liền mạch của nội dung kiến thức và những minh hoạ, dẫn chứng ở từng phần.
VD: Mĩ thuật 6 bài 19: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam mà chủ yếu là hai dòng tranh chính: Đông Hồ và hàng Trống với những đặc điểm riêng.
Bài 24: Tìm hiểu môt số tranh dân gian Việt nam.
Vậy hai bài có liên quan chặt chẽ về nội dung. Bài 19 giới thiệu khái quát về tranh dân gian. Bài 24 giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu đó nhưng ở bài 24 trong SGK lại giới thiệu bốn bức tranh của hai dòng tranh không nhắc tới kiến thức cũ.
Trường hợp này, để cho HS dễ hiểu nội dung, từ đặc điểm chính vẽ cách sản xuất tranh, cách dùng màu, đến tác phẩm cụ thể của mỗi dòng tranh Hàng Trống và Đông Hồ GV nên sắp xếp như sau:
Ôn lại một cách tổng thể về dòng tranh Đông Hồ rồi giới thiệu những tác phâ
Qua thực tế giảng dạy môn mĩ thuật ở bậc THCS trong chương trình cũ, cũng như trong chương trình thay SGK mới. Đặc biệt với môn mĩ thuật và phân môn “ Thường thức mĩ thuật” có đặc điểm riêng về nội dung, lượng kiến thức, cách trình bày sẽ dẫn đến bài giảng đơn điệu, kém hiệu quả nếu ta không có phương pháp thiết kế bài giảng cho phù hợp.
Vì vậy mục đích của sáng kiến là việc ghi lại quá trình giảng dạy và tự rút ra những kinh nghiệm cho bản thân, cũng để cho đồng nghiệp tham khảo để cùng nhau tìm ra những giải pháp tốt, có hiệu quả phục vụ tốt cho phương pháp, công tác giảng dạy chuyên môn “ Thường thức mĩ thuật “ trong chương trình mĩ thuật THCS ngày càng được tốt hợn.
PHạM VI áp dụng:
áp dụng trong giảng dạy mĩ thuật THCS theo chương trình mới:
Cơ sở thực tiễn :
Nghiên cứu tổng hợp chương trình mĩ thuật bậc THCS ở chương trình SGK mới.
Nghiên cứu chung về lịch sử mĩ thuật Thế giới và lịch sử mĩ thuật Việt Nam. Qua chương trình mĩ thuật ở bậc CĐ và ĐH. qua một số cuốn sách:
+ “ Mĩ thuật và phương pháp dạy học” của Trịnh Thiệp + Ưng Thị Châu.
+ “ Kỹ hoạ và bố cục” của Tạ Phương Thảo, Nguyễn Lăng Bình.
+ “ Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học” của Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh và Nguyễn Thái Lại.
+ Tài liệu lịch sử (SGK 6, 7, 8, 9) và tài liệu lịch sử nói chung.
+ Một số sách về văn học với những tập tục, những nét văn hoá của người Việt Nam.
B. Giải quyết vấn đề.
I. Giới thiệu các phân môn trong chương trình mĩ thuật THCS.
Trong chương trình giảng dạy mĩ thuật ở THCS có bốn phân môn chính mang tính khái quát về mĩ thuật như sau:
1, Phân môn vẽ theo mẫu.
Là phân môn cung cấp cho HS biết quan sát, nhận xét nhanh đặc điểm của đối tượng, qua đó hình thành khả năng ghi và nhớ hình ảnh, làm phong phú trí tưởng tượng và biết cách tái hiện hình ảnh đó bằng diễn tả hình và khối. Đối tượng chủ yếu để vẽ là những đồ vật quen thuộc trong cuộc sống. Được thể hiên bằng chì, bằng màu sắc.
2, Phân môn trang trí.
Cung cấp cho HS hiểu về màu sắc, bản chất màu sắc và cách pha màu sắc. HS hiểu được cái đẹp trong màu sắc trong thiên nhiên, cuộc sống và trong mĩ thuật.
Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về trang trí các hình cơ bản và trang trí ứng dụng trong cuộc sống.
Qua đó HS hình thành những kỹ năng về trang trí các hình cơ bản, thực hành làm bài tốt dưới sự quan sát, nhận xét trong thiên nhiên và trí tưởng tượng phong phú.
3, Phân môn vẽ tranh đề tài.
Là phân môn tổng hợp cả về hình và màu trong nghệ thuật tạo hình. Phân môn vừa cung cấp, khêu gợi cho HS về thế giới phong phú của màu và hình. Qua đó giúp các em có khả năng tái hiện lại những hình ảnh, đề tài cuộc sống qua hình và màu, phát huy trí tưởng tượng phong phú và cách thể hiện hồn nhiên của HS THCS.
4, Phân môn “Thường thức mĩ thuật”.
Mĩ thuật là môn học có từ lâu đời gắn liền và xuyên suốt cuộc sống nhân loại ngay từ buổi đầu của chế độ công xã nguyên thuỷ đến nay và sẽ còn mãi mãi. Là môn học mang lại vẻ đẹp cho cuộc sống con người. Trải qua nhiều thế kỷ mĩ thuật cũng có nhiều thay đổi, sự mất đi và sự sinh sôi những quan điểm nghệ thuật, những trào lưu trường phái nghệ thuật, những thành tựu, những đỉnh cao chói lọi.
Phân môn “ Thường thức mĩ thuật” giúp cho HS hiểu được phần nào hoặc là bao quát về lịch sử mĩ thuật, những trào lưu,trường phái, quan điểm của từng thời kỳ cũng như những thành tựu đó.
Nội dung kiến thức mang tính tổng hợp nên GV cần phải có kiến thức tổng hợp sâu, rộng, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp.
II. Một số kinh nghiệm và giải pháp khi giảng day phân môn.
1, Một số yêu cầu về kiến thức.
a, Yêu cầu về kiến thức:
Như đã nói, đây là phân môn có nội dung kiến thức mang tính chất tổng hợp của nhiều môn khoa học.
- Khoa học lịch sử: Nhân loại đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội (từ XH nguyên thuỷ đến nay là XHCN) đã sản sinh những tư tưởng chính trị, xuất hiện xã hội khác nhau. Con người của từng thời đại phụ thuộc vào ý thức hệ thống chính trị đương thời. Nên các nền văn minh, văn hoá cũng nằm trong ý thức hệ đó và phản ánh xã hội đó, tư tưởng chính trị đương thời của xã hội đó.
VD: Đêm trường trung cổ Châu âu hơn 10 thế kỷ con người bị coi rẻ về nhân cách, coi khi sống là gửi gắm linh hồn, khi chết mới là cuộc sống vĩnh cửu và do giai cấp thống trị đã làm ngu muội tư tưởng, nhận thức con người để dễ cai trị. Nghệ thuật lúc đó đều hướng về chúa trời. Hay thời kỳ phục hưng ngay sau đó do giai cấp tư sản đánh đổ giai cấp phong kiến đã có tinh thần khôi phục giá trị nhân văn con người đã mất của thời kỳ hưng thịnh cổ đại. Thì các tác phẩm đều ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, đồ vật…đều được ghi lại trong lịch sử.
Vì vậy GV cần hiểu sâu, rộng kiến thức áp dụng vào bài giảng chính xác, lấy VD sinh động sẽ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh.
Khoa văn học: Văn-Thơ mới thời đại, trào lưu cũng như các môn nghệ thuật nói chung đều ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng văn học thơ ca có liên hệ ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật tạo hình. Văn thơ diễn tả thế giới bằng sức mạnh ngôn từ, ngữ nghĩa, mĩ thuật diễn tả thế giớ bằng hình khối thông qua đường nét, màu sắc. mà qua các tác phẩm văn học dân gian, hiện đại có thể là đề tài cho những tác phẩm hội hoạ. Ngược lại vẻ đẹp trong tác phẩm mĩ thuật cũng có khi là đề tài cho những ngôn từ xúc tích.
Nhiều môn khoa học khác.
Mĩ thuật diễn tả thế giới bằng độ đậm nhạt của màu sắc và diễn tả không gian bằng luật xa gần để tạo không gian 3 chiều trên mặt phẳng 2 chiều thông qua luật xa gần của người hoạ sĩ 1 lăng kính hội tụ. Như vậy về mặt ánh sáng (đậm nhạt của màu sắc) liên quan đến vật lý học, luật xa gần (thấu kính hội tụ, độ tụ của những đường thẳng song song…) chứa đựng cả vật lý học và hình học, cảm xúc để diễn đạt những thứ đó liên quan đến sự cảm nhận và tâm sinh lý con người.
Ngoài ra, người hoạ sĩ xây dựng tác phẩm còn dựa vào yếu tố lớn, phụ thuộc vào tư tưởng của thời đại, phụ thuộc quan điểm nghệ thuật của trường phái và cảm xúc riêng của mình về thế giới xung quanh.
Với những trình bày đó người giáo viên muốn giảng đả nội dung, giảng hay nội dung của phân môn này phải có một kiến thức tổng hợp uyên thâm, cách trình bày cô đọng, xúc tích.
b, Yêu cầu chuẩn bị đồ dùng, tài liệu.
Sưu tầm tài liệu + Tranh ảnh minh hoạ.
- Phân môn mang nội dung kiến thức sâu rộng và tổng hợp. GV cần phải sưu tầm được những tư liệu, số liệu tương đối chính xác, phong phú để minh hoạ, chứng minh cho những vấn đề cụ thể.
VD: Chương trình mĩ thuật 6.
Bài 2: Sơ lược mĩ thuật Việt nam thời kỳ cổ đại.
Cần sưu tầm tài liệu lịch sử 6 phần cuộc sống người nguyên thuỷ.
Bài 8: Sơ lược mĩ thuật thời Lý (1010-1225) và bài 12 cần sưu tầm lịch sử thời lý- Đặc điểm XH thời Lý và sách “Lược sử mĩ thuật và mĩ thuật học” của Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh.
Bài 19 và bài 24:
Sưu tầm tài liệu tranh dân gian Việt Nam của Lê Thanh Đức, sưu tầm thêm một số tranh dân gian quen thuộc ngoài phạm vi bài giảng: Vịt và hoa sen, vinh hoa, phú quí, bán đồ, canh nông, phú quí...
Bài 29-32:
Sưu tầm tài liệu “Lịch sử mĩ thuật thế giới” của Phạm Thị Chỉnh và những tác phẩm của thời kỳ này như tranh ảnh về kim tự tháp, tượng nhân sư, tượng vệ nữ MiLô (Hy lạp), tượng Ôguýt (La Mã)... kèm theo những số liệu cụ thể về kích thước, chất liệu.
Có được những số liệu, tư liệu, tranh ảnh cụ thể, GV nhàn hơn khi giảng dạy, có sức hấp dẫn, thuyết phục, lôi cuốn HS để bài giảng đạt hiệu quả cao.
2, Một số phương pháp chung và áp dụng một số bài cụ thể:
a, Chia bố cục của bài thành những phần nhỏ có sự lôgic về nội dung (dựa trên SGK) mở rộng.
-Đây là phương pháp áp dụng những bài có nội dung dài và rộng. GV có thể dựa vào SGK (cả những kiến thức bài cũ và kiến thức bài mới) và SGV sắp đặt lai bố cục bài dạy cho phù hợp với phương pháp mình đang áp dụng nhằm đạt hiệu quả cao hơn. HS cảm nhận sự liền mạch của nội dung kiến thức và những minh hoạ, dẫn chứng ở từng phần.
VD: Mĩ thuật 6 bài 19: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam mà chủ yếu là hai dòng tranh chính: Đông Hồ và hàng Trống với những đặc điểm riêng.
Bài 24: Tìm hiểu môt số tranh dân gian Việt nam.
Vậy hai bài có liên quan chặt chẽ về nội dung. Bài 19 giới thiệu khái quát về tranh dân gian. Bài 24 giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu đó nhưng ở bài 24 trong SGK lại giới thiệu bốn bức tranh của hai dòng tranh không nhắc tới kiến thức cũ.
Trường hợp này, để cho HS dễ hiểu nội dung, từ đặc điểm chính vẽ cách sản xuất tranh, cách dùng màu, đến tác phẩm cụ thể của mỗi dòng tranh Hàng Trống và Đông Hồ GV nên sắp xếp như sau:
Ôn lại một cách tổng thể về dòng tranh Đông Hồ rồi giới thiệu những tác phâ
 








Các ý kiến mới nhất