Tìm kiếm Giáo án
Tuần 2. Sắc màu em yêu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lâm Huệ Trí
Ngày gửi: 15h:32' 22-07-2021
Dung lượng: 74.0 KB
Số lượt tải: 49
Nguồn:
Người gửi: Lâm Huệ Trí
Ngày gửi: 15h:32' 22-07-2021
Dung lượng: 74.0 KB
Số lượt tải: 49
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ CẦN B
GV: LÂM HUỆ TRÍ
CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 5 GIẢI
TOÁN DẠNG TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỈ – HIỆU VÀ TỈ CỦA HAI SỐ ĐÓ
NĂM HỌC: 2014 -2015
(((((((
I. Lý do chọn chuyên đề:
1. Đa số học sinh là con em người dân tộc Khmer, đời sống phần nhiều gặp khó khăn, một số phụ huynh chưa quan tâm sâu sắc đối với con em của mình. Chính vì thế, cũng có phần ảnh hưởng trong việc học tập của các em.
2. Lớp học có tỉ lệ học sinh người dân tộc Khmer gần 100%, khả năng tiếp thu tiếng Việt còn hạn chế, từ đó dẫn đến học sinh sẽ bị yếu kém về mọi mặt, càng ngày học sinh càng hỏng kiến thức nặng. Nhưng điều đáng nói là khi học sinh đã lên lớp 5, có em đọc còn yếu, không hiểu những điều mình đã đọc huống chi hiểu được sâu sắc đề toán. Từ đó làm cho học sinh ngày càng yếu, khả năng giải những bài toán có lời văn, đặc biệt là những dạng toán điển hình đã đi vào bế tắt.
Mặt khác, học sinh bị hạn chế về độ nhớ, khả năng phân tích, so sánh cũng như các thao tác của tư duy. Từ đó học sinh dẫn đến bế tắt về vốn kiến thức do không nhớ cũng như khó nhớ những vấn đề cơ bản để từ vấn đề cơ bản suy luận biến thành cái riêng của mình và áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, kĩ năng sống cũng như trình bày nhiều cách giải phong phú.
3. Trước tình hình đó nếu như không có giải pháp nào thì các em ngày càng hỏng kiến thức nặng và mọi kĩ năng giải toán càng bị lu mờ đi. Với lý do đó, bản thân có hướng sáng kiến kinh nghiệm, nhằm nâng dần từng bước chất lượng dạy – học cho học sinh, đồng thời phát triển tư duy và tự chiếm lĩnh một khối lượng kiến thức cho học sinh để từ đó học sinh có thể giải được một số dạng toán điển hình có lời văn thông qua sáng kiến, kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 giải toán dạng tìm hai số khi biết tổng và tỉ – hiệu và tỉ của hai số đó.
- Thực tế ở năm học này, ta tiếp tục ứng dụng CCM trong việc dạy học, dạy học sinh hoà nhập và phù hợp với mọi đối tượng cùng với ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học và chương trình Seqap, nhưng GV chưa thật sự phát huy tính sáng tạo của mình, còn bám sát SGV và nội dung chương trình SGK, thực hiện cứng nhắc theo chỉ đạo của cấp trên, chưa mạnh dạn phát huy sáng tạo trong công tác giảng dạy, đó cũng là vấn đề hạn chế trong việc dạy - học để đáp ứng vấn đề trên.
- Mặt khác, nhiều giáo viên chưa đi sâu nghiên cứu nét tâm lí đặc trưng và ngưỡng tiếp thu của học sinh trên địa bàn trường Tiểu học Phú Cần B, chưa xem việc dạy – học theo đối tượng để từ đó nâng dần khả năng tiếp thu của học sinh. Vì vậy, các giờ học toán như một áp lực đối với học sinh và học sinh phải cố gắng “ nhồi nhét” kiến thức vào đầu bằng yêu cầu bắt buộc của giáo viên như lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn sao chép toàn bộ các kiến thức vào đầu như một cái máy nhưng than ôi cái máy đã “ hỏng bộ nhớ” nên không mang lại kết quả gì. Từ đó dẫn đến kết quả chung là học sinh đã yếu kém về mọi mặt nhưng trầm trọng nhất vẫn là giải toán có lời văn điển hình.
* Dựa vào nguyên tắc giáo dục và nội dung chương trình cùng với sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn giảng dạy cho thấy rằng:
- Để giải được một bài toán thì điều trước tiên là phải hiểu đề toán.
- Nắm được đề toán thuộc dạng gì ?
- Biết được cách giải.
- Trình bày bài giải theo nhiều cách.
* Cơ sở thực tiễn:
Theo thực tiễn cho thấy việc dạy học trong nhà trường khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực mà thiếu đưa ra một số kinh nghiệm riêng của bản thân để giúp học sinh thì khó thành công. Do đó áp dụng phương pháp dạy học tích cực kết hợp sử dụng kinh nghiệm của bản thân để dạy học có nhiều ưu việt, đó là bởi vì:
- Đối với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học ở địa bàn của trường là thích những hình thức mới, dễ nhớ, phù hợp với khả năng, hóm hỉnh, vui tươi. Còn những hình thức cũ, theo nguyên tắc cứng nhắc hoặc quá chung chung không có điểm tựa thì học sinh thường hay nhàm chán, dễ quên và như một cực hình trong giờ học toán gây mất tính “ Thân thiện và tích cực” đối
GV: LÂM HUỆ TRÍ
CHUYÊN ĐỀ:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 5 GIẢI
TOÁN DẠNG TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỈ – HIỆU VÀ TỈ CỦA HAI SỐ ĐÓ
NĂM HỌC: 2014 -2015
(((((((
I. Lý do chọn chuyên đề:
1. Đa số học sinh là con em người dân tộc Khmer, đời sống phần nhiều gặp khó khăn, một số phụ huynh chưa quan tâm sâu sắc đối với con em của mình. Chính vì thế, cũng có phần ảnh hưởng trong việc học tập của các em.
2. Lớp học có tỉ lệ học sinh người dân tộc Khmer gần 100%, khả năng tiếp thu tiếng Việt còn hạn chế, từ đó dẫn đến học sinh sẽ bị yếu kém về mọi mặt, càng ngày học sinh càng hỏng kiến thức nặng. Nhưng điều đáng nói là khi học sinh đã lên lớp 5, có em đọc còn yếu, không hiểu những điều mình đã đọc huống chi hiểu được sâu sắc đề toán. Từ đó làm cho học sinh ngày càng yếu, khả năng giải những bài toán có lời văn, đặc biệt là những dạng toán điển hình đã đi vào bế tắt.
Mặt khác, học sinh bị hạn chế về độ nhớ, khả năng phân tích, so sánh cũng như các thao tác của tư duy. Từ đó học sinh dẫn đến bế tắt về vốn kiến thức do không nhớ cũng như khó nhớ những vấn đề cơ bản để từ vấn đề cơ bản suy luận biến thành cái riêng của mình và áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, kĩ năng sống cũng như trình bày nhiều cách giải phong phú.
3. Trước tình hình đó nếu như không có giải pháp nào thì các em ngày càng hỏng kiến thức nặng và mọi kĩ năng giải toán càng bị lu mờ đi. Với lý do đó, bản thân có hướng sáng kiến kinh nghiệm, nhằm nâng dần từng bước chất lượng dạy – học cho học sinh, đồng thời phát triển tư duy và tự chiếm lĩnh một khối lượng kiến thức cho học sinh để từ đó học sinh có thể giải được một số dạng toán điển hình có lời văn thông qua sáng kiến, kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 giải toán dạng tìm hai số khi biết tổng và tỉ – hiệu và tỉ của hai số đó.
- Thực tế ở năm học này, ta tiếp tục ứng dụng CCM trong việc dạy học, dạy học sinh hoà nhập và phù hợp với mọi đối tượng cùng với ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học và chương trình Seqap, nhưng GV chưa thật sự phát huy tính sáng tạo của mình, còn bám sát SGV và nội dung chương trình SGK, thực hiện cứng nhắc theo chỉ đạo của cấp trên, chưa mạnh dạn phát huy sáng tạo trong công tác giảng dạy, đó cũng là vấn đề hạn chế trong việc dạy - học để đáp ứng vấn đề trên.
- Mặt khác, nhiều giáo viên chưa đi sâu nghiên cứu nét tâm lí đặc trưng và ngưỡng tiếp thu của học sinh trên địa bàn trường Tiểu học Phú Cần B, chưa xem việc dạy – học theo đối tượng để từ đó nâng dần khả năng tiếp thu của học sinh. Vì vậy, các giờ học toán như một áp lực đối với học sinh và học sinh phải cố gắng “ nhồi nhét” kiến thức vào đầu bằng yêu cầu bắt buộc của giáo viên như lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn sao chép toàn bộ các kiến thức vào đầu như một cái máy nhưng than ôi cái máy đã “ hỏng bộ nhớ” nên không mang lại kết quả gì. Từ đó dẫn đến kết quả chung là học sinh đã yếu kém về mọi mặt nhưng trầm trọng nhất vẫn là giải toán có lời văn điển hình.
* Dựa vào nguyên tắc giáo dục và nội dung chương trình cùng với sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn giảng dạy cho thấy rằng:
- Để giải được một bài toán thì điều trước tiên là phải hiểu đề toán.
- Nắm được đề toán thuộc dạng gì ?
- Biết được cách giải.
- Trình bày bài giải theo nhiều cách.
* Cơ sở thực tiễn:
Theo thực tiễn cho thấy việc dạy học trong nhà trường khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực mà thiếu đưa ra một số kinh nghiệm riêng của bản thân để giúp học sinh thì khó thành công. Do đó áp dụng phương pháp dạy học tích cực kết hợp sử dụng kinh nghiệm của bản thân để dạy học có nhiều ưu việt, đó là bởi vì:
- Đối với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học ở địa bàn của trường là thích những hình thức mới, dễ nhớ, phù hợp với khả năng, hóm hỉnh, vui tươi. Còn những hình thức cũ, theo nguyên tắc cứng nhắc hoặc quá chung chung không có điểm tựa thì học sinh thường hay nhàm chán, dễ quên và như một cực hình trong giờ học toán gây mất tính “ Thân thiện và tích cực” đối
 









Các ý kiến mới nhất