Tìm kiếm Giáo án
rural life

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thanh Phuong
Ngày gửi: 20h:23' 07-11-2009
Dung lượng: 91.0 KB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: Phan Thanh Phuong
Ngày gửi: 20h:23' 07-11-2009
Dung lượng: 91.0 KB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
Cuộc sống nông thôn
điều kiện kinh tế
Ở Việt Nam ba phần tư đất của nó được sử dụng cho nông nghiệp và khoảng 80% của người Việt Nam sống ở các vùng nông thôn. Hai phần ba các công việc lực lượng lao động trong nông nghiệp. Điều kiện ở vùng nông thôn rất khắc nghiệt và nông dân cần phải làm việc nhiều giờ, và các em phải làm việc sau khi hoặc trước khi học để kiếm tiền cho gia đình. Vào thời gian thu hoạch giúp đỡ các trẻ em phải ở nhà và không đi học.
điều kiện sống
Nhà ở khu vực nông thôn của miền Nam nơi có khí hậu ấm hơn, được xây dựng bằng gỗ, và tại miền Bắc nơi có khí hậu lạnh hơn, được xây dựng bằng đá. Nhà ở miền quê được xây dựng bằng gỗ với lá cọ hoặc rơm trên mái nhà, một tầng bụi đất và thường không có điện hay nước. Dân làng lấy nước từ các địa phương hoặc sông, và nó được đun sôi để diệt các vi trùng.
Mỗi nhà thường có hai phòng, một khu vườn nhỏ, nơi cây trồng được trồng cho gia đình để ăn và bán, một vài con gà, một vài con lợn cũng như một con trâu hoặc bò được nuôi ở khu vực bên cạnh nhà. Mỗi làng có một cái chợ_ nơi mà người dân có thể mua gạo, rau, hoa quả và hải sản.
Các nhà cao tầng phổ biến ở các thành phố lớn đang được xây dựng trong các khu vực nông thôn. Một số nông dân đang bán đất của mình để phát triển, họ xây dựng một ngôi nhà mới và sau đó làm việc cho các chủ sở hữu đất đai.
phương tiện giao thông
Một vài ng ười ở th ôn qu ê đã sở hữu xe tải. Nhiều gia đình đi b ằng xe máy hoặc xe đạp. Trong khu vực nông thôn có nhiều người đi bộ khoảng cách dài, hoặc sử dụng xe bò.
giáo dục
Các em sống ở các vùng nông thôn đi học 7:30-11:30 hoặc trong buổi chiều họ bắt đầu lúc 1:00 và đến 17:00. Trong trường tiểu học c ác em đ ư ợc d ạy để đọc, viết và làm toán. Trong trong tr ư ờng trung hoc,c ác em tìm hiểu về lịch sử, toán học, sinh học, khoa học và hóa học. Không phải tất cả trẻ em ở các vùng nông thôn đ ều đi học, vì c ác em là cần thiết để giúp đỡ gia đình của họ trên các c ánh đ ồng. phòng hi ệu tr ư ởng, các giáo viên k éo đ ến ph òng h ọc, gi áo vi ên ch ở tv và video các trên xe máy .
M ôi tr ư ờng s ống
Ở Việt Nam, khu vực nông thôn có nhà đến hơn 70% tổng số dân và tài nguyên thiên nhiên đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Chúng bao gồm tăng dân số tự lắp, mất đất nông, nghèo đói nghiêm trọng đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, miền núi, và ô nhiễm môi trường làm việc và sinh sống.
Một phạm vi rộng lớn của đất ở nông thôn, nước và các nguồn tài nguyên không khí đã bị xuống cấp nặng nề hơn sử dụng, xói mòn, lũ lụt, gây ô nhiễm nông ngành công nghiệp, thoát nghèo, nước thải hóa chất, thuốc trừ sâu và phân bón, quy hoạch sử dụng đất, di dân, và các công nghệ không thích hợp.
Ngoài sự xuống cấp rõ ràng về rừng và đất nông, ô nhiễm từ nông trong ngành công nghiệp làng nghề, trang trại công nghiệp nhỏ là một tính năng của đời sống nông thôn. Việc sản xuất gốm sứ, gạch, rượu, chế biến thực phẩm, thảm và đúc kim loại tạo ra mức độ ô nhiễm mà đôi khi vượt quá tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế .
điều kiện kinh tế
Ở Việt Nam ba phần tư đất của nó được sử dụng cho nông nghiệp và khoảng 80% của người Việt Nam sống ở các vùng nông thôn. Hai phần ba các công việc lực lượng lao động trong nông nghiệp. Điều kiện ở vùng nông thôn rất khắc nghiệt và nông dân cần phải làm việc nhiều giờ, và các em phải làm việc sau khi hoặc trước khi học để kiếm tiền cho gia đình. Vào thời gian thu hoạch giúp đỡ các trẻ em phải ở nhà và không đi học.
điều kiện sống
Nhà ở khu vực nông thôn của miền Nam nơi có khí hậu ấm hơn, được xây dựng bằng gỗ, và tại miền Bắc nơi có khí hậu lạnh hơn, được xây dựng bằng đá. Nhà ở miền quê được xây dựng bằng gỗ với lá cọ hoặc rơm trên mái nhà, một tầng bụi đất và thường không có điện hay nước. Dân làng lấy nước từ các địa phương hoặc sông, và nó được đun sôi để diệt các vi trùng.
Mỗi nhà thường có hai phòng, một khu vườn nhỏ, nơi cây trồng được trồng cho gia đình để ăn và bán, một vài con gà, một vài con lợn cũng như một con trâu hoặc bò được nuôi ở khu vực bên cạnh nhà. Mỗi làng có một cái chợ_ nơi mà người dân có thể mua gạo, rau, hoa quả và hải sản.
Các nhà cao tầng phổ biến ở các thành phố lớn đang được xây dựng trong các khu vực nông thôn. Một số nông dân đang bán đất của mình để phát triển, họ xây dựng một ngôi nhà mới và sau đó làm việc cho các chủ sở hữu đất đai.
phương tiện giao thông
Một vài ng ười ở th ôn qu ê đã sở hữu xe tải. Nhiều gia đình đi b ằng xe máy hoặc xe đạp. Trong khu vực nông thôn có nhiều người đi bộ khoảng cách dài, hoặc sử dụng xe bò.
giáo dục
Các em sống ở các vùng nông thôn đi học 7:30-11:30 hoặc trong buổi chiều họ bắt đầu lúc 1:00 và đến 17:00. Trong trường tiểu học c ác em đ ư ợc d ạy để đọc, viết và làm toán. Trong trong tr ư ờng trung hoc,c ác em tìm hiểu về lịch sử, toán học, sinh học, khoa học và hóa học. Không phải tất cả trẻ em ở các vùng nông thôn đ ều đi học, vì c ác em là cần thiết để giúp đỡ gia đình của họ trên các c ánh đ ồng. phòng hi ệu tr ư ởng, các giáo viên k éo đ ến ph òng h ọc, gi áo vi ên ch ở tv và video các trên xe máy .
M ôi tr ư ờng s ống
Ở Việt Nam, khu vực nông thôn có nhà đến hơn 70% tổng số dân và tài nguyên thiên nhiên đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Chúng bao gồm tăng dân số tự lắp, mất đất nông, nghèo đói nghiêm trọng đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, miền núi, và ô nhiễm môi trường làm việc và sinh sống.
Một phạm vi rộng lớn của đất ở nông thôn, nước và các nguồn tài nguyên không khí đã bị xuống cấp nặng nề hơn sử dụng, xói mòn, lũ lụt, gây ô nhiễm nông ngành công nghiệp, thoát nghèo, nước thải hóa chất, thuốc trừ sâu và phân bón, quy hoạch sử dụng đất, di dân, và các công nghệ không thích hợp.
Ngoài sự xuống cấp rõ ràng về rừng và đất nông, ô nhiễm từ nông trong ngành công nghiệp làng nghề, trang trại công nghiệp nhỏ là một tính năng của đời sống nông thôn. Việc sản xuất gốm sứ, gạch, rượu, chế biến thực phẩm, thảm và đúc kim loại tạo ra mức độ ô nhiễm mà đôi khi vượt quá tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế .
 









Các ý kiến mới nhất