Phụ lục. Một số bài hát để bổ sung, thay thế hoặc dùng cho ngoại khoá

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Thuận
Ngày gửi: 13h:08' 17-05-2015
Dung lượng: 83.5 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Thuận
Ngày gửi: 13h:08' 17-05-2015
Dung lượng: 83.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
CHUYÊN ĐỀ
TỔNG QUAN VỀ DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ
( Người báo cáo: Võ Thị Thuận - PHT )
A. Một vài nét về văn hóa dân gian Xứ Nghệ:
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ - Di sản vô giá trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt Nam .
Nhắc đến địa danh xứ Nghệ, người ta nghĩ đến núi Hồng, sông Lam, nghĩ đến những danh nhân làm rạng rỡ dân tộc như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta cũng không quên nhớ tới làn điệu dân ca ví, giặm làm say đắm lòng người. Hàng thế kỷ qua, mỗi câu hát dân ca ví, giặm đều thể hiện một cách chân thực, tinh tế mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần… đã trở thành di sản vô giá trong dòng chảy văn hoá dân gian.Theo thống kê sơ bộ, kho tàng dân ca xứ Nghệ có khoảng 30 làn điệu, trong đó ví chiếm tới mười làn, giặm chiếm dăm, bảy làn, còn lại là hò vè. Dân ca ví, giặm xứ Nghệ do cộng đồng sáng tạo nên trong quá trình lao động sinh hoạt. Từ khi ra đời đến nay, nhìn chung lịch sử của ví, giặm là một quá trình luôn phát triển, cả bề rộng, bề sâu mà chưa hề đứt nối và ngày càng có sức sống mãnh liệt. Ví và giặm là hai thể hát dân ca đặc sắc của xứ Nghệ vừa có nét tương đồng về đối tượng, cách thức, không gian, thời gian diễn xướng, vừa có nét đặc trưng, khác biệt ở hình thức biểu hiện, âm nhạc, ca từ. Nhân dân xứ Nghệ hát ví, giặm không kể thời gian, mọi lứa tuổi có thể tham gia cuộc hát. Ca từ của ví, giặm vừa mang tính dân gian - giản dị, chân chất ý vị của cuộc sống, câu chữ đều quyện chặt tính thổ âm của xứ Nghệ với tính dân tộc của Việt Nam. Mặt khác ca từ đó vừa mang đậm tính trí tuệ, tính bác học và cả tính "trạng"- mang ý nghĩa phồn thực.
Tuy chỉ có một số làn điệu chủ yếu, song làn điệu ví, giặm được biến hóa sinh động theo tình cảm, tâm trạng của người hát, theo môi trường khi hát và cả tính cách của đối phương khi hát giao duyên với nhau. Ví là một thể hát tự do, ngâm vịnh theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể trên cơ sở phương ngữ xứ Nghệ. Hát ví gắn với hoạt động lao động sản xuất đang diễn ra nên có ví đò đưa, ví trèo non; gắn với nghề nghiệp như ví phường đan, ví phường vải, ví phường củi, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví mục đồng, ví ghẹo … Trong hát ví có các cách thức diễn xướng: hát lẻ, hát đối đáp và hát cuộc. Trong các cuộc hát thì hát ví phường vải là có quy cách và thủ tục tương đối chặt chẽ. Ví luôn tạo ra môi trường sáng tạo phóng khoáng, sự phóng khoáng của ví thể hiện ở độ co dãn của bài, nó tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của ca từ. Âm điệu cao thấp của ví cũng mang tính ngẫu hứng, nó tạo cho người nghe cảm giác man mác, da diết, thân tình.
Giặm là thể hát nói có nhịp dựa theo thể thơ ngụ ngôn và vè. Một bài giặm có nhiều khổ, loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 được gọi là giặm. Giặm giàu tính kể lể, tự sự, tự tình, khuyên răn, giãi bày.... Có nhiều điệu giặm như giặm kể, giặm nối, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm xẩm, giặm vè… Có loại giặm dí dỏm, châm biếm, trào lộng, lại có loại giặm giao duyên giàu chất trữ tình. Cách thức của hát giặm gồm hát nói và hát ngâm. Câu hát nói thường 5 chữ, còn hát ngâm thường trên 6 dưới 8 chữ. Hát giặm nam nữ có phường, có cuộc, có thể 2-3 người, 5-7 người, có khi nhiều hơn, nhưng khi hát chủ yếu là do 1 người hát, 2 hoặc 3 người đỡ giọng, người khác nghe…Hiện nay, hát ví, giặm đã có những thay đổi để thích ứng với hình thái, kinh tế xã hội mới. Nó vẫn tồn tại và khẳng định sức sống của nó trong đời sống đương đại. Thông qua nhiều hình thức, từ hát trong sinh hoạt đến tái hiện trên sân khấu, sàn diễn. Nó được bảo lưu, gìn giữ và phát huy bởi cả cộng đồng người Nghệ và ngay cả những người không sinh ra trên quê hương xứ Nghệ. Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã đưa ví giặm vào danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia”, trình Thủ tướng Chính phủ cho lập hồ sơ trình UNESCO ghi
TỔNG QUAN VỀ DÂN CA VÍ, GIẶM XỨ NGHỆ
( Người báo cáo: Võ Thị Thuận - PHT )
A. Một vài nét về văn hóa dân gian Xứ Nghệ:
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ - Di sản vô giá trong dòng chảy văn hóa dân gian Việt Nam .
Nhắc đến địa danh xứ Nghệ, người ta nghĩ đến núi Hồng, sông Lam, nghĩ đến những danh nhân làm rạng rỡ dân tộc như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta cũng không quên nhớ tới làn điệu dân ca ví, giặm làm say đắm lòng người. Hàng thế kỷ qua, mỗi câu hát dân ca ví, giặm đều thể hiện một cách chân thực, tinh tế mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần… đã trở thành di sản vô giá trong dòng chảy văn hoá dân gian.Theo thống kê sơ bộ, kho tàng dân ca xứ Nghệ có khoảng 30 làn điệu, trong đó ví chiếm tới mười làn, giặm chiếm dăm, bảy làn, còn lại là hò vè. Dân ca ví, giặm xứ Nghệ do cộng đồng sáng tạo nên trong quá trình lao động sinh hoạt. Từ khi ra đời đến nay, nhìn chung lịch sử của ví, giặm là một quá trình luôn phát triển, cả bề rộng, bề sâu mà chưa hề đứt nối và ngày càng có sức sống mãnh liệt. Ví và giặm là hai thể hát dân ca đặc sắc của xứ Nghệ vừa có nét tương đồng về đối tượng, cách thức, không gian, thời gian diễn xướng, vừa có nét đặc trưng, khác biệt ở hình thức biểu hiện, âm nhạc, ca từ. Nhân dân xứ Nghệ hát ví, giặm không kể thời gian, mọi lứa tuổi có thể tham gia cuộc hát. Ca từ của ví, giặm vừa mang tính dân gian - giản dị, chân chất ý vị của cuộc sống, câu chữ đều quyện chặt tính thổ âm của xứ Nghệ với tính dân tộc của Việt Nam. Mặt khác ca từ đó vừa mang đậm tính trí tuệ, tính bác học và cả tính "trạng"- mang ý nghĩa phồn thực.
Tuy chỉ có một số làn điệu chủ yếu, song làn điệu ví, giặm được biến hóa sinh động theo tình cảm, tâm trạng của người hát, theo môi trường khi hát và cả tính cách của đối phương khi hát giao duyên với nhau. Ví là một thể hát tự do, ngâm vịnh theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể trên cơ sở phương ngữ xứ Nghệ. Hát ví gắn với hoạt động lao động sản xuất đang diễn ra nên có ví đò đưa, ví trèo non; gắn với nghề nghiệp như ví phường đan, ví phường vải, ví phường củi, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví mục đồng, ví ghẹo … Trong hát ví có các cách thức diễn xướng: hát lẻ, hát đối đáp và hát cuộc. Trong các cuộc hát thì hát ví phường vải là có quy cách và thủ tục tương đối chặt chẽ. Ví luôn tạo ra môi trường sáng tạo phóng khoáng, sự phóng khoáng của ví thể hiện ở độ co dãn của bài, nó tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của ca từ. Âm điệu cao thấp của ví cũng mang tính ngẫu hứng, nó tạo cho người nghe cảm giác man mác, da diết, thân tình.
Giặm là thể hát nói có nhịp dựa theo thể thơ ngụ ngôn và vè. Một bài giặm có nhiều khổ, loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 được gọi là giặm. Giặm giàu tính kể lể, tự sự, tự tình, khuyên răn, giãi bày.... Có nhiều điệu giặm như giặm kể, giặm nối, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm xẩm, giặm vè… Có loại giặm dí dỏm, châm biếm, trào lộng, lại có loại giặm giao duyên giàu chất trữ tình. Cách thức của hát giặm gồm hát nói và hát ngâm. Câu hát nói thường 5 chữ, còn hát ngâm thường trên 6 dưới 8 chữ. Hát giặm nam nữ có phường, có cuộc, có thể 2-3 người, 5-7 người, có khi nhiều hơn, nhưng khi hát chủ yếu là do 1 người hát, 2 hoặc 3 người đỡ giọng, người khác nghe…Hiện nay, hát ví, giặm đã có những thay đổi để thích ứng với hình thái, kinh tế xã hội mới. Nó vẫn tồn tại và khẳng định sức sống của nó trong đời sống đương đại. Thông qua nhiều hình thức, từ hát trong sinh hoạt đến tái hiện trên sân khấu, sàn diễn. Nó được bảo lưu, gìn giữ và phát huy bởi cả cộng đồng người Nghệ và ngay cả những người không sinh ra trên quê hương xứ Nghệ. Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia đã đưa ví giặm vào danh mục “Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia”, trình Thủ tướng Chính phủ cho lập hồ sơ trình UNESCO ghi
 








Các ý kiến mới nhất