Phân tích truyện ngắn: Vợ nhặt (2)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:45' 20-05-2008
Dung lượng: 73.5 KB
Số lượt tải: 123
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:45' 20-05-2008
Dung lượng: 73.5 KB
Số lượt tải: 123
Số lượt thích:
0 người
Vợ nhặt
Phân tích truyện ngắn của Kim lân
I – Nội dung tư tưởng
1. Đề tài: vợ nhặt viết về mảng đời sống nông thôn trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp diễn ra năm 1945 làm cho 2 triệu đồng bào ta chết đói. Câu truyện diễn ra ở một xóm dân ngụ cư qua cảnh ngộ của một gia đình cụ thể mà cái nghèo khó vốn đeo bám họ suốt cả một đời người.
2. Chủ đề: vợ nhặt không tập trung đi sâu vào nỗi khổ vật chất mặc dù cũng có đủ các biểu hiện của tình trạng thê thảm của sự nghèo đói mà nêu lên một khía cạnh hết sức độc đáo: một tình huống gần như có một không hai, gây bất ngờ sửng sốt đối với tất cả mọi người là hiện tượng “vợ nhặt” như tiêu đề thiên truyện ngắn. Câu truện hông nhân thành vợ thành chồngtrong lúc ngày mai không biết sống chết ra sao, giữa lúc thiên hạ chết đói đầy đường đầy chợ. Nói cách khác, sự sống ló ra trong cái chết, cái sống và cái chết và cái sống đang tranh chấp với nhau.
Người ta vẫn lấy nhau trong bóng tối của tử thần quả là một ngịch lý, nghịch lý mà có thật – dù là hư cấu song vẫn là thật nếu xét tới cội nguồn bản chất của con người.
3. Tư tưởng. – Khẳng định bản chất ham sống của con người. Sự sống mạnh hơn cái chết. Xét cho cùng, đó chính là bản chất lạc quancủa con người trong quá trình tồn tại của mình, thứ bản chất mà văn học dân gian đã từng thể hiện:
“Đừng có chết mất thì thôi
Sống thời có lúc no xôi chán chè”
Hay: “chớ than phận khó ai ơi
Còn da: lông mọc, còn chồi nảy cây”
Cái chổi của lòng ham sống vẫn không bị thui chột trong lòng người ngay trong thời điểm gần như tuyệt vọng.
II – hình thức nghệ thuật
1.Yếu tố tạo hình. – tác giả truyện “vợ nhặt” bằng vốn sống và tài năng độc đáo của mình đã tạo ra một tình huống đặc biệt, trong đó các nhân vật bộc lộ số phận của mình một cách nổi bật. Một cô gái không phải loại đờ đẫn gì, cũng có nét khôn ngoan nào đó, mà dễ dàng theo anh Tràng, dáng người thô kệch sau khi được đãi bốn bát bánh đúc mà nàng ăn ngấu nghiến với một câu nói tầm phào của Tràng; một số phận bi thảm của một đời con gái mà tác dỉa kgông nỡ gọi tên mà chỉ gọi là thị. Một anh Trành, xấu xí đã đành, mà nghèo suốt đời không thể lấy ai làm vợ nếu không có cái vụ đói khủng khiếp xảy ra. Cả đời chưa bao giờ cảm thấy mình nên người mà chỉ cảm thấy điều đó vào sáng hôm sau cái đêm tân hôn. Và từ đó mới thấy mình có một trách nhiệm với gia đình, với vợ con – một điều hết sức bình dị và tự nhiên, song đối với anh như một khám phá thế giới mới. Một bà mẹ già từng trải, trước việc bất ngờ con mình nhặt được vợ, từ không hiểu đến lúc hiểu ra rồi thì trào lên bao nhiêu là cảm xúc đan xen: mừng lòng đấy nhưng tủi nhiều, lo nhiều hơn, thương con thương dâu nhiều hơn, ân hận về trách nhiệm của người mẹ không làm tròn nghĩa vụ nên xót xa cho đời mình, cho con. Song, bà cầu mong một ngày maivới một niềm tin cố hữu “ai goầu ba họ ai khó ba đời” và chính bà nghĩ ra bao nhiêu là truyện vui sau này cho con cho cháu, và mặt mày cũng đỡ héo hon, cặm cụi quét dọn nhà cửa vườn tược với ýa nghĩ cuộc sống tốt lành sẽ tới.
Bên những nhân vật ấy, là cái bóng của tử thần lảng vảng, như một lưỡi gươm trưo trên đầu các nạn nhân: mùi dấm trấu xua tử khí của người chết, tiếng hờ thê thảm theo gió lan tới các gia đình khốn khổ.
2. Kết cấu.- Câu truyện được thuật theo một trật tự tự nhiên của thời gian, không có sự sáo trộn nào đặc biệt. Song kết cấu triệt để sử dụng pháp tương phản: Tràng ngày trước là nguồn vui của lũ trẻ nhỏ mỗi khi anh đi làm về qua đem lại tiếng cười cho cái xóm ngụ cư vốn đã im lìn trong mệt mỏi và nghèo khổ thì nay, Tràng lầm lũi và lũ trẻ nhỏ cũng ru rú ở xó nhà chứ không bám níu lấy anh như hồi trước. Một không khí cgết chíc đậm nét dần, chìm vào cái im lìm buồn thảm. Sự tương phản còn thể hiện ở chỗ việc Tràng có vợ như là một nghịch lý gây nên sự ngạc nhiên của hết thảy từ xóm giềng, bà mẹ và cả người trong cuộc là Tràng. Sự tương phản còn cả trong sự đan xen, đối trọi trong từng chi tiết: cùng với tiếng cười khúc khích của đôi vợ chồng trẻ trong tối tân hôn là tiếng hờ khóc người thân vọng đến, cùng đồng hiện.
Ngôn nghữ, kết cấu ấy phục tùng việc biểu đạt nổi bật chủ đề và câu truyện.
3. Ngôn từ. -Điểm nổi bật của lời văn nghệ thuật của vợ nhặt là thứ ngôn nghữ đậm nét chất đời sống thực.
Đây là vài nét khắc hoạ hình ảnh nhân vật Tràng:” hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười , hai con mắt nhỏ tí , gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn cũng nhấp nhính những ý nghĩ gì vừa lý thú vừa dữ tợn. Hắn có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm những điều hắn nghĩ”. Vài nét mà phác hoạ ra một số phận bươn trải vật lộn với cuộc sống gần như bế tắc, vừa như chịu đựng, nhẫn nhục, vừa như muốn có sự chống chọi, phản ứng với cuộc đời. Song con người ấy lại hiền khô, bọn rẻ thấy Tràng thì “đừa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Tràng chỉ ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch ..”.
Ngôn ngữ tạo hình thật sống động, in dấu ấn của số phận bị cuộc đời làm cho mệt mỏi.
Và ngôn từ cũng báo hiệu sự biến chuyển vào một thời điểm đen tối, nạn đói ập đến “ Trong buổi chiều nhá nhem, Tràng đi từng bước mệt mỏi … Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước. Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn”. Và cái đói cũng được hình tượng hoá, tạo hình cụ thể qua cái “bước chân ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến”.
Cuộc đối thoại giữa Tràng và thị trên đường về nhà cũng rất sống động và hóm, góp phần bộc lộ cái chất phác mộc mạc của Tràng và cái khôn ngoan dí dỏm của thị:
“Sắp đến chưa? – Người đàn bà chợt hỏi.
Sắp.
Nhà có ai không?
Có mình tôi mấy u.
Thị tủm tỉm cười.
Đã một mình lại còn mấy u, Bé lắm đấy.
Hắn bật cười.
à nhỉ.
Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát gần bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe:
Dỗu tối thắp đây này.
Sang nhỉ.
Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá. Cơ mà thôi chả cần.
Hoang nó vừa vừa chứ.
Hắn chặc lưỡi:
Vợ mới vợ miếc gì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì …
Khỉ gió.
Thị đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại.
Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách.
Đó là một mảng sáng , có tiếng cười hạnh phúc, và phút giây người ta quên bẵng lo âu. Lối nói đối đáp mang tính khẩu ngữ, trống không, lấp lửng đã tái hiện rất đặc sắc cảnh đôi vợ chồng mới tình cờ này. Ngòi bút Kim Lân vừa hóm vừa hiểu người, hiểu cảnh và chân trọng nâng niu cái tia sáng cuộc đời giữa cái nện xám xịt của tình thế ở cái xóm ngụ cư nơi dệ sông trong cơn bĩ cực.
Đối thoại thì sinh động và đúng giọng điệu, lời ăn tiếng nói của nhân vật. Lời kể của tác giả tương hợp với chất giọng và tâm trạng nhân vật mình sáng tạo ra. Và đây, những diễn biến tâm trạng bà mẹ Tứ đúng là một độc thoại nội tâm đầy xúc độngvà bộc lộ bản chất một người mẹ nông dân nghèo khổ Việt nam. Lời trần thuật của tác giả về ý nghĩ của bà như toát ra từ dòng suy tư của bản thân nhân vật, như có ánh sáng rọi chiếu từ bên trong tâm khảm của nhân vật làm nên cái đậm đà , chân thực có sức lay động tâm hồn người đọc.
“Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa sót thươngcho con cái số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì … trong kẽ mắt kèm mhàm của bà rủ xuống hai hàng nước mắt … Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không?”.
Lời kể của tác giả và nội tâm nhân vật như một thứ độc thoại nội tâm, hào quyện với nhau làm một. Cũng cùng thủ pháp ngôn từ ấy, ngòi bút tác giả lách vào những biến đổi tâm trạng của các nhân vật trong cái gia đình tội nghiệp ấy khi họ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và quang quẻ với ý nghĩ thầm tin rằng “thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi , làm ăn có cơ khá hơn. Hay bữa sáng ăn cái món chè khoán mà bà mẹ cố tình an ủi là “ngon đáo để”, sau cái chun mặt của Tràng vì vị đắng chát và nghẹn bứ trong cổ thì như tác giả viết “Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào trong tâm trí mọi người”. Không còn là chữ nghĩa nữa mà là vị chua chát của cuộc đời. Lời văn nghệ thuật đạt đến mức ấy, nghĩa là không chê vào đâu được.
Kim Lân con tỏ ra làm chủ hoàn toàn ngòi bút của ông khi ông điều khiển các con chữ, và giọng điệu. Chẳng hạn, đoạn thuật dòng suy nghĩ của bà mẹ tứ, hay câu văn hàm xúc sau đây: “hắn
Phân tích truyện ngắn của Kim lân
I – Nội dung tư tưởng
1. Đề tài: vợ nhặt viết về mảng đời sống nông thôn trong thời kỳ nạn đói khủng khiếp diễn ra năm 1945 làm cho 2 triệu đồng bào ta chết đói. Câu truyện diễn ra ở một xóm dân ngụ cư qua cảnh ngộ của một gia đình cụ thể mà cái nghèo khó vốn đeo bám họ suốt cả một đời người.
2. Chủ đề: vợ nhặt không tập trung đi sâu vào nỗi khổ vật chất mặc dù cũng có đủ các biểu hiện của tình trạng thê thảm của sự nghèo đói mà nêu lên một khía cạnh hết sức độc đáo: một tình huống gần như có một không hai, gây bất ngờ sửng sốt đối với tất cả mọi người là hiện tượng “vợ nhặt” như tiêu đề thiên truyện ngắn. Câu truện hông nhân thành vợ thành chồngtrong lúc ngày mai không biết sống chết ra sao, giữa lúc thiên hạ chết đói đầy đường đầy chợ. Nói cách khác, sự sống ló ra trong cái chết, cái sống và cái chết và cái sống đang tranh chấp với nhau.
Người ta vẫn lấy nhau trong bóng tối của tử thần quả là một ngịch lý, nghịch lý mà có thật – dù là hư cấu song vẫn là thật nếu xét tới cội nguồn bản chất của con người.
3. Tư tưởng. – Khẳng định bản chất ham sống của con người. Sự sống mạnh hơn cái chết. Xét cho cùng, đó chính là bản chất lạc quancủa con người trong quá trình tồn tại của mình, thứ bản chất mà văn học dân gian đã từng thể hiện:
“Đừng có chết mất thì thôi
Sống thời có lúc no xôi chán chè”
Hay: “chớ than phận khó ai ơi
Còn da: lông mọc, còn chồi nảy cây”
Cái chổi của lòng ham sống vẫn không bị thui chột trong lòng người ngay trong thời điểm gần như tuyệt vọng.
II – hình thức nghệ thuật
1.Yếu tố tạo hình. – tác giả truyện “vợ nhặt” bằng vốn sống và tài năng độc đáo của mình đã tạo ra một tình huống đặc biệt, trong đó các nhân vật bộc lộ số phận của mình một cách nổi bật. Một cô gái không phải loại đờ đẫn gì, cũng có nét khôn ngoan nào đó, mà dễ dàng theo anh Tràng, dáng người thô kệch sau khi được đãi bốn bát bánh đúc mà nàng ăn ngấu nghiến với một câu nói tầm phào của Tràng; một số phận bi thảm của một đời con gái mà tác dỉa kgông nỡ gọi tên mà chỉ gọi là thị. Một anh Trành, xấu xí đã đành, mà nghèo suốt đời không thể lấy ai làm vợ nếu không có cái vụ đói khủng khiếp xảy ra. Cả đời chưa bao giờ cảm thấy mình nên người mà chỉ cảm thấy điều đó vào sáng hôm sau cái đêm tân hôn. Và từ đó mới thấy mình có một trách nhiệm với gia đình, với vợ con – một điều hết sức bình dị và tự nhiên, song đối với anh như một khám phá thế giới mới. Một bà mẹ già từng trải, trước việc bất ngờ con mình nhặt được vợ, từ không hiểu đến lúc hiểu ra rồi thì trào lên bao nhiêu là cảm xúc đan xen: mừng lòng đấy nhưng tủi nhiều, lo nhiều hơn, thương con thương dâu nhiều hơn, ân hận về trách nhiệm của người mẹ không làm tròn nghĩa vụ nên xót xa cho đời mình, cho con. Song, bà cầu mong một ngày maivới một niềm tin cố hữu “ai goầu ba họ ai khó ba đời” và chính bà nghĩ ra bao nhiêu là truyện vui sau này cho con cho cháu, và mặt mày cũng đỡ héo hon, cặm cụi quét dọn nhà cửa vườn tược với ýa nghĩ cuộc sống tốt lành sẽ tới.
Bên những nhân vật ấy, là cái bóng của tử thần lảng vảng, như một lưỡi gươm trưo trên đầu các nạn nhân: mùi dấm trấu xua tử khí của người chết, tiếng hờ thê thảm theo gió lan tới các gia đình khốn khổ.
2. Kết cấu.- Câu truyện được thuật theo một trật tự tự nhiên của thời gian, không có sự sáo trộn nào đặc biệt. Song kết cấu triệt để sử dụng pháp tương phản: Tràng ngày trước là nguồn vui của lũ trẻ nhỏ mỗi khi anh đi làm về qua đem lại tiếng cười cho cái xóm ngụ cư vốn đã im lìn trong mệt mỏi và nghèo khổ thì nay, Tràng lầm lũi và lũ trẻ nhỏ cũng ru rú ở xó nhà chứ không bám níu lấy anh như hồi trước. Một không khí cgết chíc đậm nét dần, chìm vào cái im lìm buồn thảm. Sự tương phản còn thể hiện ở chỗ việc Tràng có vợ như là một nghịch lý gây nên sự ngạc nhiên của hết thảy từ xóm giềng, bà mẹ và cả người trong cuộc là Tràng. Sự tương phản còn cả trong sự đan xen, đối trọi trong từng chi tiết: cùng với tiếng cười khúc khích của đôi vợ chồng trẻ trong tối tân hôn là tiếng hờ khóc người thân vọng đến, cùng đồng hiện.
Ngôn nghữ, kết cấu ấy phục tùng việc biểu đạt nổi bật chủ đề và câu truyện.
3. Ngôn từ. -Điểm nổi bật của lời văn nghệ thuật của vợ nhặt là thứ ngôn nghữ đậm nét chất đời sống thực.
Đây là vài nét khắc hoạ hình ảnh nhân vật Tràng:” hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười , hai con mắt nhỏ tí , gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho bộ mặt thô kệch của hắn cũng nhấp nhính những ý nghĩ gì vừa lý thú vừa dữ tợn. Hắn có tật vừa đi vừa nói. Hắn lảm nhảm những điều hắn nghĩ”. Vài nét mà phác hoạ ra một số phận bươn trải vật lộn với cuộc sống gần như bế tắc, vừa như chịu đựng, nhẫn nhục, vừa như muốn có sự chống chọi, phản ứng với cuộc đời. Song con người ấy lại hiền khô, bọn rẻ thấy Tràng thì “đừa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Tràng chỉ ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch ..”.
Ngôn ngữ tạo hình thật sống động, in dấu ấn của số phận bị cuộc đời làm cho mệt mỏi.
Và ngôn từ cũng báo hiệu sự biến chuyển vào một thời điểm đen tối, nạn đói ập đến “ Trong buổi chiều nhá nhem, Tràng đi từng bước mệt mỏi … Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước. Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn”. Và cái đói cũng được hình tượng hoá, tạo hình cụ thể qua cái “bước chân ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến”.
Cuộc đối thoại giữa Tràng và thị trên đường về nhà cũng rất sống động và hóm, góp phần bộc lộ cái chất phác mộc mạc của Tràng và cái khôn ngoan dí dỏm của thị:
“Sắp đến chưa? – Người đàn bà chợt hỏi.
Sắp.
Nhà có ai không?
Có mình tôi mấy u.
Thị tủm tỉm cười.
Đã một mình lại còn mấy u, Bé lắm đấy.
Hắn bật cười.
à nhỉ.
Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn đi sát gần bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lúc, chợt hắn giơ cái chai vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe:
Dỗu tối thắp đây này.
Sang nhỉ.
Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá. Cơ mà thôi chả cần.
Hoang nó vừa vừa chứ.
Hắn chặc lưỡi:
Vợ mới vợ miếc gì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chả nhẽ chưa tối đã rúc vào ngay, hì hì …
Khỉ gió.
Thị đánh đét vào lưng hắn, khoặm mặt lại.
Hắn thích chí ngửa cổ cười khanh khách.
Đó là một mảng sáng , có tiếng cười hạnh phúc, và phút giây người ta quên bẵng lo âu. Lối nói đối đáp mang tính khẩu ngữ, trống không, lấp lửng đã tái hiện rất đặc sắc cảnh đôi vợ chồng mới tình cờ này. Ngòi bút Kim Lân vừa hóm vừa hiểu người, hiểu cảnh và chân trọng nâng niu cái tia sáng cuộc đời giữa cái nện xám xịt của tình thế ở cái xóm ngụ cư nơi dệ sông trong cơn bĩ cực.
Đối thoại thì sinh động và đúng giọng điệu, lời ăn tiếng nói của nhân vật. Lời kể của tác giả tương hợp với chất giọng và tâm trạng nhân vật mình sáng tạo ra. Và đây, những diễn biến tâm trạng bà mẹ Tứ đúng là một độc thoại nội tâm đầy xúc độngvà bộc lộ bản chất một người mẹ nông dân nghèo khổ Việt nam. Lời trần thuật của tác giả về ý nghĩ của bà như toát ra từ dòng suy tư của bản thân nhân vật, như có ánh sáng rọi chiếu từ bên trong tâm khảm của nhân vật làm nên cái đậm đà , chân thực có sức lay động tâm hồn người đọc.
“Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa sót thươngcho con cái số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì … trong kẽ mắt kèm mhàm của bà rủ xuống hai hàng nước mắt … Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không?”.
Lời kể của tác giả và nội tâm nhân vật như một thứ độc thoại nội tâm, hào quyện với nhau làm một. Cũng cùng thủ pháp ngôn từ ấy, ngòi bút tác giả lách vào những biến đổi tâm trạng của các nhân vật trong cái gia đình tội nghiệp ấy khi họ dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và quang quẻ với ý nghĩ thầm tin rằng “thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi , làm ăn có cơ khá hơn. Hay bữa sáng ăn cái món chè khoán mà bà mẹ cố tình an ủi là “ngon đáo để”, sau cái chun mặt của Tràng vì vị đắng chát và nghẹn bứ trong cổ thì như tác giả viết “Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào trong tâm trí mọi người”. Không còn là chữ nghĩa nữa mà là vị chua chát của cuộc đời. Lời văn nghệ thuật đạt đến mức ấy, nghĩa là không chê vào đâu được.
Kim Lân con tỏ ra làm chủ hoàn toàn ngòi bút của ông khi ông điều khiển các con chữ, và giọng điệu. Chẳng hạn, đoạn thuật dòng suy nghĩ của bà mẹ tứ, hay câu văn hàm xúc sau đây: “hắn
 









Các ý kiến mới nhất