Tìm kiếm Giáo án
Ôn thi - Bên kia sông Đuống

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lan Thanh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:02' 01-04-2008
Dung lượng: 67.5 KB
Số lượt tải: 170
Nguồn:
Người gửi: Lan Thanh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:02' 01-04-2008
Dung lượng: 67.5 KB
Số lượt tải: 170
Số lượt thích:
0 người
BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG
I. TƯ LIỆU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
“Mẹ tôi là người vùng quan họ. Bà thuộc rất nhiều làn điệu và hát hay nổi tiếng trong vùng. Hương vị dân tộc, chất tình tứ, hư ảo của những câu ca quan họ đã thấm đẫm trong hồn tôi từ những ngày nhỏ dại. Suốt thời thơ ấu tôi sống ở làng quê. Năm lên 8 tuổi tôi đã làm bài thơ lục bát đầu tiên, viết bằng bút chì xanh đỏ, gửi cho một cô gái rất đẹp ở gần nhà, tên là Vinh. Lúc bắt đầu đi học, tôi học ở Bắc Giang. Lớn hơn một chút, lúc học Cao đẳng tiểu học tôi lại về Bắc Ninh…
Cô đã nhắc đến bài thơ Bên kia sông Đuống thì tôi cũng xin kể luôn về trường hợp tôi sáng tác bài thơ này. Đó là dịp đầu năm 1948. Sau tết ta, trời đã chuyển sang tiết xuân nhưng vẫn còn hơi lạnh. Tôi cùng với Nguyên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Hoàng Tích Linh, Kim Lân… đóng ở làng Thượng, huyện Phú Bình, Thái Nguyên.
Bên kia sông Đuống, dọc theo hữu ngạn là vùng quê tôi gồm: Gia Lâm, Lương Tài, Gia Bình, Thuận Thành. Kéo dài một vệt đến tận Phả Lại. Đó là một miền quê thơ mộng, trù phú. Nhưng từ năm 1947, quân Pháp đã tràn lên chiếm đóng, càn quét. Lúc bấy giờ, ông Vương Văn Trà, người cùng làng tôi thành lập một tiểu đoàn du kích lấy tên là tiểu đoàn Thiên Đức đánh lại quân Pháp. Do thế địch đang mạnh nên đầu năm 1948 tiểu đoàn phải rút lui lên khu an toàn. Nơi đây, ông Chu Tấn Văn và ông Lê Quảng Ba lúc đó ở Bộ tư lệnh khu XII yêu cầu ông Vương Văn Trà báo cáo tình hình. Hôm đó, tôi được mời nghe. Đêm về tôi không sao ngủ được.Lòng buồn nôn nao nỗi nhớ tiếc quê hương bị chiếm đóng, tàn phá. Bao tình cảm riêng – chung lẫn lộn cứ trào lên mãnh liệt. Và thế là, trong khi các đồng chí đang ngủ ngon giấc, tôi thắp đèn ngồi viết Bên kia sông đuống . Tôi còn nhớ rất rõ trạng thái xúc cảm của tôi khi viết bài thơ này. Dường như tôi viết không kịp. Phải cố gắng lắm tôi mới theo đuổi được những câu thơ, ý thơ dồn dập, trào lên ngọn bút. Chưa bao giờ tôi thấy quê hương lại cụ thể, máu thịt xót xa dường ấy. Toàn thân tôi run lên. Những hình ảnh, âm thanh màu sắc dệt nên quê hương thân yêu giờ như chìm trong lửa cháy, nước mắt và trong “ …máu loang chiều mùa đông”. Sau mỗi câu viết ra, tôi cảm thấy ớn lạnh cả xương sống. Dường như chúng từ đó mà ra.
Cứ như thế, cho đến khi tôi viết câu thơ cuối cùng “ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” thì cũng là lúc trời rạng sáng. Lúc này tôi mới thấm mệt nhưng trong lòng lại thấy thanh thản, nhẹ nhõm như vừa được giải tỏa. Thấy Nguyên Hồng có vẻ đã thức giấc, tôi gọi anh dậy và đọc bài thơ cho anh nghe. Mới được dăm câu anh đã khóc. Nguyên Hồng vẫn vậy, và cứ thế nức nở cho đến khi tôi đọc hết bài thơ. Anh đòi đánh thức cả Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Kim Lân dậy để tôi đọc lại. Sau đó anh bắt tôi chép thành ba bản. Một bản gửi cho báo Cứu quốc, chỗ anh Như Phong và anh Tô Hoài. Một bản gửi cho báo nhân dân. Một bản gửi đến Hội Văn Nghệ, chỗ anh Nguyễn Huy Tưởng. Bài thơ được báo Cứu Quốc in lần đầu tiên khoảng tháng 6/1948. Cho đến giờ, tôi vẫn thích phần đầu của bài thơ. Đó là những gam màu hồn nhiên nhất, tươi tắn nhất trong bức tranh quê hương. Đó là những xúc cảm mãnh liệt nhất, trong sáng nhất mà tôi dành cho miền đất thân yêu của tôi”
(Trích bài “ Chuyện về lá diêu bông và bài thơ Bên kia sông Đuống” do Hoàng Cầm kể. Lưu Khánh Thơ ghi, tạp chí văn học số 3, 1991)
*Bài làm
Mười câu đầu là cái nhìn toàn cảnh “Bên kia sông Đuống”
- Sáu câu đầu có vần “i” chi phối. Những câu thơ nghe như một tiếng an ủi, thầm thì của nhân vật trữ tình với “em”. Ngỡ như có một người con gái nhỏ đầy đau khổ, đứng chết lặng bên này sông mà không được qua sông. Tác giả lên tiếng vỗ về “em” nhưng cũng là vỗ về chính mình.
- “Em” là một đại từ không xác định. Em là một cô gái đã gắn bó với “Bên kia sông Đuống” em là người đồng quê. Em là một cô gái Kinh Bắc của ngày xưa, đã từng quen nhau, đã từng gắn bó, nhưng chưa có điều kiện để cau trầu. Cho nên tương lai hết bóng giặc: “ Anh lại tìm em”. Nhà thơ cần có một đối tượng để được giãi bày tâm tình dào dạt của mình. “Em” có thể là nhân vật của kí ức, cũng có thể là nhân vật trữ tình tự phân thân đấy thôi.
- Toàn cảnh không chỉ có không gian mà cả thời gian nữa. Ta thấy dòng thời gian tha thiết trôi theo dòng sông Đuống.
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì…
Thật khó giải thích cho ra lẽ cái “nằm nghiêng nghiêng” của con sông Đuống. Chỉ biết rằng cái dáng ấy mới tạo cho sông Đuống thành một sinh thể có hồn và đầy tâm trạng.
Cái nép mình e lệ bên “bãi mía bồ dâu” tạo nên duyên sắc cho một dòng sông? Hay là sự lo âu, vắng lặng khi giặc về? Không biết sông Đuống là con sông thứ bao nhiêu rồi đi vào sáng tác văn chương, đặc biệt là nó đã chảy vào thơ những mạch nguồn rào rạt …. Song, dường như phần lớn, chúng đều được bắt nguồn từ nỗi nhớ của các nhân vật trữ tình. Từ “Nhớ con sông quê hương”, “Giữ bao kỷ niệm giữa dòng trôi” đến “Dòng sông quê hương trong vắt” trong “đôi mắt” “em”của Tế hanh, từ lời thì thầm: “ Quý con sông Hồng phù sa cuộn đỏ”đến thiết tha: “Yêu con sông Thương nước chảy đôi dòng” của Nguyễn Viết Lãm… Cho nên, chúng thường mang cái dáng xưa là rất yếu. Con sông Đuống của Hoàng Cầm thì lại khác. Ở đây có sự chập lại giữa hai thì: hiện tại và quá khứ. Hiện tại – nếu ta chỉ nhìn cục diện khổ thơ đang xét. Còn quá khứ? Chính là bờ “Cát trắng phẳng lì” gắn với “ngày xưa” (“Ngày xưa cát trắng phẳng lì”). Khổ thơ trên đã cổ tích hóa con sông, trùm phủ lên nó một lớp khói sương lãng đãng. Dĩ nhiên chưa tới độ “mịt mờ” như mặt Hồ Tây trong bài ca dao kia nhưng cái lớp sương khói cũng đủ nói với ta rất nhiều về một khoảng không gian tâm tưởng. Vâng! Chỉ có không gian tâm tưởng và chỉ có cảm xúc nằm trong không gian tâm tưởng mới thực sự làm cơ sở ban đầu để tác giả viết hai câu xếp vào loại những câu thơ hay nhất của nền thơ hiện đại.
“Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”
Biết cắt nghĩa làm sao cái “lấp lánh” của “một dòng” trôi và trời ơi, còn cái dáng “nằm nghiêng nghiêng” này nữa. Anh bây giờ đứng đây, lặng lẽ, trơ trọi mà hướng cặp mắt đau đáu,mênh mang tuyệt vọng về bên ấy. Đúng là vị trí đứng của anh phải xa bên ấy lắm nhưng nỗi nhớ hẳn phải cồn cào hơn và niềm đau trong anh càng quặn thắt hơn thế nữa nên anh mới ngắm được cái tư thế “nằm nghiêng nghiêng” cùng cái “dòng lấp lánh” kia được. Và, suy cho cùng thì hai hình ảnh này đã bổ sung cho nhau. Mặt nước phải “nghiêng nghiêng”, ánh nắng phản chiếu xuống nước mới “lấp lánh”. Chứ còn dòng sông cứ bình phẳng đôi dòng như “con sông quê hương” của Tế Hanh mà lại có “lòng sông lấp lánh” thực khó lắm. Song cái hay, cái độc đáo mang lại giá trị đột xuất cho khổ thơ và cả bài thơ phải chăng vẫn là cái dáng “nằm nghiêng nghiêng” của con sông Đuống? Để từ đó con sông như có hồn, có thần thái và đầy nữ tính. Nó không ầm ào, thở phì phò như con sông Hồng “cuộn đỏ phù sa” của Viết Lãm cũng chẳng chết cứng như dòng Hương “buồn thiu” của Hàn Mặc Tử. Mà, nó duyên dáng, e thẹn như “em” – nhân vật xuất hiện ngay ở câu đầu bài thơ (mặc dầu “em” chính là sự phân thân của tác giả) và hiền hòa như “những cô hàng xóm răng đen”, “cười như mùa thu tỏa nắng”, “trên vùng đất Kinh Bắc trù phú. Dòng Đuống bình thản, hiền hòa là thế nhưng sao nó lại phải gắn với cuộc “kháng chiến trường kì” (thời gian) gắn với cảnh “lưỡi dài lê sắc máu” của “chó ngộ một đàn”, với ruộng khô, nhà cháy, với “chia lìa trăm ngả” với “tan tác về đâu” và tư thế “nghiêng nghiêng” ấy nép mình nấp trốn những cái hoàn toàn trái với thuộc tính của nó thậm chí khi cần trong âu lo, hoảng loạn nó có thể chạy trốn nữa? Hèn chi mà liền khổ thơ sau, nhà thơ có cảm giác “nhớ tiếc” mà “xót xa” đến nỗi “như rụng bàn tay”. Tôi chắc rằng khi viết khổ thơ này dù nó là những dòng đầu của bài thơ, Hoàng Cầm không đắn đo, cân nhắc về nghệ thuật lắm đâu song chính từ lặp “nghiêng nghiêng”, vần “iêng” (“nghiêng nghiêng”, “kháng chiến”) cùng sự chuyển đổi đột ngột từ câu ngắn (ngắn hơi) bốn tiếng:
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh”
tới câu dài (dài hơn) tám chữ:
“Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”
Đã tạo cho khổ thơ một tâm trạng, một cái hơi tiếc nuối rất cần thiết (không phải đợi tới câu “Đứng bên này sông sao nhớ tiếc” của khổ thơ kế mà ta mới nhận ra điều ấy). Như vậy, chỉ qua một câu thơ thôi, tác giả đã cho ta phát hiện cùng một lúc cả độ viền và độ nhòe, cái sáng tỏ và cái mơ hồ của thơ ca. Thông qua tâm trạng “nhớ tiếc” của ông là hình ảnh cô gái e dè, ấp úng rất “có duyên” hay cái dáng vẻ sợ sệt đến tội nghiệp của dòng Đuống và của cả những cô gái hiền lành vùng Kinh Bắc mà tác giả muốn nói? Khổ thơ hay và nhiều tầng nghĩa là ở chỗ này.
Bao quát lại, ấn tượng khắc chạm trọn vẹn nhất vào tâm hồn người đọc qua khổ thơ vẫn là tính cá thể của con sông Đuống. Nó cũng mang những nét tâm trạng như con người, cũng cử động cựa quậy chừng như muốn bứt khỏi cái khuôn khổ một dòng sông mà đi. Chính điểm sáng tạo này đã mang lại giá trị đặc biệt cho khổ thơ nói riêng và cho toàn bài thơ nói chung. Để từ đây, ta nhìn con sông Đuống của Hoàng Cầm khác “Con sông quê hương” của Tế Hanh, khác con sông miệt Vàm Cỏ Đông của Hoài Vũ. Bởi, cùng lắm Tế Hanh chỉ hé mở cho ta thấymột “con sông xanh biếc” có “ nước gương soi tóc những hàng tre”- rõ ràng con sông của Việt Nam là đặc sản của Việt Nam nhưng thử hỏi: làm sao đếm hết ở nước này có bao nhiêu con sông? Ngược lại, tìm ra cái dáng “ nằm nghiêng nghiêng””bãi mía bờ dâu”cùng bờ “cát trắng phẳng lì”kia thì chỉ có ở mỗi con sông Đuống của Hoàng Cầm, chỉ có ở mỗi con sông Thiên Đức – Một nhánh của Sông Hồng trên vùng đất bắc Ninh mà thôi.
Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nam Bộ. Cái vị ngọt của ngọn mía lau, của dòng Cửu Long Giang chín nhánh uốn khúc tôi đã nếm; sóng nước Hàm Luông tôi đã trải qua. Còn xứ Huế đẫm tình với cô gái Đồng Khánh “ chi mô rứa” với sông Hương, núi Ngự tuy xa song tôi đã tỏ vì nghe nhắc nhiều quá. Phải đợi tới hôm nay. Khi chỉ thâm nhập vào mỗi nhịp đập trái tim xốn sang củ
I. TƯ LIỆU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
“Mẹ tôi là người vùng quan họ. Bà thuộc rất nhiều làn điệu và hát hay nổi tiếng trong vùng. Hương vị dân tộc, chất tình tứ, hư ảo của những câu ca quan họ đã thấm đẫm trong hồn tôi từ những ngày nhỏ dại. Suốt thời thơ ấu tôi sống ở làng quê. Năm lên 8 tuổi tôi đã làm bài thơ lục bát đầu tiên, viết bằng bút chì xanh đỏ, gửi cho một cô gái rất đẹp ở gần nhà, tên là Vinh. Lúc bắt đầu đi học, tôi học ở Bắc Giang. Lớn hơn một chút, lúc học Cao đẳng tiểu học tôi lại về Bắc Ninh…
Cô đã nhắc đến bài thơ Bên kia sông Đuống thì tôi cũng xin kể luôn về trường hợp tôi sáng tác bài thơ này. Đó là dịp đầu năm 1948. Sau tết ta, trời đã chuyển sang tiết xuân nhưng vẫn còn hơi lạnh. Tôi cùng với Nguyên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Hoàng Tích Linh, Kim Lân… đóng ở làng Thượng, huyện Phú Bình, Thái Nguyên.
Bên kia sông Đuống, dọc theo hữu ngạn là vùng quê tôi gồm: Gia Lâm, Lương Tài, Gia Bình, Thuận Thành. Kéo dài một vệt đến tận Phả Lại. Đó là một miền quê thơ mộng, trù phú. Nhưng từ năm 1947, quân Pháp đã tràn lên chiếm đóng, càn quét. Lúc bấy giờ, ông Vương Văn Trà, người cùng làng tôi thành lập một tiểu đoàn du kích lấy tên là tiểu đoàn Thiên Đức đánh lại quân Pháp. Do thế địch đang mạnh nên đầu năm 1948 tiểu đoàn phải rút lui lên khu an toàn. Nơi đây, ông Chu Tấn Văn và ông Lê Quảng Ba lúc đó ở Bộ tư lệnh khu XII yêu cầu ông Vương Văn Trà báo cáo tình hình. Hôm đó, tôi được mời nghe. Đêm về tôi không sao ngủ được.Lòng buồn nôn nao nỗi nhớ tiếc quê hương bị chiếm đóng, tàn phá. Bao tình cảm riêng – chung lẫn lộn cứ trào lên mãnh liệt. Và thế là, trong khi các đồng chí đang ngủ ngon giấc, tôi thắp đèn ngồi viết Bên kia sông đuống . Tôi còn nhớ rất rõ trạng thái xúc cảm của tôi khi viết bài thơ này. Dường như tôi viết không kịp. Phải cố gắng lắm tôi mới theo đuổi được những câu thơ, ý thơ dồn dập, trào lên ngọn bút. Chưa bao giờ tôi thấy quê hương lại cụ thể, máu thịt xót xa dường ấy. Toàn thân tôi run lên. Những hình ảnh, âm thanh màu sắc dệt nên quê hương thân yêu giờ như chìm trong lửa cháy, nước mắt và trong “ …máu loang chiều mùa đông”. Sau mỗi câu viết ra, tôi cảm thấy ớn lạnh cả xương sống. Dường như chúng từ đó mà ra.
Cứ như thế, cho đến khi tôi viết câu thơ cuối cùng “ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” thì cũng là lúc trời rạng sáng. Lúc này tôi mới thấm mệt nhưng trong lòng lại thấy thanh thản, nhẹ nhõm như vừa được giải tỏa. Thấy Nguyên Hồng có vẻ đã thức giấc, tôi gọi anh dậy và đọc bài thơ cho anh nghe. Mới được dăm câu anh đã khóc. Nguyên Hồng vẫn vậy, và cứ thế nức nở cho đến khi tôi đọc hết bài thơ. Anh đòi đánh thức cả Nguyễn Địch Dũng, Xuân Thu, Kim Lân dậy để tôi đọc lại. Sau đó anh bắt tôi chép thành ba bản. Một bản gửi cho báo Cứu quốc, chỗ anh Như Phong và anh Tô Hoài. Một bản gửi cho báo nhân dân. Một bản gửi đến Hội Văn Nghệ, chỗ anh Nguyễn Huy Tưởng. Bài thơ được báo Cứu Quốc in lần đầu tiên khoảng tháng 6/1948. Cho đến giờ, tôi vẫn thích phần đầu của bài thơ. Đó là những gam màu hồn nhiên nhất, tươi tắn nhất trong bức tranh quê hương. Đó là những xúc cảm mãnh liệt nhất, trong sáng nhất mà tôi dành cho miền đất thân yêu của tôi”
(Trích bài “ Chuyện về lá diêu bông và bài thơ Bên kia sông Đuống” do Hoàng Cầm kể. Lưu Khánh Thơ ghi, tạp chí văn học số 3, 1991)
*Bài làm
Mười câu đầu là cái nhìn toàn cảnh “Bên kia sông Đuống”
- Sáu câu đầu có vần “i” chi phối. Những câu thơ nghe như một tiếng an ủi, thầm thì của nhân vật trữ tình với “em”. Ngỡ như có một người con gái nhỏ đầy đau khổ, đứng chết lặng bên này sông mà không được qua sông. Tác giả lên tiếng vỗ về “em” nhưng cũng là vỗ về chính mình.
- “Em” là một đại từ không xác định. Em là một cô gái đã gắn bó với “Bên kia sông Đuống” em là người đồng quê. Em là một cô gái Kinh Bắc của ngày xưa, đã từng quen nhau, đã từng gắn bó, nhưng chưa có điều kiện để cau trầu. Cho nên tương lai hết bóng giặc: “ Anh lại tìm em”. Nhà thơ cần có một đối tượng để được giãi bày tâm tình dào dạt của mình. “Em” có thể là nhân vật của kí ức, cũng có thể là nhân vật trữ tình tự phân thân đấy thôi.
- Toàn cảnh không chỉ có không gian mà cả thời gian nữa. Ta thấy dòng thời gian tha thiết trôi theo dòng sông Đuống.
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì…
Thật khó giải thích cho ra lẽ cái “nằm nghiêng nghiêng” của con sông Đuống. Chỉ biết rằng cái dáng ấy mới tạo cho sông Đuống thành một sinh thể có hồn và đầy tâm trạng.
Cái nép mình e lệ bên “bãi mía bồ dâu” tạo nên duyên sắc cho một dòng sông? Hay là sự lo âu, vắng lặng khi giặc về? Không biết sông Đuống là con sông thứ bao nhiêu rồi đi vào sáng tác văn chương, đặc biệt là nó đã chảy vào thơ những mạch nguồn rào rạt …. Song, dường như phần lớn, chúng đều được bắt nguồn từ nỗi nhớ của các nhân vật trữ tình. Từ “Nhớ con sông quê hương”, “Giữ bao kỷ niệm giữa dòng trôi” đến “Dòng sông quê hương trong vắt” trong “đôi mắt” “em”của Tế hanh, từ lời thì thầm: “ Quý con sông Hồng phù sa cuộn đỏ”đến thiết tha: “Yêu con sông Thương nước chảy đôi dòng” của Nguyễn Viết Lãm… Cho nên, chúng thường mang cái dáng xưa là rất yếu. Con sông Đuống của Hoàng Cầm thì lại khác. Ở đây có sự chập lại giữa hai thì: hiện tại và quá khứ. Hiện tại – nếu ta chỉ nhìn cục diện khổ thơ đang xét. Còn quá khứ? Chính là bờ “Cát trắng phẳng lì” gắn với “ngày xưa” (“Ngày xưa cát trắng phẳng lì”). Khổ thơ trên đã cổ tích hóa con sông, trùm phủ lên nó một lớp khói sương lãng đãng. Dĩ nhiên chưa tới độ “mịt mờ” như mặt Hồ Tây trong bài ca dao kia nhưng cái lớp sương khói cũng đủ nói với ta rất nhiều về một khoảng không gian tâm tưởng. Vâng! Chỉ có không gian tâm tưởng và chỉ có cảm xúc nằm trong không gian tâm tưởng mới thực sự làm cơ sở ban đầu để tác giả viết hai câu xếp vào loại những câu thơ hay nhất của nền thơ hiện đại.
“Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”
Biết cắt nghĩa làm sao cái “lấp lánh” của “một dòng” trôi và trời ơi, còn cái dáng “nằm nghiêng nghiêng” này nữa. Anh bây giờ đứng đây, lặng lẽ, trơ trọi mà hướng cặp mắt đau đáu,mênh mang tuyệt vọng về bên ấy. Đúng là vị trí đứng của anh phải xa bên ấy lắm nhưng nỗi nhớ hẳn phải cồn cào hơn và niềm đau trong anh càng quặn thắt hơn thế nữa nên anh mới ngắm được cái tư thế “nằm nghiêng nghiêng” cùng cái “dòng lấp lánh” kia được. Và, suy cho cùng thì hai hình ảnh này đã bổ sung cho nhau. Mặt nước phải “nghiêng nghiêng”, ánh nắng phản chiếu xuống nước mới “lấp lánh”. Chứ còn dòng sông cứ bình phẳng đôi dòng như “con sông quê hương” của Tế Hanh mà lại có “lòng sông lấp lánh” thực khó lắm. Song cái hay, cái độc đáo mang lại giá trị đột xuất cho khổ thơ và cả bài thơ phải chăng vẫn là cái dáng “nằm nghiêng nghiêng” của con sông Đuống? Để từ đó con sông như có hồn, có thần thái và đầy nữ tính. Nó không ầm ào, thở phì phò như con sông Hồng “cuộn đỏ phù sa” của Viết Lãm cũng chẳng chết cứng như dòng Hương “buồn thiu” của Hàn Mặc Tử. Mà, nó duyên dáng, e thẹn như “em” – nhân vật xuất hiện ngay ở câu đầu bài thơ (mặc dầu “em” chính là sự phân thân của tác giả) và hiền hòa như “những cô hàng xóm răng đen”, “cười như mùa thu tỏa nắng”, “trên vùng đất Kinh Bắc trù phú. Dòng Đuống bình thản, hiền hòa là thế nhưng sao nó lại phải gắn với cuộc “kháng chiến trường kì” (thời gian) gắn với cảnh “lưỡi dài lê sắc máu” của “chó ngộ một đàn”, với ruộng khô, nhà cháy, với “chia lìa trăm ngả” với “tan tác về đâu” và tư thế “nghiêng nghiêng” ấy nép mình nấp trốn những cái hoàn toàn trái với thuộc tính của nó thậm chí khi cần trong âu lo, hoảng loạn nó có thể chạy trốn nữa? Hèn chi mà liền khổ thơ sau, nhà thơ có cảm giác “nhớ tiếc” mà “xót xa” đến nỗi “như rụng bàn tay”. Tôi chắc rằng khi viết khổ thơ này dù nó là những dòng đầu của bài thơ, Hoàng Cầm không đắn đo, cân nhắc về nghệ thuật lắm đâu song chính từ lặp “nghiêng nghiêng”, vần “iêng” (“nghiêng nghiêng”, “kháng chiến”) cùng sự chuyển đổi đột ngột từ câu ngắn (ngắn hơi) bốn tiếng:
“Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh”
tới câu dài (dài hơn) tám chữ:
“Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”
Đã tạo cho khổ thơ một tâm trạng, một cái hơi tiếc nuối rất cần thiết (không phải đợi tới câu “Đứng bên này sông sao nhớ tiếc” của khổ thơ kế mà ta mới nhận ra điều ấy). Như vậy, chỉ qua một câu thơ thôi, tác giả đã cho ta phát hiện cùng một lúc cả độ viền và độ nhòe, cái sáng tỏ và cái mơ hồ của thơ ca. Thông qua tâm trạng “nhớ tiếc” của ông là hình ảnh cô gái e dè, ấp úng rất “có duyên” hay cái dáng vẻ sợ sệt đến tội nghiệp của dòng Đuống và của cả những cô gái hiền lành vùng Kinh Bắc mà tác giả muốn nói? Khổ thơ hay và nhiều tầng nghĩa là ở chỗ này.
Bao quát lại, ấn tượng khắc chạm trọn vẹn nhất vào tâm hồn người đọc qua khổ thơ vẫn là tính cá thể của con sông Đuống. Nó cũng mang những nét tâm trạng như con người, cũng cử động cựa quậy chừng như muốn bứt khỏi cái khuôn khổ một dòng sông mà đi. Chính điểm sáng tạo này đã mang lại giá trị đặc biệt cho khổ thơ nói riêng và cho toàn bài thơ nói chung. Để từ đây, ta nhìn con sông Đuống của Hoàng Cầm khác “Con sông quê hương” của Tế Hanh, khác con sông miệt Vàm Cỏ Đông của Hoài Vũ. Bởi, cùng lắm Tế Hanh chỉ hé mở cho ta thấymột “con sông xanh biếc” có “ nước gương soi tóc những hàng tre”- rõ ràng con sông của Việt Nam là đặc sản của Việt Nam nhưng thử hỏi: làm sao đếm hết ở nước này có bao nhiêu con sông? Ngược lại, tìm ra cái dáng “ nằm nghiêng nghiêng””bãi mía bờ dâu”cùng bờ “cát trắng phẳng lì”kia thì chỉ có ở mỗi con sông Đuống của Hoàng Cầm, chỉ có ở mỗi con sông Thiên Đức – Một nhánh của Sông Hồng trên vùng đất bắc Ninh mà thôi.
Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nam Bộ. Cái vị ngọt của ngọn mía lau, của dòng Cửu Long Giang chín nhánh uốn khúc tôi đã nếm; sóng nước Hàm Luông tôi đã trải qua. Còn xứ Huế đẫm tình với cô gái Đồng Khánh “ chi mô rứa” với sông Hương, núi Ngự tuy xa song tôi đã tỏ vì nghe nhắc nhiều quá. Phải đợi tới hôm nay. Khi chỉ thâm nhập vào mỗi nhịp đập trái tim xốn sang củ
 









Các ý kiến mới nhất