những thầy cô gieo chữ vùng cao

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thùy Linh
Ngày gửi: 18h:09' 16-03-2016
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thùy Linh
Ngày gửi: 18h:09' 16-03-2016
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Những thầy cô gieo chữ vùng cao
Đến ngày 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, chúng tôi nhớ về những ngôi trường ở vùng cao Tây Bắc, nơi mà trước đây và ngay cả hiện tại, vẫn còn những gian nan và thiếu thốn cho việc dạy chữ, học chữ.
Điều đáng khâm phục là ở chỗ, cho dù có gian khổ đến mấy, các thầy cô giáo vẫn ngày đêm “bám trụ” với trường, với lớp để miệt mài “gieo mầm” con chữ cho những ước mơ xanh…
Chênh vênh những điểm trường ở vùng cao Bảo Yên. Bám trụ vùng cao “Yêu người bao nhiêu yêu nghề bấy nhiêu…”, có lẽ từ lâu, câu hát này đã thấm sâu vào tâm hồn những người thầy, người cô ở vùng cao Tây Bắc và trở thành khẩu hiệu để họ hướng lòng mình về những nơi con chữ và những tâm hồn non trẻ đang đón đợi.
Thầy giáo Hán Văn Học (sinh năm 1977), Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng trường THCS Nghĩa Đô (Bảo Yên - Lào Cai) là một trong những thầy cô giáo như thế. Tốt nghiệp ngành sư phạm ngoại ngữ, thầy Hán Văn Học (Dân tộc Tày) đã rời miền quê Báo Đáp - Trấn Yên - Yên Bái lên Nghĩa Đô dạy học vào năm 2001, khi con đường 279 từ Phố Ràng vào Nghĩa Đô còn đi lại khó khăn, Nghĩa Đô khi ấy như một “hoang đảo” xa xôi vì chưa có điện, nước sinh hoạt thiếu liên miên đến hàng vài tuần. Sự nghiệp giáo dục Nghĩa Đô ngày ấy là mô hình trường học liên cấp 1-2 đóng tại trường Tiểu học Nghĩa Đô ngày nay.
Là một thầy giáo trẻ, năng động, nhiệt tình, cùng chung tiếng nói với đồng bào Tày và học trò nơi đây nên thầy Học đã nhanh chóng bắt nhịp với điều kiện khó khăn của địa phương để vừa chia sẻ, vừa gánh vác trách nhiệm mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Những ngày đầu, lớp học tuềnh toàng bằng tranh tre nứa lá, ở nhà tập thể làm tạm bằng cây rừng và vách nứa, nước thiếu, điện thiếu… khó lòng kể hết những khó khăn mà thầy Học cùng đồng nghiệp đã vượt qua. Có lẽ chỉ ngọn đèn dầu, những trang giáo án viết tay còn giữ lại kỷ niệm đủ để nói lên những gian nan của nghề giáo. Sau khi Nghĩa Đô tách trường để hoàn thiện các cấp học, thầy Hán Văn Học chuyển sang giảng dạy tại trường THCS Nghĩa Đô và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng từ tháng 9 năm 2004. Đến nay, thầy Học đã làm công tác quản lý nhà trường ở nhiệm kỳ thứ 2.
Khi bắt đầu công việc dạy học đến nay, thấm thoắt đã 12 năm thầy Học bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Biết bao vui buồn, nhọc nhằn và gian khổ của công việc dạy học nơi vùng đất còn gặp nhiều khó khăn được thầy và đồng nghiệp coi đó là những kỷ niệm đẹp của nghề dạy học, còn hiện tại và phía trước là ngôi trường, là học trò và sự tâm huyết với con chữ của vùng cao Nghĩa Đô. Từ những lớp học tranh tre nứa đơn sơ, thầy Học cùng đồng nghiệp, chính quyền và nhân dân từng bước tu sửa, chỉnh trang và làm cho cảnh quan trường lớp học ngày một khang trang. Đến nay, trường THCS Nghĩa Đô đã được đầu tư xây dựng hai dãy nhà hai tầng, một nhà điều hành và các phòng học bộ môn. Thầy Học cho biết hiện nay, trường THCS Nghĩa Đô đang trên lộ trình xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1.
Một tấm gương điển hình khác, đó là cô giáo Vũ Thị Trang giáo viên trường THPT số 3 Bảo Yên, người ở Lục Ngạn (Bắc Giang) đã có gần 10 năm bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Tốt nghiệp trường Đại học sư phạm, khoa Tiếng Anh, cô Trang theo tiếng gọi của vùng cao Lào Cai lên nộp hồ sơ xin công tác. Sở Giáo dục tỉnh phân công cô về một trường cấp III mới thành lập ở xã Nghĩa Đô (nay là trường THPT số 3). Điện không có, nhà ở cho giáo viên và lớp học cho học sinh cũng tạm bợ bằng tranh tre nứa lá. Những ngày đầu xa nhà, nhớ quê cảm giác dài đằng đẵng như cả năm vậy. Tối đến, căn phòng chật hẹp chưa đầy 15 m2 mà chứa đến bốn giáo viên, nhưng tứ phía vách nứa hở toang hoác, gió thông thốc thổi. Đêm đêm chỉ có đèn dầu leo lét để thắp sáng và soạn giáo án.
Những ngày đầu ở Nghĩa Đô, cô Trang thấy đêm dài hơn ngày và chỉ muốn ngày kéo dài thêm. Bởi chỉ đến 18 giờ tối là trời tối mịt, xung quanh toàn núi và cây. Phòng ở giống như “khách sạn ngàn sao”, bị dột tứ phía vì thế đêm mưa các giáo viên càng thêm nỗi nhớ nhà. Nước sinh hoạt ở trường chỉ trông chờ vào bể nước của dự án 135 tận trên nguồn dẫn về.
Đến ngày 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, chúng tôi nhớ về những ngôi trường ở vùng cao Tây Bắc, nơi mà trước đây và ngay cả hiện tại, vẫn còn những gian nan và thiếu thốn cho việc dạy chữ, học chữ.
Điều đáng khâm phục là ở chỗ, cho dù có gian khổ đến mấy, các thầy cô giáo vẫn ngày đêm “bám trụ” với trường, với lớp để miệt mài “gieo mầm” con chữ cho những ước mơ xanh…
Chênh vênh những điểm trường ở vùng cao Bảo Yên. Bám trụ vùng cao “Yêu người bao nhiêu yêu nghề bấy nhiêu…”, có lẽ từ lâu, câu hát này đã thấm sâu vào tâm hồn những người thầy, người cô ở vùng cao Tây Bắc và trở thành khẩu hiệu để họ hướng lòng mình về những nơi con chữ và những tâm hồn non trẻ đang đón đợi.
Thầy giáo Hán Văn Học (sinh năm 1977), Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng trường THCS Nghĩa Đô (Bảo Yên - Lào Cai) là một trong những thầy cô giáo như thế. Tốt nghiệp ngành sư phạm ngoại ngữ, thầy Hán Văn Học (Dân tộc Tày) đã rời miền quê Báo Đáp - Trấn Yên - Yên Bái lên Nghĩa Đô dạy học vào năm 2001, khi con đường 279 từ Phố Ràng vào Nghĩa Đô còn đi lại khó khăn, Nghĩa Đô khi ấy như một “hoang đảo” xa xôi vì chưa có điện, nước sinh hoạt thiếu liên miên đến hàng vài tuần. Sự nghiệp giáo dục Nghĩa Đô ngày ấy là mô hình trường học liên cấp 1-2 đóng tại trường Tiểu học Nghĩa Đô ngày nay.
Là một thầy giáo trẻ, năng động, nhiệt tình, cùng chung tiếng nói với đồng bào Tày và học trò nơi đây nên thầy Học đã nhanh chóng bắt nhịp với điều kiện khó khăn của địa phương để vừa chia sẻ, vừa gánh vác trách nhiệm mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Những ngày đầu, lớp học tuềnh toàng bằng tranh tre nứa lá, ở nhà tập thể làm tạm bằng cây rừng và vách nứa, nước thiếu, điện thiếu… khó lòng kể hết những khó khăn mà thầy Học cùng đồng nghiệp đã vượt qua. Có lẽ chỉ ngọn đèn dầu, những trang giáo án viết tay còn giữ lại kỷ niệm đủ để nói lên những gian nan của nghề giáo. Sau khi Nghĩa Đô tách trường để hoàn thiện các cấp học, thầy Hán Văn Học chuyển sang giảng dạy tại trường THCS Nghĩa Đô và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng từ tháng 9 năm 2004. Đến nay, thầy Học đã làm công tác quản lý nhà trường ở nhiệm kỳ thứ 2.
Khi bắt đầu công việc dạy học đến nay, thấm thoắt đã 12 năm thầy Học bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Biết bao vui buồn, nhọc nhằn và gian khổ của công việc dạy học nơi vùng đất còn gặp nhiều khó khăn được thầy và đồng nghiệp coi đó là những kỷ niệm đẹp của nghề dạy học, còn hiện tại và phía trước là ngôi trường, là học trò và sự tâm huyết với con chữ của vùng cao Nghĩa Đô. Từ những lớp học tranh tre nứa đơn sơ, thầy Học cùng đồng nghiệp, chính quyền và nhân dân từng bước tu sửa, chỉnh trang và làm cho cảnh quan trường lớp học ngày một khang trang. Đến nay, trường THCS Nghĩa Đô đã được đầu tư xây dựng hai dãy nhà hai tầng, một nhà điều hành và các phòng học bộ môn. Thầy Học cho biết hiện nay, trường THCS Nghĩa Đô đang trên lộ trình xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1.
Một tấm gương điển hình khác, đó là cô giáo Vũ Thị Trang giáo viên trường THPT số 3 Bảo Yên, người ở Lục Ngạn (Bắc Giang) đã có gần 10 năm bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Tốt nghiệp trường Đại học sư phạm, khoa Tiếng Anh, cô Trang theo tiếng gọi của vùng cao Lào Cai lên nộp hồ sơ xin công tác. Sở Giáo dục tỉnh phân công cô về một trường cấp III mới thành lập ở xã Nghĩa Đô (nay là trường THPT số 3). Điện không có, nhà ở cho giáo viên và lớp học cho học sinh cũng tạm bợ bằng tranh tre nứa lá. Những ngày đầu xa nhà, nhớ quê cảm giác dài đằng đẵng như cả năm vậy. Tối đến, căn phòng chật hẹp chưa đầy 15 m2 mà chứa đến bốn giáo viên, nhưng tứ phía vách nứa hở toang hoác, gió thông thốc thổi. Đêm đêm chỉ có đèn dầu leo lét để thắp sáng và soạn giáo án.
Những ngày đầu ở Nghĩa Đô, cô Trang thấy đêm dài hơn ngày và chỉ muốn ngày kéo dài thêm. Bởi chỉ đến 18 giờ tối là trời tối mịt, xung quanh toàn núi và cây. Phòng ở giống như “khách sạn ngàn sao”, bị dột tứ phía vì thế đêm mưa các giáo viên càng thêm nỗi nhớ nhà. Nước sinh hoạt ở trường chỉ trông chờ vào bể nước của dự án 135 tận trên nguồn dẫn về.
 









Các ý kiến mới nhất