Tìm kiếm Giáo án
Bài 21. Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ XVI-XVIII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn ngọc linh
Ngày gửi: 08h:39' 06-01-2020
Dung lượng: 17.5 KB
Số lượt tải: 52
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn ngọc linh
Ngày gửi: 08h:39' 06-01-2020
Dung lượng: 17.5 KB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích:
0 người
CHƯƠNG I: Khái quát về chỉ đạo nghệ thuật quân sự và vài nét về chủ trương chiến lược đánh lâu dài trong các cuộc kháng chiến và phong trào giải phóng dân tộc từ thế kỉ XI đén thế kỷ XV
Khái quát về nghệ thuật chỉ đạo quân sự trong sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm:
“Nền độc lập của dân tộc ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông chống lại nhiều đạo quân xâm lược hùng mạnh.”(1) và những chiến công oanh liệt hiển hách của Tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nghệ thuật chiến tranh ưu việt độc đáo.
“Chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó lên một trình độ mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong đó các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt suất về tài thao lược.”(2)
Đất nước có giặc ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, Tổ tiên ta đã biết tìm ra cách đánh sáng tạo để đánh thắng quân xâm lược.
Một đất nước đất không rộng người không đông trong khi kẻ thù lại là một nước lớn – nhiều người và có sức mạnh quân sự cho nên để giữ gìn đất nước yêu cầu dân tộc ta phải có sáng tạo trong cách đánh, phát huy tiềm lực bản thân để giáng trả cho chúng những đòn quyết định làm tan rã ý chí xâm lược của chúng. “ Nền độc lập của nước ta gắn với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược hùng mạnh.”(3)
Do những điều kiện lịch sử đó mà nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đã được xây dựng tương đối toàn diện.
Vài nét về chủ trương chiến lược đánh lâu dài:
Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự của ta đã biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không có lợi cho ta nhằm đảm bảo lực lượng tranh thủ thời gian tạo nên thế và lực dần dần tiêu diệt giặc.
Trong các cuộc chiến tranh tự vệ trước ưu thế lớn mạnh của địch Tổ tiên ta đã biết tránh dốc hết lực lượng hòng phân thắng bại với địch mà biết rút lui chiến lược, cho địch vào trận địa mai phục của ta. Khi rút lui ta đã kết hợp với thổ binh và dân binh đánh địch tại chỗ. Ta đã thực hiện theo nguyên tắc quân sự thời cổ đại “Dĩ dặt đãi lao” lấy nhàn trở mệt, lấy yếu trở mạnh, lấy sung sức trở hao môn. Đáng chú ý các nhà quân sự của ta đã học tập binh pháp của Tôn Tử nhưng không theo quan điểm “Đánh nhanh thắng nhanh”. Binh pháp Tôn Tử cho rằng “Việc dùng binh chỉ nghe nó có tốc quyết vụng về, chứ không khôn khéo, chiến tranh lâu dài mà có lợi cho nước nhà là điều không thể có”. Cho nên biết đánh lâu dài trong hoàn cảnh của nước ta cũng là một sánh tạo của Tổ tiên.
Trong nhiều cuộc chiến tranh, các nhà quân sự thời xưa khéo léo vận dụng hai cách đánh: Đánh phân tán và đánh tập trung một cách nhuần nhuyễn. Biết kết hợp đánh nhỏ với đánh lớn kết hợp lực lượng của dân chúng với lực lượng của quân đội triều đình biết kết hợp với lực lowngj của dân binh, thổ binh một cách rộng rãi tập chung cho nên đã phát triển từ chiến tranh du kích nên chiến tranh tập trung giành thắng lợi.
Có thể nói chủ chương chiến lược đánh lâu dài chính là ở sự kết hợp hình thức rút lui chiến lược phân công chiến lược, đánh phân tán – đánh tập trung là sự sáng tạo tuyệt vời trong nghệ thuật đánh giặc cứu nước của Tổ tiên trước quân xâm lược lớn mạnh hơn ta.
Chủ trương chiến lược đánh lâu dài thể hiện trong các cuộc kháng chiến và phong trào giải phóng dân tộc từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV.
Những yếu tố tạo tiền đề cho chủ trương chiến lược đánh lâu dài.
Nhìn lại trặng đường lịch sử đã qua của dân tộc, chúng ta đã chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và liên tục và đã giành thắng lợi. Đây là nét nổi bật trong lịch sử Việt Nam là thử thách gay go nhưng cũng là niềm tự hào to lớn của dân tộc.
Trong khoảng hơn 22 thế kỷ mà ta đã phải tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ và hàng chục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm lên đến khoảng 12 thế kỷ, có thể thấy ít có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chống ngoại xâm liên tục với thời gian dài và
Khái quát về nghệ thuật chỉ đạo quân sự trong sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm:
“Nền độc lập của dân tộc ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông chống lại nhiều đạo quân xâm lược hùng mạnh.”(1) và những chiến công oanh liệt hiển hách của Tổ tiên ta đều có những biểu hiện tương đối thống nhất của một nghệ thuật chiến tranh ưu việt độc đáo.
“Chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ định lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại nó còn phát triển những tinh hoa đó lên một trình độ mới. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dân tộc ta đã từng bao phen anh dũng đứng dậy chống nạn ngoại xâm, giữ gìn độc lập cho đất nước. Trong đó các cuộc đấu tranh vũ trang đó, dân tộc ta đã có những sáng tạo kiệt suất về tài thao lược.”(2)
Đất nước có giặc ngoại xâm, dân tộc ta không có con đường nào khác là con đường đứng lên cầm vũ khí chống quân thù. Nhưng quân xâm lược là một kẻ địch có lực lượng quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, Tổ tiên ta đã biết tìm ra cách đánh sáng tạo để đánh thắng quân xâm lược.
Một đất nước đất không rộng người không đông trong khi kẻ thù lại là một nước lớn – nhiều người và có sức mạnh quân sự cho nên để giữ gìn đất nước yêu cầu dân tộc ta phải có sáng tạo trong cách đánh, phát huy tiềm lực bản thân để giáng trả cho chúng những đòn quyết định làm tan rã ý chí xâm lược của chúng. “ Nền độc lập của nước ta gắn với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược hùng mạnh.”(3)
Do những điều kiện lịch sử đó mà nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh đã được xây dựng tương đối toàn diện.
Vài nét về chủ trương chiến lược đánh lâu dài:
Trước quân địch lớn mạnh, các nhà quân sự của ta đã biết tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện không có lợi cho ta nhằm đảm bảo lực lượng tranh thủ thời gian tạo nên thế và lực dần dần tiêu diệt giặc.
Trong các cuộc chiến tranh tự vệ trước ưu thế lớn mạnh của địch Tổ tiên ta đã biết tránh dốc hết lực lượng hòng phân thắng bại với địch mà biết rút lui chiến lược, cho địch vào trận địa mai phục của ta. Khi rút lui ta đã kết hợp với thổ binh và dân binh đánh địch tại chỗ. Ta đã thực hiện theo nguyên tắc quân sự thời cổ đại “Dĩ dặt đãi lao” lấy nhàn trở mệt, lấy yếu trở mạnh, lấy sung sức trở hao môn. Đáng chú ý các nhà quân sự của ta đã học tập binh pháp của Tôn Tử nhưng không theo quan điểm “Đánh nhanh thắng nhanh”. Binh pháp Tôn Tử cho rằng “Việc dùng binh chỉ nghe nó có tốc quyết vụng về, chứ không khôn khéo, chiến tranh lâu dài mà có lợi cho nước nhà là điều không thể có”. Cho nên biết đánh lâu dài trong hoàn cảnh của nước ta cũng là một sánh tạo của Tổ tiên.
Trong nhiều cuộc chiến tranh, các nhà quân sự thời xưa khéo léo vận dụng hai cách đánh: Đánh phân tán và đánh tập trung một cách nhuần nhuyễn. Biết kết hợp đánh nhỏ với đánh lớn kết hợp lực lượng của dân chúng với lực lượng của quân đội triều đình biết kết hợp với lực lowngj của dân binh, thổ binh một cách rộng rãi tập chung cho nên đã phát triển từ chiến tranh du kích nên chiến tranh tập trung giành thắng lợi.
Có thể nói chủ chương chiến lược đánh lâu dài chính là ở sự kết hợp hình thức rút lui chiến lược phân công chiến lược, đánh phân tán – đánh tập trung là sự sáng tạo tuyệt vời trong nghệ thuật đánh giặc cứu nước của Tổ tiên trước quân xâm lược lớn mạnh hơn ta.
Chủ trương chiến lược đánh lâu dài thể hiện trong các cuộc kháng chiến và phong trào giải phóng dân tộc từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV.
Những yếu tố tạo tiền đề cho chủ trương chiến lược đánh lâu dài.
Nhìn lại trặng đường lịch sử đã qua của dân tộc, chúng ta đã chiến đấu chống ngoại xâm gần như thường xuyên và liên tục và đã giành thắng lợi. Đây là nét nổi bật trong lịch sử Việt Nam là thử thách gay go nhưng cũng là niềm tự hào to lớn của dân tộc.
Trong khoảng hơn 22 thế kỷ mà ta đã phải tiến hành 13 cuộc chiến tranh giữ nước, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ và hàng chục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Thời gian chống ngoại xâm lên đến khoảng 12 thế kỷ, có thể thấy ít có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chống ngoại xâm liên tục với thời gian dài và
 








Các ý kiến mới nhất