Nhà thơ Nguyễn Khuyến & Tú Xương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đình Việt
Ngày gửi: 12h:48' 26-04-2009
Dung lượng: 121.0 KB
Số lượt tải: 187
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đình Việt
Ngày gửi: 12h:48' 26-04-2009
Dung lượng: 121.0 KB
Số lượt tải: 187
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai nhà thơ tiêu biểu của giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII. Cả hai có nỗi niềm giống nhau. Đó là nỗi buồn thời thế, nỗi buồn của các bậc Nho sĩ thời loạn. Nếu như Nguyễn Khuyến với "Tiến sĩ giấy" mang giọng cười tự trào nhưng chua xót, suy tư mà đằm thắm với 3 bài thơ thu "Thu ẩm","Thu vịnh", "Thu điếu"; thì Tú Xương với phong cách thơ mạnh mẽ, sâu cay mà bốp chát "Thương vợ", "Chúc năm mới"..., tràn đầy cách ví von chế giễu thời thế "Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng". Thật ra ở đây ta nhận thấy rõ, Nguyễn Khuyến chỉ mang tâm trang bất mãn thời thế, chứ không thật sự đả kích nó, phê phán nó sâu sắc như Tú Xương. Thơ Nguyễn Khuyến mang nét đẹp thôn quê bình dị, ông muốn trốn tránh sự thật của cái xã hội thối nát thời đó. Nhưng Tú Xương lại khác, ông mạnh mẽ lên án, tố cáo nó, đối đầu với nó. Thơ Tú Xương mang đậm nét tráo phúng sâu cay, có lẽ thơ ông hơi tục nhưng chỉ có như thế mới lột trần thật sự cái bản chất của xã hội nửa phong kiến nửa thực dân vào nửa cuối thế kỷ XVIII.
………………………………
37 năm của cuộc đời Tú Xương (1870 - 1907) nằm trọn trong giai đoạn lịch sử vô cùng bi thảm: Triều đình nhà Nguyễn vốn lạc hậu và bảo thủ, đang trên đà suy sụp, rốt cuộc đã bán đứng đất nước ta cho thực dân Pháp.
Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập vào Việt Nam đã làm thay đổi sâu sắc đất nước ta về tất cả mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, đạo đức và xã hội.
Thế nhưng Việt Nam đâu có trở thành một nước tư bản chủ nghĩa thực thụ! Trái lại nó bị giam hãm trong cơ chế của một nước phong kiến nửa thuộc địa.
Bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX là một bức tranh xám xịt, nham nhở. Toàn bộ vùng nông thôn rộng lớn vẫn chìm trong đêm tối của cảnh nghèo khốn, lạc hậu. Còn ở các vùng kẻ chợ như Hà Nội và Nam Định (quê Tú Xương) thì phơi bày một cảnh đời đồi bại và lố lăng.
Tú Xương là một con người có đầy đủ lương tri và bản lĩnh của một trí thức Việt Nam phong kiến chân chính. Nói như Tehernychevsky, nhà triết học và văn hào Nga thế kỉ XIX - ông là "nguyên động lực của động lực", là "tinh chất muối trong muối của trần gian".
Tú Xương có tài văn chương xuất chúng, có cái TÂM của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, yêu nước, thương xót giống nòi; có cái trí của một người lỗi lạc biết được cái gì có thể chấp nhận và cái gì phải phủ nhận trên thế giới này; có cái Hồn của một nhà lãng mạn chủ nghĩa tầm vóc nhân loại.
Số phận của bản thân ông phản ánh số phận của dân tộc ông thời ấy. Đó là bi kịch của một con người "tiến thoái lưỡng nam". Ông không thể cam tâm "vứt bút lông đi giắt bút chì" để trở thành "Chẳng kí, không thông cũng cậu bồi" như những kẻ vô liêm sỉ khác. Ông cũng không phải hạng hủ nho vùi đầu vào kinh sử, quanh năm "đẽo gọt con sâu". Chính vì vậy mà ông đến nỗi "tám khoa chưa khỏi phạm trường qui".
Phẩm cách sĩ phu thôi thúc ông phải đỗ đạt, phải "lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ". Tú Xương đã không tìm ra được một con đường tiến thân đúng đắn. Những bế tắc về tư tưởng, về công danh, và cảnh khốn cùng đã khiến ông phẫn chí, có lúc tưởng chừng phát điên phát dại.
Một nhân cách lớn và một tài năng lớn như Tú Xương lẽ nào lại chịu "tan nát với cỏ cây"? Tú Xương đã, không phải "nhả ngọc phun châu" mà nhả đạn ra ngoài miệng bắn phá cái cuộc đời xấu xa bẩn thỉu đang diễn ra xung quanh ông. Ông đã trút vào văn thơ tất cả những nỗi ưu uất của lòng mình.
Mải sống, mải chơi, mải vẫy vùng và "bắn phá", Tú Xương có lẽ không hề nghĩ đến cái thành quả, cái "sự nghiệp" đích thực của chính ông. Ông đã nói và nói thật rằng :
Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế có ra gì!
Trái với cái ý nghĩ tuyệt vọng đó, lịch sử đã xác nhận: Thành quả lớn nhất của nền văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX thuộc về dòng văn chương hiện thực - trữ tình - trào phúng với hai nhà thơ lỗi lạc: Nguyễn Khuyến và Tú Xương.
Về nội dung, thơ Tú Xương mang tính chất hiện thực cao độ, phản ánh cả một xã
………………………………
37 năm của cuộc đời Tú Xương (1870 - 1907) nằm trọn trong giai đoạn lịch sử vô cùng bi thảm: Triều đình nhà Nguyễn vốn lạc hậu và bảo thủ, đang trên đà suy sụp, rốt cuộc đã bán đứng đất nước ta cho thực dân Pháp.
Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập vào Việt Nam đã làm thay đổi sâu sắc đất nước ta về tất cả mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, đạo đức và xã hội.
Thế nhưng Việt Nam đâu có trở thành một nước tư bản chủ nghĩa thực thụ! Trái lại nó bị giam hãm trong cơ chế của một nước phong kiến nửa thuộc địa.
Bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX là một bức tranh xám xịt, nham nhở. Toàn bộ vùng nông thôn rộng lớn vẫn chìm trong đêm tối của cảnh nghèo khốn, lạc hậu. Còn ở các vùng kẻ chợ như Hà Nội và Nam Định (quê Tú Xương) thì phơi bày một cảnh đời đồi bại và lố lăng.
Tú Xương là một con người có đầy đủ lương tri và bản lĩnh của một trí thức Việt Nam phong kiến chân chính. Nói như Tehernychevsky, nhà triết học và văn hào Nga thế kỉ XIX - ông là "nguyên động lực của động lực", là "tinh chất muối trong muối của trần gian".
Tú Xương có tài văn chương xuất chúng, có cái TÂM của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, yêu nước, thương xót giống nòi; có cái trí của một người lỗi lạc biết được cái gì có thể chấp nhận và cái gì phải phủ nhận trên thế giới này; có cái Hồn của một nhà lãng mạn chủ nghĩa tầm vóc nhân loại.
Số phận của bản thân ông phản ánh số phận của dân tộc ông thời ấy. Đó là bi kịch của một con người "tiến thoái lưỡng nam". Ông không thể cam tâm "vứt bút lông đi giắt bút chì" để trở thành "Chẳng kí, không thông cũng cậu bồi" như những kẻ vô liêm sỉ khác. Ông cũng không phải hạng hủ nho vùi đầu vào kinh sử, quanh năm "đẽo gọt con sâu". Chính vì vậy mà ông đến nỗi "tám khoa chưa khỏi phạm trường qui".
Phẩm cách sĩ phu thôi thúc ông phải đỗ đạt, phải "lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ". Tú Xương đã không tìm ra được một con đường tiến thân đúng đắn. Những bế tắc về tư tưởng, về công danh, và cảnh khốn cùng đã khiến ông phẫn chí, có lúc tưởng chừng phát điên phát dại.
Một nhân cách lớn và một tài năng lớn như Tú Xương lẽ nào lại chịu "tan nát với cỏ cây"? Tú Xương đã, không phải "nhả ngọc phun châu" mà nhả đạn ra ngoài miệng bắn phá cái cuộc đời xấu xa bẩn thỉu đang diễn ra xung quanh ông. Ông đã trút vào văn thơ tất cả những nỗi ưu uất của lòng mình.
Mải sống, mải chơi, mải vẫy vùng và "bắn phá", Tú Xương có lẽ không hề nghĩ đến cái thành quả, cái "sự nghiệp" đích thực của chính ông. Ông đã nói và nói thật rằng :
Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế có ra gì!
Trái với cái ý nghĩ tuyệt vọng đó, lịch sử đã xác nhận: Thành quả lớn nhất của nền văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX thuộc về dòng văn chương hiện thực - trữ tình - trào phúng với hai nhà thơ lỗi lạc: Nguyễn Khuyến và Tú Xương.
Về nội dung, thơ Tú Xương mang tính chất hiện thực cao độ, phản ánh cả một xã
 








Các ý kiến mới nhất