nguon goc cac loai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Internet
Người gửi: Hà Thị Kim Duyên
Ngày gửi: 11h:01' 03-06-2008
Dung lượng: 610.5 KB
Số lượt tải: 52
Nguồn: Internet
Người gửi: Hà Thị Kim Duyên
Ngày gửi: 11h:01' 03-06-2008
Dung lượng: 610.5 KB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích:
0 người
Tác phẩm vừa online của Darwin: "Nguồn gốc muôn loài" bản mới?
Mới đây, toàn bộ tác phẩm của Charles Darwin đã được đưa lên mạng Internet. Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều điều bất ngờ trong bản thảo On the origin of species (Nguồn gốc muôn loài, xuất bản năm 1859). Những bí mật dữ dội của tự nhiên, sự tương tác máu thịt giữa con người và loài vật, sự bất tử của phả hệ.... Nhằm giúp bạn đọc tiếp cận với bản in đầu tiên của tác phẩm Nguồn gốc muôn loài (1859), Vietimes trân trọng giới thiệu một bản dịch mới về tác phẩm này.
Khi chúng ta để ý đến những cá thể cùng loài hoặc loài bậc thấp hơn những cây trồng và vật nuôi từ xa xưa, một trong những điểm đầu tiên đập vào mắt chúng ta là thường thì chúng khác nhau hơn rất nhiều so với bất cứ chủng loại nào hay loài nào trong môi trường tự nhiên
Khi chúng ta suy ngẫm về tính đa dạng rộng lớn của những loài cây và những vật nuôi đã thay đổi qua nhiều kỉ qua dưới tác động của nhiều hoàn cảnh khí hậu khác biệt nhất, tôi nghĩ là chúng ta đã đi đến kết luận rằng tính biến thiên lớn này đơn giản chỉ vì những sản phẩm thuần hoá của chúng ta đã tăng lên dưới các điều kiện của đời sống không đồng nhất về hình thức, và phần nào khác với những cái mà chủng loại gốc đã thải loại dưới điều kiện tự nhiên.
Mặt khác, khi ta thấy những động vật và cây trồng được thuần hoá, dù thường cằn cỗi và yếu ớt, song sinh sản hoàn toàn thoải mái dưới sự giam cầm; và mặt khác, khi ta thấy những cá thể, con non lấy từ tự nhiên, được thuần hoá một cách hoàn hảo, sống lâu và khoẻ mạnh (tôi có thể đưa ra nhiều ví dụ minh hoạ), hệ thống sinh sản của chúng còn bị tác động nghiêm trọng như nhau bởi những nguyên nhân không nhận thấy dẫn đến thất bại, chúng ta không cần ngạc nhiên về cơ thể này, vì chúng hoạt động dưới sự giam cầm và, hoạt động không hoàn toàn đều đặn, và đem lại kết quả không hoàn chỉnh như bố mẹ chúng hoặc hay thay đổi về lượng.
Sự mất khả năng sinh sản được cho là tai ương trong việc làm vườn. Nhưng trên phương diện này ta công nhận sự thay đổi là nguồn gốc của những nguyên nhân giống nhau gây ra sự mất khả năng sinh sản; và sự hay biến đổi là điểm bắt đầu cho sự chọn lọc những sản phẩm tốt nhất trong vườn.
Tôi có thể thêm vào, rằng vì các sinh vật sẽ sinh sản rất thoải mái dưới những điều kiện không tự nhiên nhất (ví dụ, thỏ và chồn sương ở trong chuồng), cho thấy rằng vì thế cơ quan sinh sản không bị ảnh hưởng, do đó các cây trồng và vật nuôi sẽ chống lại sự thuần hoá và nuôi dưỡng, và biến đổi rất nhẹ- có lẽ khó mà nhiều hơn trong tự nhiên.
Một danh sách dài có thể dễ dàng được đưa ra về những loài cây thắng thế, thuật ngữ những người làm vườn dành cho một chồi cây hay mầm cây riêng lẻ, bất ngờ có một đặc điểm mới hoặc đôi khi rất khác với những đặc điểm còn lại của cây. Những mầm cây như thế có thể được nhân giống bởi kĩ thuật ghép,... và đôi khi bằng hạt giống. Những loài cây biến dị này khá hiếm trong tự nhiên, nhưng không hề hiếm trong trồng trọt, và trong trường hợp này ta thấy rằng sự xử lý của cây mẹ tác động đến một mầm cây hay chồi cây, mà không phải với noãn và phấn hoa. Nhưng quan điểm của rất nhiều nhà sinh lý học là không có sự khác biệt cần thiết nào giữa một chồi cây và một noãn trong những giai đoạn hình thành đầu tiên của chúng, thực tế, với kết quả là những loài biến dị bổ sung củng cố cho quan điểm của tôi, rằng sự biến đổi ở mức độ lớn có thể được quy cho noãn hoặc phấn hoa, hoặc cả hai, bị ảnh hưởng bởi sự xử lý cây mẹ trước khi đem vào gây giống.
Dù thế nào đi nữa những trường hợp này cho thấy rằng biến dị không nhất thiết được liên hệ, như vài tác giả đã tưởng, với sự sinh ra thế hệ sau. Cây trồng từ hạt của cùng một loại quả, và con của cùng một lứa đẻ, đôi khi khác nhau đáng kể, dù cả con con lẫn con mẹ, như Muller nhận xét, hình như được bộc lộ chính xác điều kiện của đời sống, và điều này cho biết ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống không quan trọng so với quy luật sinh sản, quy luật phát triển, và di truyền, vì tác động của những điều kiện này đã điều khiển, nếu bất cứ con con nào thay đổi, tất cả sẽ có thể biến đổi trong cùng một kiểu giống nhau. Để đánh giá mức độ, trong các biến đổi, ta quy cho là do ảnh hưởng trực tiếp của hơi nóng, hơi ẩm, ánh sáng và thức ăn,... là rất khó.
Cảm giác của tôi là, với các con vật những tác dụng như vậy tạo ra rất ít những ảnh hưởng trực tiếp, dù có vẻ nhiều hơn với trường hợp của các cây trồng. Với quan điểm này, những thí nghiệm gần đây của Mr. Buckman về các loại cây có vẻ có giá trị nhất.
Khi tất cả hoặc gần như tất cả các cá thể đặt vào điều kiện nào đó bị tác động bởi cùng một cách, lúc đầu sự thay đổi hình như xuất hiện ngay lập tức vì những điều kiện như thế, nhưng trong vài trường hợp cho thấy rằng những điều kiện hơi trái ngược tạo ra những biến đổi tương tự về cấu trúc. Tuy nhiên tôi cho rằng vài số lượng lớn thay đổi nhẹ có thể bị quy cho các ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống- như, trong vài trường hợp, tăng thêm qui mô nhờ lượng thức ăn, màu sắc nhờ những loại thức ăn đặc biệt và từ ánh sáng, và có lẽ độ rậm rạp của bộ lông nhờ khí hậu.
Thói quen cũng có một ảnh hưởng nhất định, như trong giai đoạn ra hoa, cây được chuyển từ vùng khí hậu này tới vùng khí hậu khác. Ở động vật, có một ảnh hưởng rõ rệt hơn; ví dụ, tôi thấy trong những con vịt nuôi xương cánh nhẹ hơn và xương phần lưng nặng hơn rất nhiều, tương xứng với toàn bộ xương sườn, so với những bộ phận xương tương tự của vịt trời; và tôi phỏng đoán rằng sự thay đổi này chắc chắn có thể được quy cho những con vịt nuôi ít bay hơn nhiều, và bước nhiều hơn con vịt hoang dã.
Sự phát triển lớn và được di truyền của bộ phận vú ở bò cái và dê ở những vùng chúng thường xuyên bị vắt lấy sữa, so với những cơ thể đó ở các vùng khác, là ví dụ khác về hiệu quả sử dụng. Không phải một vật nuôi riêng lẻ có thể được định rõ tên mà ở nhiều vùng nó không có đôi tai cụp. Và quan điểm được một vài tác giả đưa ra, rằng sự cụp xuống là vì sự không dùng đến cơ tai, từ những động vật không bị hoảng sợ lắm bởi mối đe doạ, có vẻ là có thể chấp nhận được.
Có nhiều quy luật quy định sự biến thể, một vài trong số đó có thể được nhìn thấy một cách mập mờ, và từ nay trở đi sẽ được đề cập đến một cách ngắn gọn. Ở đây tôi sẽ chỉ nói đến những điều mà có thể được gọi là thể tương quan của sự phát triển.
Bất cứ sự thay đổi nào trong phôi thai hoặc ấu trùng gần như tất nhiên sẽ gây ra những thay đổi ở động vật trưởng thành. Ở những vật quái dị thể tương quan giữa những bộ phận hoàn toàn riêng biệt rất lạ lùng; và nhiều ví dụ đã được đưa ra trong tác phẩm xuất sắc của Isidore Geoffrog St. Hilaire về vấn đề này.
Những người gây giống cho rằng phiến lá dài gần như luôn được phụ thêm vào bởi phần đầu có hình thon dài. Vài ví dụ về thể tương quan đúng là hơi kì quái. Do đó những con mèo với đôi mắt xanh lúc nào cũng điếc, màu sắc và nét đặc biệt về thể chất gắn với nhau, những cái mà nhiều ví dụ đặc biệt có thể được mang lại trong động vật và thực vật. Từ những cơ sở lập luận được Heusinger rút ra, hình như cừu trắng và lợn bị tấn công theo cách khác nhau từ những cá thể da màu bởi những chất độc thực vật nào đó. Những con chó không có lông có hàm răng không hoàn chỉnh; những động vật có lông dài và thô có khuynh hướng, như đã được khẳng định, có râu nhiều và dài; chim bồ câu với đôi chân có lông có lớp da giữa hai ngón chân bên ngoài; chim bồ câu mỏ ngắn có chân nhỏ và mỏ dài thì chân ngắn.
Do đó, nếu con người tiếp tục chọn lọc thì làm tăng thêm, bất cứ nét đặc biệt nào, anh ta sẽ gần như chắc chắn vô tình sửa đổi những bộ phận khác trong cấu trúc, vì những quy luật khó giải thích về sự tương quan của sự phát triển.
Thế giới chung một "Tổ tiên" duy nhất?
Kết quả khác nhau, hoàn toàn không nhận ra, hoặc những định luật biến dị được nhận thấy lờ mờ vô cùng phức tạp và đa dạng. Nó có nhiều giá trị để nghiên cứu kĩ lưỡng luận thuyết bàn về các giống cây trồng của chúng ta, như cây lan dạ hương, cây khoai tây, thậm chí cây thược dược,...Và thật sự ngạc nhiên khi lưu ý đến những luận điểm vô tận về cấu trúc và thể tạng, mà các giống và giống phụ khác nhau ở một mức độ không đáng kể. Toàn bộ cấu trúc hình như trở nên mềm dẻo, và có chiều hướng thoát khỏi cấu trúc gốc của tiêu thức bố mẹ một mức độ nhỏ.
Bất cứ biến dạng nào không được di truyền không quan trọng với chúng ta. Nhưng số lượng và tính đa dạng của những sai khác cấu trúc có thể di truyền, cả những sai khác sinh lý học không đáng kể hay đáng kể đều vô tận. Luận thuyết của tiến sĩ Prosper Lucas, với hai tập lớn, là xuất sắc và đầy đủ nhất. Không người gây giống nào không biết xu hướng di truyền mạnh mẽ thế nào: like produces like là tư tưởng chủ đạo của ông. Sự hồ nghi về nguyên lý này đã bị thổi bạt đi nhờ các tác giả luận thuyết. Khi một sai khác xuất hiện không phải là hiếm, và ta thấy nó ở cả cha và con, ta không thể nào nói không thể vì cùng nguyên nhân nguồn gốc có ở cả hai người; nhưng trong nhóm nhiều cá thể, hình như bị đặt trong cùng những điều kiện giống nhau, bất cứ sai khác rất hiếm nào, do sự kết hợp khá khác thường về hoàn cảnh, xuất hiện ở cá thể cha- khi đặt trong khoảng vài triệu cá thể, thì nó lại xuất hiện ở cá thể con, học thuyết ngẫu nhiên hầu như buộc chúng ta quy cho sự lặp của nó là do di truyền. Mọi người hẳn đã từng nghe về những trường hợp bị bạch tạng, da sần, rậm lông,... xuất hiện ở vài thành viên trong cùng gia đình. Nếu sự sai khác lạ thường và hiếm có về cấu trúc hoàn toàn được di truyền, thì những sai khác ít lập dị và phổ biến hơn có thể được di truyền thoải mái. Có lẽ cách nhìn chính xác về toàn bộ đề tài sẽ là xem xét sự di truyền mọi đặc tính như quy luật, và những cái không di truyền là sự dị thường.
Charles Darwin
Định luật di truyền hoàn toàn chưa được biết đến; không ai có thể nói tại sao nét đặc biệt giống nhau ở những cá thể khác nhau cùng chủng loại, và những cá thể khác loài đôi khi được di truyền và đôi khi lại không; tại sao cá thể con lại lại giống nguyên thể của ông bà trong vài đặc tính n
Mới đây, toàn bộ tác phẩm của Charles Darwin đã được đưa lên mạng Internet. Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều điều bất ngờ trong bản thảo On the origin of species (Nguồn gốc muôn loài, xuất bản năm 1859). Những bí mật dữ dội của tự nhiên, sự tương tác máu thịt giữa con người và loài vật, sự bất tử của phả hệ.... Nhằm giúp bạn đọc tiếp cận với bản in đầu tiên của tác phẩm Nguồn gốc muôn loài (1859), Vietimes trân trọng giới thiệu một bản dịch mới về tác phẩm này.
Khi chúng ta để ý đến những cá thể cùng loài hoặc loài bậc thấp hơn những cây trồng và vật nuôi từ xa xưa, một trong những điểm đầu tiên đập vào mắt chúng ta là thường thì chúng khác nhau hơn rất nhiều so với bất cứ chủng loại nào hay loài nào trong môi trường tự nhiên
Khi chúng ta suy ngẫm về tính đa dạng rộng lớn của những loài cây và những vật nuôi đã thay đổi qua nhiều kỉ qua dưới tác động của nhiều hoàn cảnh khí hậu khác biệt nhất, tôi nghĩ là chúng ta đã đi đến kết luận rằng tính biến thiên lớn này đơn giản chỉ vì những sản phẩm thuần hoá của chúng ta đã tăng lên dưới các điều kiện của đời sống không đồng nhất về hình thức, và phần nào khác với những cái mà chủng loại gốc đã thải loại dưới điều kiện tự nhiên.
Mặt khác, khi ta thấy những động vật và cây trồng được thuần hoá, dù thường cằn cỗi và yếu ớt, song sinh sản hoàn toàn thoải mái dưới sự giam cầm; và mặt khác, khi ta thấy những cá thể, con non lấy từ tự nhiên, được thuần hoá một cách hoàn hảo, sống lâu và khoẻ mạnh (tôi có thể đưa ra nhiều ví dụ minh hoạ), hệ thống sinh sản của chúng còn bị tác động nghiêm trọng như nhau bởi những nguyên nhân không nhận thấy dẫn đến thất bại, chúng ta không cần ngạc nhiên về cơ thể này, vì chúng hoạt động dưới sự giam cầm và, hoạt động không hoàn toàn đều đặn, và đem lại kết quả không hoàn chỉnh như bố mẹ chúng hoặc hay thay đổi về lượng.
Sự mất khả năng sinh sản được cho là tai ương trong việc làm vườn. Nhưng trên phương diện này ta công nhận sự thay đổi là nguồn gốc của những nguyên nhân giống nhau gây ra sự mất khả năng sinh sản; và sự hay biến đổi là điểm bắt đầu cho sự chọn lọc những sản phẩm tốt nhất trong vườn.
Tôi có thể thêm vào, rằng vì các sinh vật sẽ sinh sản rất thoải mái dưới những điều kiện không tự nhiên nhất (ví dụ, thỏ và chồn sương ở trong chuồng), cho thấy rằng vì thế cơ quan sinh sản không bị ảnh hưởng, do đó các cây trồng và vật nuôi sẽ chống lại sự thuần hoá và nuôi dưỡng, và biến đổi rất nhẹ- có lẽ khó mà nhiều hơn trong tự nhiên.
Một danh sách dài có thể dễ dàng được đưa ra về những loài cây thắng thế, thuật ngữ những người làm vườn dành cho một chồi cây hay mầm cây riêng lẻ, bất ngờ có một đặc điểm mới hoặc đôi khi rất khác với những đặc điểm còn lại của cây. Những mầm cây như thế có thể được nhân giống bởi kĩ thuật ghép,... và đôi khi bằng hạt giống. Những loài cây biến dị này khá hiếm trong tự nhiên, nhưng không hề hiếm trong trồng trọt, và trong trường hợp này ta thấy rằng sự xử lý của cây mẹ tác động đến một mầm cây hay chồi cây, mà không phải với noãn và phấn hoa. Nhưng quan điểm của rất nhiều nhà sinh lý học là không có sự khác biệt cần thiết nào giữa một chồi cây và một noãn trong những giai đoạn hình thành đầu tiên của chúng, thực tế, với kết quả là những loài biến dị bổ sung củng cố cho quan điểm của tôi, rằng sự biến đổi ở mức độ lớn có thể được quy cho noãn hoặc phấn hoa, hoặc cả hai, bị ảnh hưởng bởi sự xử lý cây mẹ trước khi đem vào gây giống.
Dù thế nào đi nữa những trường hợp này cho thấy rằng biến dị không nhất thiết được liên hệ, như vài tác giả đã tưởng, với sự sinh ra thế hệ sau. Cây trồng từ hạt của cùng một loại quả, và con của cùng một lứa đẻ, đôi khi khác nhau đáng kể, dù cả con con lẫn con mẹ, như Muller nhận xét, hình như được bộc lộ chính xác điều kiện của đời sống, và điều này cho biết ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống không quan trọng so với quy luật sinh sản, quy luật phát triển, và di truyền, vì tác động của những điều kiện này đã điều khiển, nếu bất cứ con con nào thay đổi, tất cả sẽ có thể biến đổi trong cùng một kiểu giống nhau. Để đánh giá mức độ, trong các biến đổi, ta quy cho là do ảnh hưởng trực tiếp của hơi nóng, hơi ẩm, ánh sáng và thức ăn,... là rất khó.
Cảm giác của tôi là, với các con vật những tác dụng như vậy tạo ra rất ít những ảnh hưởng trực tiếp, dù có vẻ nhiều hơn với trường hợp của các cây trồng. Với quan điểm này, những thí nghiệm gần đây của Mr. Buckman về các loại cây có vẻ có giá trị nhất.
Khi tất cả hoặc gần như tất cả các cá thể đặt vào điều kiện nào đó bị tác động bởi cùng một cách, lúc đầu sự thay đổi hình như xuất hiện ngay lập tức vì những điều kiện như thế, nhưng trong vài trường hợp cho thấy rằng những điều kiện hơi trái ngược tạo ra những biến đổi tương tự về cấu trúc. Tuy nhiên tôi cho rằng vài số lượng lớn thay đổi nhẹ có thể bị quy cho các ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống- như, trong vài trường hợp, tăng thêm qui mô nhờ lượng thức ăn, màu sắc nhờ những loại thức ăn đặc biệt và từ ánh sáng, và có lẽ độ rậm rạp của bộ lông nhờ khí hậu.
Thói quen cũng có một ảnh hưởng nhất định, như trong giai đoạn ra hoa, cây được chuyển từ vùng khí hậu này tới vùng khí hậu khác. Ở động vật, có một ảnh hưởng rõ rệt hơn; ví dụ, tôi thấy trong những con vịt nuôi xương cánh nhẹ hơn và xương phần lưng nặng hơn rất nhiều, tương xứng với toàn bộ xương sườn, so với những bộ phận xương tương tự của vịt trời; và tôi phỏng đoán rằng sự thay đổi này chắc chắn có thể được quy cho những con vịt nuôi ít bay hơn nhiều, và bước nhiều hơn con vịt hoang dã.
Sự phát triển lớn và được di truyền của bộ phận vú ở bò cái và dê ở những vùng chúng thường xuyên bị vắt lấy sữa, so với những cơ thể đó ở các vùng khác, là ví dụ khác về hiệu quả sử dụng. Không phải một vật nuôi riêng lẻ có thể được định rõ tên mà ở nhiều vùng nó không có đôi tai cụp. Và quan điểm được một vài tác giả đưa ra, rằng sự cụp xuống là vì sự không dùng đến cơ tai, từ những động vật không bị hoảng sợ lắm bởi mối đe doạ, có vẻ là có thể chấp nhận được.
Có nhiều quy luật quy định sự biến thể, một vài trong số đó có thể được nhìn thấy một cách mập mờ, và từ nay trở đi sẽ được đề cập đến một cách ngắn gọn. Ở đây tôi sẽ chỉ nói đến những điều mà có thể được gọi là thể tương quan của sự phát triển.
Bất cứ sự thay đổi nào trong phôi thai hoặc ấu trùng gần như tất nhiên sẽ gây ra những thay đổi ở động vật trưởng thành. Ở những vật quái dị thể tương quan giữa những bộ phận hoàn toàn riêng biệt rất lạ lùng; và nhiều ví dụ đã được đưa ra trong tác phẩm xuất sắc của Isidore Geoffrog St. Hilaire về vấn đề này.
Những người gây giống cho rằng phiến lá dài gần như luôn được phụ thêm vào bởi phần đầu có hình thon dài. Vài ví dụ về thể tương quan đúng là hơi kì quái. Do đó những con mèo với đôi mắt xanh lúc nào cũng điếc, màu sắc và nét đặc biệt về thể chất gắn với nhau, những cái mà nhiều ví dụ đặc biệt có thể được mang lại trong động vật và thực vật. Từ những cơ sở lập luận được Heusinger rút ra, hình như cừu trắng và lợn bị tấn công theo cách khác nhau từ những cá thể da màu bởi những chất độc thực vật nào đó. Những con chó không có lông có hàm răng không hoàn chỉnh; những động vật có lông dài và thô có khuynh hướng, như đã được khẳng định, có râu nhiều và dài; chim bồ câu với đôi chân có lông có lớp da giữa hai ngón chân bên ngoài; chim bồ câu mỏ ngắn có chân nhỏ và mỏ dài thì chân ngắn.
Do đó, nếu con người tiếp tục chọn lọc thì làm tăng thêm, bất cứ nét đặc biệt nào, anh ta sẽ gần như chắc chắn vô tình sửa đổi những bộ phận khác trong cấu trúc, vì những quy luật khó giải thích về sự tương quan của sự phát triển.
Thế giới chung một "Tổ tiên" duy nhất?
Kết quả khác nhau, hoàn toàn không nhận ra, hoặc những định luật biến dị được nhận thấy lờ mờ vô cùng phức tạp và đa dạng. Nó có nhiều giá trị để nghiên cứu kĩ lưỡng luận thuyết bàn về các giống cây trồng của chúng ta, như cây lan dạ hương, cây khoai tây, thậm chí cây thược dược,...Và thật sự ngạc nhiên khi lưu ý đến những luận điểm vô tận về cấu trúc và thể tạng, mà các giống và giống phụ khác nhau ở một mức độ không đáng kể. Toàn bộ cấu trúc hình như trở nên mềm dẻo, và có chiều hướng thoát khỏi cấu trúc gốc của tiêu thức bố mẹ một mức độ nhỏ.
Bất cứ biến dạng nào không được di truyền không quan trọng với chúng ta. Nhưng số lượng và tính đa dạng của những sai khác cấu trúc có thể di truyền, cả những sai khác sinh lý học không đáng kể hay đáng kể đều vô tận. Luận thuyết của tiến sĩ Prosper Lucas, với hai tập lớn, là xuất sắc và đầy đủ nhất. Không người gây giống nào không biết xu hướng di truyền mạnh mẽ thế nào: like produces like là tư tưởng chủ đạo của ông. Sự hồ nghi về nguyên lý này đã bị thổi bạt đi nhờ các tác giả luận thuyết. Khi một sai khác xuất hiện không phải là hiếm, và ta thấy nó ở cả cha và con, ta không thể nào nói không thể vì cùng nguyên nhân nguồn gốc có ở cả hai người; nhưng trong nhóm nhiều cá thể, hình như bị đặt trong cùng những điều kiện giống nhau, bất cứ sai khác rất hiếm nào, do sự kết hợp khá khác thường về hoàn cảnh, xuất hiện ở cá thể cha- khi đặt trong khoảng vài triệu cá thể, thì nó lại xuất hiện ở cá thể con, học thuyết ngẫu nhiên hầu như buộc chúng ta quy cho sự lặp của nó là do di truyền. Mọi người hẳn đã từng nghe về những trường hợp bị bạch tạng, da sần, rậm lông,... xuất hiện ở vài thành viên trong cùng gia đình. Nếu sự sai khác lạ thường và hiếm có về cấu trúc hoàn toàn được di truyền, thì những sai khác ít lập dị và phổ biến hơn có thể được di truyền thoải mái. Có lẽ cách nhìn chính xác về toàn bộ đề tài sẽ là xem xét sự di truyền mọi đặc tính như quy luật, và những cái không di truyền là sự dị thường.
Charles Darwin
Định luật di truyền hoàn toàn chưa được biết đến; không ai có thể nói tại sao nét đặc biệt giống nhau ở những cá thể khác nhau cùng chủng loại, và những cá thể khác loài đôi khi được di truyền và đôi khi lại không; tại sao cá thể con lại lại giống nguyên thể của ông bà trong vài đặc tính n
 









Các ý kiến mới nhất