Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Bài 16. Muốn làm thằng Cuội

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Thương
Ngày gửi: 08h:37' 09-02-2023
Dung lượng: 75.5 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích: 0 người
Ngày soạn:
Ngày giảng: /1; 31/1/2023
TIẾT 75, 76- BÀI 16 – Văn bản

I. Mục tiêu:

MUỐN LÀM THẰNG CUỘI

1. Năng lực
- Cảm nhận được tâm sự buồn chán thực tại; ước muốn thoát li rất “ngông”
và tấm lòng yêu nước của Tản Đà.
- Nhận ra sự đổi mới về ngôn ngữ, giọng điệu, ý tứ, cảm xúc trong bài thơ
Muốn làm thằng Cuội.
- Phân tích tác phẩm để thấy được tâm sự của nhà thơ Tản Đà.
- Phát hiện, so sánh, thấy được sự đổi mới trong hình thức thể loại văn học
truyền thống.
2. Phẩm chất: Lòng kính yêu, trân trọng những giá trị văn hoá nước nhà.
* Yêu cầu đối với học sinh khá, giỏi:
- Tìm đọc 1 số bài thơ của Tản Đà để hiểu thêm về cảm xúc lãng mạn trong
thơ ông.
- Viết được đoạn văn phân tích được hình tượng nhân vật trữ tình trong bài
thơ.

II. Thiết bị dạy học
Máy chiếu, tài liệu địa phương…
III. Tổ chức hoạt động dạy- học
1. Ổn định tổ chức lớp (1')
2. Kiểm tra bài cũ (4')

Đọc thuộc lòng bài thơ Đập đá ở Côn Lôn. Cho biết nghệ thuật và nội
dung khái quát của bài thơ.
Hs chia sẻ, nhận xét, đánh giá.

3. Tiến trình tổ chức các hoạt động

* Hoạt động 1: Xác định vấn đề/ nhiệm vụ học tập
- MT: HS có tâm thế tìm hiểu ND văn bản
- HS HĐCN (3p) TL/ 109 , B/c- chia sẻ
GV nhận xét – dẫn dắt vào bài
Cả hai nhà thơ vốn xuất thân từ một gia đình nho học nhưng lại sống giữa
thời buổi nho học tàn tạ, đều là nghệ sĩ có tài, có tình, có cá tính độc đáo,
nhân cách cao thượng. Tản Đà từng ôm mộng cải cách xã hội bằng con đường
hợp pháp thông qua phương tiện báo chí. Vì thế bên cạnh những hình thức
biểu hiện của “ cái tôi” ngông, thơ văn ông còn đề cập đến lòng thương dân,
chí lo đời, tinh thần bất bình với xã hội ô trọc… Trần Tuấn Khải mượn những
đề tài lịch sử hoặc những biểu tượng nghệ thuật bóng gió để bộc lộ tâm hồn
yêu nước. Để hiểu rõ tâm hồn thơ ấy ấy chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay.
Néi dung chÝnh
Ho¹t ®éng cña GV và HS
* Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
Mục tiêu: Chỉ ra và phân tích được những
hình ảnh, chi tiết thể hiện hồn thơ lãng mạn;
tâm sự buồn chán thực tại; ước muốn thoát li
rất “ngông” và tấm lòng yêu nước của Tản Đà.

Sự đổi mới về ngôn ngữ, giọng điệu, ý tứ, cảm
xúc trong bài thơ Muốn làm thằng Cuội.
H: Văn bản cần đọc với giọng điệu ntn?
(cách ngắt nhịp)
Hs chia sẻ.
GV hướng dẫn đọc: rõ ràng, diễn cảm nhẹ
nhàng, thể hiện giọng điệu mới mẻ của thể thơ
TNBCĐL, nhịp thơ thay đổi 4/3 hoặc 2/2/3.
- GV đọc mẫu, HS đọc - Nhận xét.
HS trình bày dự án về tác giả, tác phẩm
Nhận xét, đánh giá.
- GV nhấn mạnh về bút danh Tản Đà:
+ Núi Tản Viên (Ba Vì) ở trước mặt.
+ Hắc Giang (Sông Đà): bên cạnh nhà.
- Tính tình phóng khoáng, đa cảm hay vào
Nam ra Bắc.
- Gv chốt một số ý, hs ghi vào vở.

I. Đọc – thảo luận chú thích

1. Tác giả
- Tản Đà được xem là cái gạch nối, là
nhịp cầu, là khúc nhạc dạo đầu cho
phong trào thơ mới lãng mạn những
năm 30 của thế kỉ XX.
- Phong cách sáng tác: Thơ ông lãng
mạn, bay bổng thể hiện cái “ngông”,
cái tôi cá nhân độc đáo.
2. Tác phẩm
- Xuất xứ: trích trong quyển “Khối
tình con”- 1917
- Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường
luật.
Bố cục của thể thơ thất ngôn bát cú Đường - PTBĐ chính: Biểu cảm
luật?
Hs: 2 câu đề - 2 câu luận – 2 câu thực – 2 câu
kết.
Gv: đối với bài thơ này, chúng ta đi tìm hiểu
theo 2 phần.
- Phần 1 (2 câu thơ đầu): Tâm sự của nhà thơ.
- Phần 2 (6 câu còn lại): Ước muốn của nhà
thơ.
Gv lưu ý: Ở phần 2 có thể chia nhỏ thành 2
đoạn:
+ Câu 3->6: Ước muốn của tác giả.
+ Câu 7->8: Cảm xúc của nhà thơ khi nhìn
xuống trần gian.
GV thống nhất cách khai thác: 2-6
H: Đọc chú thích tài liệu, ngoài ra còn từ
ngữ nào trong bài thơ em không hiểu cần
giải thích?
II. Tìm hiểu văn bản
1. Tâm sự của nhà thơ:
HS HĐN (5p)- B/c – chia sẻ
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
- Thời điểm tác giả tâm sự? Tại sao lại chọn Trần thế em nay chán nửa rồi
thời điểm đó?
- Vì sao tác giả chán trần thế? (Nêu hiểu biết
của em về xã hội nước ta đầu thế kỉ XX).
- Nhận xét về giọng điệu, về cách xưng hô, về

từ ngữ (ơi!) ở hai câu thơ đầu? Tác dụng của chúng?
- Cảm nhận của em về tâm trạng của nhà thơ?
Hs báo cáo, chia sẻ.
Cách xưng hô "chị - em" như vậy : Vầng
trăng đã trở thành người bạn, người chị hiền tri
âm tri kỉ của tác giả.
- Tác giả chọn đêm thu chứ không phải là đêm
đông hay đêm hè, đêm xuân, vì: Đêm thu trăng
sáng nhất, thời tiết se se lạnh, gió thu nhè nhẹ
hiu hiu,thường gợi tâm trạng buồn, nhiều nhà
thơ đã lấy đề tài mùa thu để làm thơ (N.Du,
BHTQ, N.Khuyến, Tú.Xương). TĐ cũng đã
thấm hồn thu đất trời, lấy những dòng buồn
của văn chương, của các thi sĩ. Đấy là nỗi buồn
lãng mạn, bâng khuâng, như vô cớ mà có
duyên
Hiểu biết của em về xã hội Việt Nam trong
những năm 20 (Thế kỉ XX)
- GV: Xã hội thực dân nửa phong kiến Việt
Nam đầu thế kỷ XX là một xã hội đen tối ngột
ngạt, vì vậy những người có đầu óc, muốn
thoát li mà không thoát li nổi họ phải thoát li
vào mộng tưởng, vào cõi tiên, vào thơ. Trong
bài “Giải sầu” Tản Đà viết: Từ độ sầu đến nay,
ngày nào cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc
sầu, mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió
mát mà càng sầu, nằm vắt tay lên trán mà sầu,
đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu... sầu
không có mối chém sao cho đứt, sầu không có
khối đập sao cho tan.
“Đời đáng chán biết thôi là đủ
Sự chán đời xin nhủ lại tri âm.
Hay: Gió gió mưa mưa đã chán phèo
Sự đời nghĩ đến lại buồn teo”.
H: Nhưng tại sao tác giả không phải là chán
cả, mà lại là "chán nửa rồi"?
- Vì tấm lòng của ông xét từ sâu thẳm vẫn thiết
tha yêu c/s đời thường. Chán đời và yêu đời là
lời tâm sự >< nhưng lại thống nhất trong con
người TĐ
H: Em hiểu gì về tâm trạng của TĐ qua 2 câu
thơ đầu?
- GV: TĐ là con người có cá tính mạnh mẽ,
phóng khoáng, lại sống trong tâm trạng"tài
cao, phận thấp, chí khí uất", muốn sống thanh
cao nhưng lại phải sống tù túng tầm thường.

Đó chính là nỗi buồn sầu của tg'
Gv nhận xét, chốt:

- Giọng điệu tự nhiên, xưng hô thân
mật, sử dụng thán từ bộc lộ cảm xúc
trực tiếp như một lời than, một lời giãi
bày tâm sự.
- Đó là tâm trạng buồn chán trước
cảnh đời, đêm thu vốn đã buồn, lại
chán chường thực tại bế tắc, ngột ngạt
của xã hội, khiến nhà thơ chán cả cõi
- HS HĐCĐ (2p) ý 1 yêu cầu 2.c ( TL/110)- đời.
B/c – chia sẻ - GV nhận xét kết luận
H: Nhiều người đã nhận xét một cách xác
đáng rằng: Tản Đà là một hồn thơ "ngông".
Em hiểu "ngông" nghĩa là gì?
+ "Ngông": là làm những việc trái với lẽ
thường, khác mọi người xung quanh. Trong
VH, ngông là biểu hiện của ngòi bút có cá tính
mạnh mẽ, bất hoà sâu sắc với xã hội đương
thời, không chịu gò ép mình trong khuôn khổ
chật hẹp của lễ nghi, lề thói thông thường. Tản
Đà đã từng nhận mình là ngông, đã từng viết
bài thơ "Dạm bán áo đoạn" để mà "mua giấy
viết ngông";
“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đầy xuống hạ giới về tội ngông”.
- Chuyển -Cái ngông của Tản Đà được thể 2. Ước muốn của tác giả
hiện qua ước muốn gì?
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
H: Hãy phân tích NT đối? Nhận xét kiểu câu, Cành đa xin chị nhắc lên chơi
giọng điệu, cách sử dụng từ ngữ. Hai câu thơ
thể hiện khát vọng gì của tác
giả?
- Nghệ thuật đối, giọng thơ tự nhiên,
HSHĐCN, trình bày, chia sẻ. GVKL
thâm mật, câu hỏi tu từ, lời cầu xin
chân thành.
- GV: Hỏi không cần trả lời mà để ngỏ lời, để
khẳng định, vì dù sao chú Cuội chỉ là 1 đứa trẻ
không thể làm. Bạn tri âm, tri kỉ với chị Hằng.
Chị Hằng cô đơn, ông cũng cô đơn-> nên gặp
nhau là hoà hợp. Nhưng khoảng cách giữa
cung quế và trần gian là rất xa, làm sao ông có
thể lên được, nên ông đã tưởng tượng chị Hằng
sẽ vít cành đa xuống cho ông bám vào và chị
sẽ nhấc ông lên. Cái ngông của ông “muốn
được làm thàng Cuội” và chọn cách xưng hộ
Khát vọng xa lánh trần thế để đến
thân mật chị-em
với cung trăng - địa điểm thoát li lí
tưởng và tuyệt đối.
- Khác với các nho sĩ xưa, khi bất hoà với hiện
thực thì lui về ở ẩn để vui thú điền viên, hưởng

thú lâm tuyền. Cùng thời với TĐ, có người
chán ghét hiện thực tìm cách thoát li chạy trốn
vào t/y vào quá khứ, còn TĐ lại muốn thoát li
hiện thực = giấc mộng lên cung trăng
H: NX về giấc mộng lên cung trăng của tác
giả?
- Mộng tưởng muốn xoá đi khoảng cách giữa
cõi tiên và cõi tục, mộng - thực hoà làm 1 để nỉ
non, than thở về trần thế
H: Lên cung trăng, MĐ của ông là gì?
H: NX cách xưng hô, sử dụng từ ngữ và
giọng điệu của tác giả? (Phân tích nghệ thuật
được sử dụng trong hai câu thơ trên)
- thể hiện rõ tính ngông , chất đa tình của Tản
Đà. Từ cách xưng hô “chị”, “em” có vẻ thân
mật đúng đắn đã chuyển sang tình tri kỉ, mong
muốn được sống cùng người đẹp Hằng Nga và
thiên nhiên mây gió. Quả là một tâm hồn lãng
mạn.
Tác giả từng viết:
“Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm.
Hay: Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay”.
Cõi trần Tản Đà luôn thấy buồn, trống vắng, cô
đơn và khắc khoải đi tìm tâm hồn tri kỉ , giờ
đây lên cung quế được sánh vai bầu bạn với
người đẹp được thoả chí cùng mây gió thì còn
gì lí thú hơn.
H: Tại sao lên cung trăng, TĐ mới tìm được
người bầu bạn? Qua đó tâm trạng của tác giả
được bộc lộ như thế nào?
- Khát vọng của TĐ không phải trốn chạy và
xa lánh. Đi vào cõi mộng, thi sĩ mang theo đầy
đủ bản tính đa tình và "ngông" của mình, vẫn
muốn 1 c/s đích thực với những niềm vui mà
cõi trần ông không tìm thấy

Có bầu, có bạn, can chi tủi
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui
- Điệp từ, nghệ thuật đối, xưng hô
thân mật, vui vẻ.

H: Ước nguyện được thực hiện, tác giả đã - Ước nguyện đơn giản mà thanh cao,
chỉ cần có người bạn tri âm tri kỉ, thả
tưởng tượng ra h/ảnh gì?
hồn cùng thiên nhiên, giải thoát u uất
- HS HĐN (5p) yêu cầu 2.d ( TL/110)- B/c – trong cõi lòng.
chia sẻ - GV nhận xét kết luận
- Cái cười có thể hiểu theo hai ý nghĩa:
+ Thoả mãn vì đã đạt được khát vọng thoát li
mãnh liệt, xa lánh hẳn cõi trần bụi bặm.
+ Thể hiện sự mỉa mai khinh bỉ cõi trần giờ

đây chỉ bé tí khi mình đã bay bổng lên cung
trăng.
(- Cảnh: thi sĩ mãi mãi ở trên cung trăng cùng
chị Hằng, đêm rằm trung thu tháng 8 thi sĩ kề
vai chị Hằng trông xuống thế gian cười)
Đó là đỉnh cao của tâm hồn lãng mạn và
ngông của Tản Đà.
H: Nhận xét cách kết thúc bài thơ?
- Mạch cảm xúc lãng mạn và ngông được đẩy
lên đến cao độ = h/a tưởng tượng đầy bất ngờ
và ý vị của TĐ. Đêm trung thu trăng sáng đẹp,
người người đều ngẩng đầu lên chiêm ngưỡng
trăng thì nhà thơ lại ngồi trên cung trăng, tựa
vai chị Hằng Nga để cùng ngắm thế gian và …
cười
- Y/c HS tìm hiểu mạch cảm xúc của BT->
Tâm sự của nhà thơ qua BT
H: Qua tâm sự của TĐ,em hiểu gì về con
người ông?
- XH đương thời từ 1925 - 1935 rất nhiều kẻ
hám lợi đã đánh mất nhân cách chính mình.
Tác giả vì muốn giữ cho lòng mình trong sạch
nên đã thể hiện cái ngông. Qua đó tác giả
muốn kín đáo gửi vào đó t/y quê hương, đất
nước, con người. Đó là ý chí, là tâm trạng
chung của tầng lớp tri thức đương thời bất mãn
với hiện thực, bế tắc trong t2.
HS HĐN (3p) yêu cầu 2.e( TL/110)- B/c –
chia sẻ - GV nhận xét kết luận
- Thơ Đường nhưng không khô khan, tư tưởng
táo bạo, giọng điệu tự nhiên, thoải mái…

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

- Cách kết thúc độc đáo bất ngờ, (câu
thơ thấm đẫm chất "ngông" và chất
"phong tình"
- > thể hiện khát vọng thoát li mãnh
liệt và một chút mỉa mai, bao dung
với cõi trần thế.

- Khao khát sự đổi thay XH theo
H: Qua đó em hiểu gì về tâm trạng của thi sĩ? hướng tốt đẹp, thoả mãn nhu cầu sống
cá nhân.
*Hoạt động 3: Tổng kết
III. Tổng kết
MT: HS khái quát được nội dung và nghệ
thuật của văn bản.
H. Khái quát nội dung và nghệ thuật của văn
bản?
HĐCN (1p), trình bày, chia sẻ. GVKL
- NT: Sử dụng ngôn ngữ giản dị , tự
nhiên, giàu tính khẩu ngữ.
+ Kết hợp tự sự và trữ tình.
+ Giọng thơ hóm hỉnh, duyên dáng.
Đổi mới thể thơ Thất ngông bát cú
Đ/luật.
- ND: VB thể hiện nỗi chán ghét thực

HS HĐCĐ (2p) yêu cầu 2.a ( TL/151)- B/c –
chia sẻ - GV nhận xét kết luận
- Vẫn số câu, chữ ấy, ý tứ vẫn hàm súc, chất
chứa tâm trạng, nhưng không mực thước, trang
trọng, đăng đối như bài Qua Đèo Ngang ( Bà
huyện Thanh Quan), cũng không ngang tàng,
kì vĩ hào hùng như Đập đá ở Côn Lôn ( PCT),
hay Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác
( PBC). ở bài thơ Muốn Làm thằng Cuội Tản
Đà có nhiều tìm tòi mới mẻ: ngôn ngữ thơ giản
dị, trong sáng gần với lời ăn tiếng nói hàng
ngày, cảm xúc, tâm sự tuôn chảy tự nhiên vùa
mãnh liệt, phóng khoáng, bay bổng vừa sâu
lắng, thiết tha như không hề bị niêm, luật của
thể thơ này gò bó, ràng buộc; giọng thơ hóm
hỉnh, nhẹ nhàng.

tại tầm thường, khát khao vươn tới vẻ
đẹp toàn thiện toàn mĩ của thiên
nhiên.

4. Củng cố
H. Nét “ngông” trong thơ Tản Đà qua Muốn làm thằng Cuội là gì?
Nghệ thuật, nội dung khái quát bài thơ “Muốn làm thắng Cuội”?
5. HD học tập ở nhà
- Bài cũ: học thuộc bài thơ, phân tích bài thơ.
- Chuẩn bị: câu nghi vấn.
+ Đặc điểm hình thức, chức năng chính của câu nghi vấn?
+ Các chức năng của câu nghi vấn?
 
Gửi ý kiến