Một số nhân vật trong lịch sử Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Khánh
Ngày gửi: 10h:26' 16-05-2008
Dung lượng: 124.0 KB
Số lượt tải: 18
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Khánh
Ngày gửi: 10h:26' 16-05-2008
Dung lượng: 124.0 KB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích:
0 người
Người Mở Nước Phía Nam
Nguyễn Hữu Châu (1650-1700) là viên tướng trẻ thời chúa Nguyễn. Cha của ông là Nguyễn Hữu Dật từng góp công lớn cho chúa Nguyễn lúc gìn giữ đất Quảng Bình, đối đầu có hiệu quả với chúa Trịnh. Ông chào đời lúc cuộc chiến nói trên đang xảy ra, từng lập công nhưng chưa có gì xuất sắc cho lắm. Cuộc chiến chấm dứt ông hơn 20 tuổi. Thành tích lớn của ông là góp phần tích cực, lập công đầu trong việc mở nước về phía Nam. Được lãnh trách nhiệm trấn thủ Bình Khang (Nha Trang), ông góp phần ổn định vùng Phan Rang, Phan Thiết. Nhờ ông mà vùng Bình Thuận trở thành lãnh thổ Việt Nam, trong thời gian ngắn. Việc mở nước về phía Nam, vượt đèo Ngang đã xảy ra hồi đời nhà Lý thể kỷ thứ XI, đời Trần. Ta nhớ đến chuyện Huyền Trân Công chúa. Lê Thánh Tôn đã mở cuộc hành quân đến đèo Cả, núi Đá Bia hồi cuối thế kỷ XV, vùng này là Phú Yên. Chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra, đời chúa Hiền và trước đó, nhiều nông dân chán ghét chiến tranh đã kéo vào Nam Bộ, phong trào tự phát. Đáng chú ý năm 1679, những di thần `bài Mãn phục Minh" kéo đến, trình diễn với Hiền Vương và được chúa cho phép vào định cư ở vùng Biên Hoà, Mỹ Tho, tức là vùng phì nhiêu của sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Lần hồi, cảng Cù lao Phố (thành phố Biên Hoà) thành hình, đón thương gia nước ngoài. Vùng Sài Gòn cũng phát triển và trở thành căn cứ quân sự quan trọng của Nam Bộ. Dân cư đã làm ruộng có hiệu quả tận Long An, Mỹ Tho, rải rác. ở Quảng Nam vùng Hội An rất phồn thịnh, trở thành một hải cảng lớn. Nhờ chiến tranh chấm dứt, chúa Nguyễn Phúc Chu chấn chỉnh trung tâm Huế, chỉnh đốn chùa Thiên Mụ. Nguyễn Hữu Cảnh trấn đóng ở ải địa đầu Diên Khánh (Nha Trang, còn gọi vùng Bình Khang) trong bối cảnh nói trên. Năm 1698 - năm mà ta lấy mốc để kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh chúa Minh Vương vào kinh lược phía Nam. Cuộc hành quân diễn ra, vào mua xuân năm Mậu Dần, tính đến nay đã 5 lần Mậu Dần, mỗi lần 60 năm (đáo tuế), tròn 300 năm. Chức vụ kinh lược quan trọng, thay thế cho chúa để quyết định những vấn đề lớn. Theo đường biển, đạo quân của Nguyễn Hữu Cảnh gồm quân sĩ của xứ Quảng Nam và Bình Khang đi ngược dòng Đồng Nai đến Biên Hoà, trú đóng tại cù lao Phố, nơi đã có hải cảng sầm uất. Ông đi thanh tra vùng Sài Gòn rồi đặt ra hai đơn vị hành chính của Nam Bộ, lần đầu tiên: - Huyện Phước Long với ranh giới là vùng Biên Hoà bao la, kể luôn vùng Bà rịa - Vũng Tàu. - Huyện Tân Bình gồm vùng Sài Gòn ăn xuống Long An, kể luôn vùng Mỹ tho. Hai huyện này đặt dưới quyền của phủ Gia Định, lần đầu tiên hai chữ Gia Định xuất hiện. Phủ Gia Định có viên cai hạ, lo việc thu thuế, cấp lương bổng, lại có viên ký lục lo về tư pháp. Một chính sách phóng khoáng được đặt ra. Dân phải đăng ký ruộng đất để đóng thuế. Phần đất chịu thuế thì được hợp thức hoá. Phần đất không đăng ký thì không có chủ quyền. Nghĩa là tuỳ ý người nông dân, đóng thuế phần đất tốt, phần đất xấu thì lậu thuế, chờ xem... Dân đinh phải đóng thuế thân, hễ đóng thuế thì được khẩn đất. Ai không đóng thuế thì tuỳ ý, không được nhận là dân, tha hồ sống bềnh bồng! Người dân rất vui mừng vì được chủ quyền đất, được xem như người đứng đắn, không còn mang tiếng xấu là "trốn xâu lậu thuế`, rồi được cử là hương chức hội tề, là cai tổng, có thể diện. Chúa Nguyễn thu thuế, người dân mất chút ít quyền lợi nhỏ nhưng được quyền lợi lớn hơn: được bảo vệ khi có ngoại xâm, quân đội chúa Nguyễn khá hùng mạnh sẽ đủ sức ổn định bờ cõi. Do đó, dân từ Quảng Bình trở vào Bình Định phấn khởi vào Nam. Xong công việc, Nguyễn Hữu Cảnh trở về Bình Khang (Nha Trang). Năm sau, được tin phía biên giới sắp biến động. Lập tức, ông mở cuộc hành quân lớn với quân sĩ của Quảng Nam, Bình Khang và của Biên Hoà. Quân sĩ theo đường thuỷ, ngược sông Tiền (Cửu Long), lấy thêm quân ở cù lao Giêng, đến Tân Châu rồi tiếng lên Nam Vang (Nông Pênh). Sử chép rõ: Nguyễn Hữu Cảnh đứng trước mũi chiến thuyền, mặc áo giáp, tay cầm gươm, súng đại bác nổ vang. Đối phương đầu hàng ngay, không một ai bị giết. Rồi ông kéo quân về, đến vùng Ông Chưởng thì bệnh nặng nên dừng lại làm lễ ăn thắng trận. Bệnh không thuyên giảm, phải về, đến Rạch Gàm (Mỹ Tho) là mất, đưa về quàn tại cù lao Phố, nơi quàn ấy ngày nay hãy còn ngôi mộ thờ vọng. Rồi đưa về an táng tại Quảng Bình. Thoại Ngọc Hầu, đời Minh Mạng đã nhớ ơn Nguyễn Hữu Cảnh, cho lập đền thờ ở tại chợ Châu Đốc. Cơ ngơi này trang nghiêm, hàng năm tế lễ với quy mô lớn không kém ngôi đền nào khác ở vùng đồng bằng. Phóng khoáng, bồi dưỡng sức dân, phát triển với văn minh biển, văn minh sông nước, không giẫm chân tại chỗ, lạc quan. Theo ý tôi, đó là bài học lớn của Nguyễn Hữu Cảnh để lại. Chỉ có lòng yêu nước tích cực. Thụ động, không lo phát triển là tụt hậu. Có tích cực mới thấy lạc quan, trong cuộc sống.
Lê Hòan-Dương Vân Nga va cái án thông dâm.
Lật trang sử, chúng ta nhận thấy việc kết tội vua Lê Ðại Hành có thể nói là từ thời sử thần Ngô Sĩ Liên. Trước đó dưới thời Trần,Sử gia Lê văn Hưu (nhà viết sử đầu tiên của Ðại Việt và là triều đại gần nhất để có thể xác định việc đúng sai tương đối khả tín nhất)không hề có một lời kết luận nhỏ về tội của Lê Ðại Hành và Dương Vân Nga. Thậm chí đến đời Hậu Lê Ngô Sĩ Liên viết Sử đã lên tiếng trách móc Lê Văn Hưu là không biết lễ nghĩa của Thánh hiền. Có chắc là Lê văn Hưu không biết lễ nghĩa Thánh hiền không, chưa chắc. Từ thời nhà Lý Ðại Việt đã bắt đầu mở khoa thi Tam Giáo thì vấn đề Lễ nghĩa thánh hiền chắc chắn Lê văn Hưu phải thuộc nằm lòng . Khi Ðinh Bộ Lĩnh còn là Vạn Thắng vương thì Lê Hoàn đã có ở dưới trướng, có lẽ tuổi của Lê Hoàn cũng tương đương tuổi tác của Ðinh Liễn (con Ðinh Bộ Lĩnh). Lịch sử đã mô tả Lê Hoàn là một tướng lĩnh rất thương yêu binh sĩ và luôn luôn đồng cam công khổ cùng binh sĩ của mình. Từ khía cạnh nhỏ này chúng hãy thử tưởng tượng. Một ngày đẹp trời nào đó, một anh lính họ Dương trong đơn vị của Lê Hoàn, buồn tình kêu vi chủ tướng của mình đến thăm nhà để kết thêm tình thân thiện và trong lần đó Lê Hoàn đã gặp Dương Vân Nga. Trai tài gái sắc sóng mắt đưa tình . "Thế la tình trong thì đã mặt ngoài còn e". Mặt khác Ðinh Bộ Lĩnh là chuá tể Hoa Lư dĩ nhiên sắc đẹp của Dương vân Nga và tiếng đồn về sắc đẹp của nàng khó lòng qua được Ðinh Bộ Lĩnh. Dĩ nhiên Ðinh Bộ Lĩnh không biết mối tình của Lê Hoàn và Dương Vân Nga và chuyện gì sẽ đến phải đến. Dương Vân Nga về với Ðinh Bộ Lĩnh không còn con đường khác để chọn. Chúng ta nhận thấy ÐBL rất tin tưởng ở Lê Hoàn, bằng chứng là Hoa Lư có 10 Ðạo quân thì trao cả cho Lê Hoàn, nếu Lê Hoàn có lòng phản nghịch thì thật không thể tưởng tượng nỗi. Ở đây chúng ta thử đặt giả thuyết: Sau khi lấy Dương Vân Nga, Ðinh Bộ Lĩnh mới được biết Dương Vân Nga chính là người yêu của Lê Hoàn, từ điểm này ÐBL chắc phải có những thử thách để chứng minh lòng trung thành của Lê Hoàn và Lê Hoàn chắc đã không phụ lòng ÐBL cuối cùng thì vị chúa tể Hoa Lư đã không ngần ngừ trao cả Thập Ðạo binh của minh cho Lê Hoàn . Ngày ÐBL và Ðinh Liễn bị Ðỗ Thích giết, Lê Hoàn còn đang ở ngoài biên ải cùng với binh sĩ của mình không ở kinh đô Hoa Lư. (Tất cả các bộ sử dù chống đối hay lên án Lê Hoàn đều nói là sau khi về kinh Lê Hoàn mới tư thông với Dương Vân Nga). Cái mối nghi giết vua không phải là Ðỗ Thích thì cái nghi ngờ này cũng không đỗ lên đầu Lê Hoàn được. Vậy thì cái mối nghi này nếu có chỉ ở ba vị tướng còn lại Nguyễn Bặc, đinh Ðiền, Phạm Hạp thôi. Vấn đề này chúng ta hãy phân tích sau. Tại sao Lê Hoàn không ở kinh đô Hoa Lư mà lại luôn luôn ở ngoài biên ải? Có lẽ ÐBL dù tin Lê Hoàn cũng không muốn Lê Hoàn ở gần ái hậu của mình thành ra Lê Hoàn phải ra biên ải và cũng có lẽ chính Lê Hoàn không muốn gặp Dương Vân Nga, thà đi xa còn hơn. Cuộc chính biến tại Hoa Lư xẩy ra theo lịch sử sau khi ÐBL và Ðinh Liễn nằm xuống thì 3 ông tướng kia vì phò ấu chúa Ðinh Tuệ mà chống đối với Lê Hoàn. Ở đây chúng ta cần phải xác định lại vấn đề phò Ấu chúa có thật có thể xẩy ra vào thời bình minh của Ðai Việt không? Khó có thể xẩy ra lắm, vì cái gương Dương Tam Kha bỏ Ngô Xương Ngập còn rành rành ra đó chỉ mới vài chục năm thôi (nước ta lúc đó chủ nghĩa tôn quân chắc còn rất phôi thai). Từ điểm này chúng ta có thể đưa ra giả thuyết là kẽ làm rối loạn tình hình lúc đó chính là Nguyễn Bặc, Ðinh Ðiền và Phạm Hạp chớ không phải Lê Hoàn. Vì phải bảo vệ con mình và chính bản thân mình Dương Vân Nga chắc chắn phải mời Lê Hoàn về kinh đô đê lo mọi sự. Ở đây chúng ta có thể manh nha thấy được mối quan hệ của Dương Vân Nga và Lê Hoàn thật sự không đơn giản ở vai trò Hoàng Hậu và Thập Ðạo tướng quân, mà là một mối quan hệ sâu lắng. Khi thấy nguy ngập thì người đầu tiên Dương Vân Nga nghĩ đến là Lê Hoàn và khi Lê Hoàn về đến kinh đô tình cảm đè nén của hai người bao nhiêu lâu được dịp bùng nỗ mảnh liệt và cuối cùng Lê Hoàn đã dẹp được 3 loạn tướng này. Sở dĩ VDV gọi là loạn tướng vì có nguyên nhân của nó. Xin được trình bày sau đây. Ðịnh Quốc công Nguyễn Bặc chính là thủy tổ của giòng họ Nguyễn Gia Long sau này. Giòng họ Nguyxễn bao đời vẫn làm quan lớn trong các triều đình Ðại Việt, VDV chỉ nhớ được Nguyễn Nộn tổ thứ 9 thì phải trong việc tranh ngôi giữa là Lý và Trần thì có 2 tướng quân chống Trần phù Lý đó là Nguyễn Nộn và Ðoàn Thượng. Một điểm rất đáng nghi ngờ là vai trò của quân Tống. Chúng ta đều biết rằng, mỗi lần Tàu đánh Việt đều luôn luôn có người cáo cấp với tàu tình hình trong nước. Tàu tìm người để dựng lên triều đình bù nhìn rồi cử binh. - Kiều Công Tiển cầu cứu quân Nam Hán. - Mông Cổ đưa Trần Di Ái về nước - Trần Thiêm Bình cầu cứu nhà Minh. - Lê Chiêu Thống cầu cứu Mãn Thanh Chỉ có hai cuộc chiến chúng ta không thấy hành động này. Ðó là cuộc chiến của Lê Ðại Hành và Nhà Lý. Nhà Lý chúng ta có thể thấy được rõ ràng là nhà Lý đánh trước nên Tàu mang quân qua trả thù. Và câu hỏi lớn, ai là người đã mang tình hình nước ta cáo cấp với quân Tống trong thời Tiền Lê. Có lẽ không lầm lẫn mà kết luận rằng, chính là họ đấy 3 ông tướng được cái ông viết Sử Ngô Sĩ Liên khen là những trung thần của nhà Ðinh đấy. Ở đây vai trò của tướng quân Phạm Cự Lạng lại nỗi bật để xác định sự phản thùng củ
Nguyễn Hữu Châu (1650-1700) là viên tướng trẻ thời chúa Nguyễn. Cha của ông là Nguyễn Hữu Dật từng góp công lớn cho chúa Nguyễn lúc gìn giữ đất Quảng Bình, đối đầu có hiệu quả với chúa Trịnh. Ông chào đời lúc cuộc chiến nói trên đang xảy ra, từng lập công nhưng chưa có gì xuất sắc cho lắm. Cuộc chiến chấm dứt ông hơn 20 tuổi. Thành tích lớn của ông là góp phần tích cực, lập công đầu trong việc mở nước về phía Nam. Được lãnh trách nhiệm trấn thủ Bình Khang (Nha Trang), ông góp phần ổn định vùng Phan Rang, Phan Thiết. Nhờ ông mà vùng Bình Thuận trở thành lãnh thổ Việt Nam, trong thời gian ngắn. Việc mở nước về phía Nam, vượt đèo Ngang đã xảy ra hồi đời nhà Lý thể kỷ thứ XI, đời Trần. Ta nhớ đến chuyện Huyền Trân Công chúa. Lê Thánh Tôn đã mở cuộc hành quân đến đèo Cả, núi Đá Bia hồi cuối thế kỷ XV, vùng này là Phú Yên. Chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra, đời chúa Hiền và trước đó, nhiều nông dân chán ghét chiến tranh đã kéo vào Nam Bộ, phong trào tự phát. Đáng chú ý năm 1679, những di thần `bài Mãn phục Minh" kéo đến, trình diễn với Hiền Vương và được chúa cho phép vào định cư ở vùng Biên Hoà, Mỹ Tho, tức là vùng phì nhiêu của sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Lần hồi, cảng Cù lao Phố (thành phố Biên Hoà) thành hình, đón thương gia nước ngoài. Vùng Sài Gòn cũng phát triển và trở thành căn cứ quân sự quan trọng của Nam Bộ. Dân cư đã làm ruộng có hiệu quả tận Long An, Mỹ Tho, rải rác. ở Quảng Nam vùng Hội An rất phồn thịnh, trở thành một hải cảng lớn. Nhờ chiến tranh chấm dứt, chúa Nguyễn Phúc Chu chấn chỉnh trung tâm Huế, chỉnh đốn chùa Thiên Mụ. Nguyễn Hữu Cảnh trấn đóng ở ải địa đầu Diên Khánh (Nha Trang, còn gọi vùng Bình Khang) trong bối cảnh nói trên. Năm 1698 - năm mà ta lấy mốc để kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh chúa Minh Vương vào kinh lược phía Nam. Cuộc hành quân diễn ra, vào mua xuân năm Mậu Dần, tính đến nay đã 5 lần Mậu Dần, mỗi lần 60 năm (đáo tuế), tròn 300 năm. Chức vụ kinh lược quan trọng, thay thế cho chúa để quyết định những vấn đề lớn. Theo đường biển, đạo quân của Nguyễn Hữu Cảnh gồm quân sĩ của xứ Quảng Nam và Bình Khang đi ngược dòng Đồng Nai đến Biên Hoà, trú đóng tại cù lao Phố, nơi đã có hải cảng sầm uất. Ông đi thanh tra vùng Sài Gòn rồi đặt ra hai đơn vị hành chính của Nam Bộ, lần đầu tiên: - Huyện Phước Long với ranh giới là vùng Biên Hoà bao la, kể luôn vùng Bà rịa - Vũng Tàu. - Huyện Tân Bình gồm vùng Sài Gòn ăn xuống Long An, kể luôn vùng Mỹ tho. Hai huyện này đặt dưới quyền của phủ Gia Định, lần đầu tiên hai chữ Gia Định xuất hiện. Phủ Gia Định có viên cai hạ, lo việc thu thuế, cấp lương bổng, lại có viên ký lục lo về tư pháp. Một chính sách phóng khoáng được đặt ra. Dân phải đăng ký ruộng đất để đóng thuế. Phần đất chịu thuế thì được hợp thức hoá. Phần đất không đăng ký thì không có chủ quyền. Nghĩa là tuỳ ý người nông dân, đóng thuế phần đất tốt, phần đất xấu thì lậu thuế, chờ xem... Dân đinh phải đóng thuế thân, hễ đóng thuế thì được khẩn đất. Ai không đóng thuế thì tuỳ ý, không được nhận là dân, tha hồ sống bềnh bồng! Người dân rất vui mừng vì được chủ quyền đất, được xem như người đứng đắn, không còn mang tiếng xấu là "trốn xâu lậu thuế`, rồi được cử là hương chức hội tề, là cai tổng, có thể diện. Chúa Nguyễn thu thuế, người dân mất chút ít quyền lợi nhỏ nhưng được quyền lợi lớn hơn: được bảo vệ khi có ngoại xâm, quân đội chúa Nguyễn khá hùng mạnh sẽ đủ sức ổn định bờ cõi. Do đó, dân từ Quảng Bình trở vào Bình Định phấn khởi vào Nam. Xong công việc, Nguyễn Hữu Cảnh trở về Bình Khang (Nha Trang). Năm sau, được tin phía biên giới sắp biến động. Lập tức, ông mở cuộc hành quân lớn với quân sĩ của Quảng Nam, Bình Khang và của Biên Hoà. Quân sĩ theo đường thuỷ, ngược sông Tiền (Cửu Long), lấy thêm quân ở cù lao Giêng, đến Tân Châu rồi tiếng lên Nam Vang (Nông Pênh). Sử chép rõ: Nguyễn Hữu Cảnh đứng trước mũi chiến thuyền, mặc áo giáp, tay cầm gươm, súng đại bác nổ vang. Đối phương đầu hàng ngay, không một ai bị giết. Rồi ông kéo quân về, đến vùng Ông Chưởng thì bệnh nặng nên dừng lại làm lễ ăn thắng trận. Bệnh không thuyên giảm, phải về, đến Rạch Gàm (Mỹ Tho) là mất, đưa về quàn tại cù lao Phố, nơi quàn ấy ngày nay hãy còn ngôi mộ thờ vọng. Rồi đưa về an táng tại Quảng Bình. Thoại Ngọc Hầu, đời Minh Mạng đã nhớ ơn Nguyễn Hữu Cảnh, cho lập đền thờ ở tại chợ Châu Đốc. Cơ ngơi này trang nghiêm, hàng năm tế lễ với quy mô lớn không kém ngôi đền nào khác ở vùng đồng bằng. Phóng khoáng, bồi dưỡng sức dân, phát triển với văn minh biển, văn minh sông nước, không giẫm chân tại chỗ, lạc quan. Theo ý tôi, đó là bài học lớn của Nguyễn Hữu Cảnh để lại. Chỉ có lòng yêu nước tích cực. Thụ động, không lo phát triển là tụt hậu. Có tích cực mới thấy lạc quan, trong cuộc sống.
Lê Hòan-Dương Vân Nga va cái án thông dâm.
Lật trang sử, chúng ta nhận thấy việc kết tội vua Lê Ðại Hành có thể nói là từ thời sử thần Ngô Sĩ Liên. Trước đó dưới thời Trần,Sử gia Lê văn Hưu (nhà viết sử đầu tiên của Ðại Việt và là triều đại gần nhất để có thể xác định việc đúng sai tương đối khả tín nhất)không hề có một lời kết luận nhỏ về tội của Lê Ðại Hành và Dương Vân Nga. Thậm chí đến đời Hậu Lê Ngô Sĩ Liên viết Sử đã lên tiếng trách móc Lê Văn Hưu là không biết lễ nghĩa của Thánh hiền. Có chắc là Lê văn Hưu không biết lễ nghĩa Thánh hiền không, chưa chắc. Từ thời nhà Lý Ðại Việt đã bắt đầu mở khoa thi Tam Giáo thì vấn đề Lễ nghĩa thánh hiền chắc chắn Lê văn Hưu phải thuộc nằm lòng . Khi Ðinh Bộ Lĩnh còn là Vạn Thắng vương thì Lê Hoàn đã có ở dưới trướng, có lẽ tuổi của Lê Hoàn cũng tương đương tuổi tác của Ðinh Liễn (con Ðinh Bộ Lĩnh). Lịch sử đã mô tả Lê Hoàn là một tướng lĩnh rất thương yêu binh sĩ và luôn luôn đồng cam công khổ cùng binh sĩ của mình. Từ khía cạnh nhỏ này chúng hãy thử tưởng tượng. Một ngày đẹp trời nào đó, một anh lính họ Dương trong đơn vị của Lê Hoàn, buồn tình kêu vi chủ tướng của mình đến thăm nhà để kết thêm tình thân thiện và trong lần đó Lê Hoàn đã gặp Dương Vân Nga. Trai tài gái sắc sóng mắt đưa tình . "Thế la tình trong thì đã mặt ngoài còn e". Mặt khác Ðinh Bộ Lĩnh là chuá tể Hoa Lư dĩ nhiên sắc đẹp của Dương vân Nga và tiếng đồn về sắc đẹp của nàng khó lòng qua được Ðinh Bộ Lĩnh. Dĩ nhiên Ðinh Bộ Lĩnh không biết mối tình của Lê Hoàn và Dương Vân Nga và chuyện gì sẽ đến phải đến. Dương Vân Nga về với Ðinh Bộ Lĩnh không còn con đường khác để chọn. Chúng ta nhận thấy ÐBL rất tin tưởng ở Lê Hoàn, bằng chứng là Hoa Lư có 10 Ðạo quân thì trao cả cho Lê Hoàn, nếu Lê Hoàn có lòng phản nghịch thì thật không thể tưởng tượng nỗi. Ở đây chúng ta thử đặt giả thuyết: Sau khi lấy Dương Vân Nga, Ðinh Bộ Lĩnh mới được biết Dương Vân Nga chính là người yêu của Lê Hoàn, từ điểm này ÐBL chắc phải có những thử thách để chứng minh lòng trung thành của Lê Hoàn và Lê Hoàn chắc đã không phụ lòng ÐBL cuối cùng thì vị chúa tể Hoa Lư đã không ngần ngừ trao cả Thập Ðạo binh của minh cho Lê Hoàn . Ngày ÐBL và Ðinh Liễn bị Ðỗ Thích giết, Lê Hoàn còn đang ở ngoài biên ải cùng với binh sĩ của mình không ở kinh đô Hoa Lư. (Tất cả các bộ sử dù chống đối hay lên án Lê Hoàn đều nói là sau khi về kinh Lê Hoàn mới tư thông với Dương Vân Nga). Cái mối nghi giết vua không phải là Ðỗ Thích thì cái nghi ngờ này cũng không đỗ lên đầu Lê Hoàn được. Vậy thì cái mối nghi này nếu có chỉ ở ba vị tướng còn lại Nguyễn Bặc, đinh Ðiền, Phạm Hạp thôi. Vấn đề này chúng ta hãy phân tích sau. Tại sao Lê Hoàn không ở kinh đô Hoa Lư mà lại luôn luôn ở ngoài biên ải? Có lẽ ÐBL dù tin Lê Hoàn cũng không muốn Lê Hoàn ở gần ái hậu của mình thành ra Lê Hoàn phải ra biên ải và cũng có lẽ chính Lê Hoàn không muốn gặp Dương Vân Nga, thà đi xa còn hơn. Cuộc chính biến tại Hoa Lư xẩy ra theo lịch sử sau khi ÐBL và Ðinh Liễn nằm xuống thì 3 ông tướng kia vì phò ấu chúa Ðinh Tuệ mà chống đối với Lê Hoàn. Ở đây chúng ta cần phải xác định lại vấn đề phò Ấu chúa có thật có thể xẩy ra vào thời bình minh của Ðai Việt không? Khó có thể xẩy ra lắm, vì cái gương Dương Tam Kha bỏ Ngô Xương Ngập còn rành rành ra đó chỉ mới vài chục năm thôi (nước ta lúc đó chủ nghĩa tôn quân chắc còn rất phôi thai). Từ điểm này chúng ta có thể đưa ra giả thuyết là kẽ làm rối loạn tình hình lúc đó chính là Nguyễn Bặc, Ðinh Ðiền và Phạm Hạp chớ không phải Lê Hoàn. Vì phải bảo vệ con mình và chính bản thân mình Dương Vân Nga chắc chắn phải mời Lê Hoàn về kinh đô đê lo mọi sự. Ở đây chúng ta có thể manh nha thấy được mối quan hệ của Dương Vân Nga và Lê Hoàn thật sự không đơn giản ở vai trò Hoàng Hậu và Thập Ðạo tướng quân, mà là một mối quan hệ sâu lắng. Khi thấy nguy ngập thì người đầu tiên Dương Vân Nga nghĩ đến là Lê Hoàn và khi Lê Hoàn về đến kinh đô tình cảm đè nén của hai người bao nhiêu lâu được dịp bùng nỗ mảnh liệt và cuối cùng Lê Hoàn đã dẹp được 3 loạn tướng này. Sở dĩ VDV gọi là loạn tướng vì có nguyên nhân của nó. Xin được trình bày sau đây. Ðịnh Quốc công Nguyễn Bặc chính là thủy tổ của giòng họ Nguyễn Gia Long sau này. Giòng họ Nguyxễn bao đời vẫn làm quan lớn trong các triều đình Ðại Việt, VDV chỉ nhớ được Nguyễn Nộn tổ thứ 9 thì phải trong việc tranh ngôi giữa là Lý và Trần thì có 2 tướng quân chống Trần phù Lý đó là Nguyễn Nộn và Ðoàn Thượng. Một điểm rất đáng nghi ngờ là vai trò của quân Tống. Chúng ta đều biết rằng, mỗi lần Tàu đánh Việt đều luôn luôn có người cáo cấp với tàu tình hình trong nước. Tàu tìm người để dựng lên triều đình bù nhìn rồi cử binh. - Kiều Công Tiển cầu cứu quân Nam Hán. - Mông Cổ đưa Trần Di Ái về nước - Trần Thiêm Bình cầu cứu nhà Minh. - Lê Chiêu Thống cầu cứu Mãn Thanh Chỉ có hai cuộc chiến chúng ta không thấy hành động này. Ðó là cuộc chiến của Lê Ðại Hành và Nhà Lý. Nhà Lý chúng ta có thể thấy được rõ ràng là nhà Lý đánh trước nên Tàu mang quân qua trả thù. Và câu hỏi lớn, ai là người đã mang tình hình nước ta cáo cấp với quân Tống trong thời Tiền Lê. Có lẽ không lầm lẫn mà kết luận rằng, chính là họ đấy 3 ông tướng được cái ông viết Sử Ngô Sĩ Liên khen là những trung thần của nhà Ðinh đấy. Ở đây vai trò của tướng quân Phạm Cự Lạng lại nỗi bật để xác định sự phản thùng củ
 








Các ý kiến mới nhất