Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Bài 5. Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tiến Cảnh (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:05' 26-04-2023
Dung lượng: 144.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích: 0 người
Ngày dạy: Thứ 2 ngày 16/5/2022
Tiết 138,139: Trải nghiệm sáng tạo
Tên bài: Tìm hiểu tập thơ Nhật kí trong tù- Hồ Chí Minh
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về tập thơ “Nhật kí trong tù”- HCM
- Hiểu một số đặc sắc nội dung, nghệ thuật của những bài thơ nổi bật trong tập thơ
“Nhật kí trong tù”- HCM
2. Năng lực:
a. Các năng lực chung:
- Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tư duy; năng lực giao tiếp;
năng lực hợp tác; năng lực sử dụng ngôn ngữ.
b. Các năng lực chuyên biệt:
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Năng lực nghe, nói, đọc, viết, phân tích, tổng hợp vấn đề, tạo lập văn bản
3. Phẩm chất:
- Yêu quê hương đất nước, yêu Tiếng Việt.
- Tự lập, tự tin, tự chủ.
-: Có ý thức yêu mến phù hợp đối với nền văn học nước ngoài
II. CHUẨN BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Kế hoạch bài học
- Học liệu: sgk, sgv…
2. Chuẩn bị của học sinh: Tìm học tập thơ, các bài viết đánh giá về tập thơ” Nhật kí
trong tù”- HCM.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
A. Khởi động:
I.

GV trình chiếu một số tư liệu về lịch sử VN giai đoạn 1930- 1945:

Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1940-1945:

Đầu năm 1940 với các bí danh “Hồ Quang”, “Đồng chí Trần”, “Đồng chí
Vương” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về đến Côn Minh (Trung Quốc) để bắt liên lạc
với Trung ương Đảng ta và chuẩn bị điều kiện để về nước hoạt động.
Tháng 6/1940 phát xít Đức tấn công nước Pháp. Chính phủ tư sản Pháp đầu
hàng, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương hoang mang. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận
định đó là thời cơ bắt đầu có lợi cho cách mạng Việt Nam. Lúc bấy giờ Người đang
công tác ở Quế Lâm nhưng vẫn tính đến việc xây dựng khu căn cứ ở Cao Bằng.
Người đã chỉ thị cho một số cán bộ của Đảng đang hoạt động ở Trung Quốc phải gấp
rút về nước chuẩn bị lực lượng, đón thời cơ, giành chính quyền.
Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, Pháp dâng Đông
Dương cho Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam đến cảnh “Một cổ hai tròng”, nhân dân
Việt Nam quyết vùng lên chống bọn phát xít. Tháng 11 năm 1940, Trung ương Đảng
họp hội nghị lần thứ VII, xác định kẻ thù trước mắt là phát xít Nhật - Pháp và đề ra
nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất chống Pháp, Nhật.
Ngày 28-1-1941, sau hơn 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ
Chí Minh về đến Tổ quốc. Ngày mồng 8/2 năm đó, một số cán bộ tỉnh Cao Bằng thay
mặt nhân dân cả nước hân hoan đón Người về Pắc Pó. Những ngày ở Pắc Pó cuộc
sống của Người gặp vô vàn gian khổ, khó khăn. Năm đó Người đã 50 tuổi, để bảo vệ
sức khoẻ cho Người, cán bộ và nhân dân Hà Quảng đã làm cho Người một cái lán
nhỏ bên suối Khuổi Nậm, cuộc sống ung dung, đạm bạc của Người được phản ánh
trong bài thơ “Tức cảnh Pắc Pó” của mình.
Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với
các lực lượng cách mạng của Việt Nam ở đó. Lần này Người bị chính quyền Tưởng
Giới Thạch bắt giam, giải tới, giải lui nhiều nhà tù trong vòng hơn một năm. Người
đã sống những ngày đầy khó khăn, đói khát trong nhà tù của Tưởng, Trong hoàn cảnh
đó, với lạc quan của người cách mạng, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” thể
hiện phần nào tinh thần, phẩm chất và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tháng 9/1943, sau khi ra khỏi tù, Người tiếp xúc với tổ chức chống Nhật, chống
Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, đồng thời chắp liên lạc với Đảng ta để về
nước tiếp tục lãnh đạo phong trào cho nhau.
II. Giới thiệu văn học cách mạng 1940 - 1945
2.1. Những nét chung về văn học cách mạng
Dòng văn học cách mạng là dòng văn học phát triển theo ý thức hệ của giai cấp
vô sản. Nó biến chuyển song song với những biến chuyển trong thời kì đấu tranh
cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo. Lịch sử của nó theo sát lịch sử đấu tranh cách
mạng, vì lẽ đơn giản nó là một bộ phận của cách mạng. Nó là của các chiến sĩ đứng ở
mũi nhọn của cuộc đấu tranh.

Văn học cách mạng là bộ phận văn hóa tác động nhiều và mạnh nhất đến các
tầng lớp nhân dân cách mạng. Ở khắp nơi và ở các mặt hoạt động của cách mạng, văn
học cách mạng làm được nhiệm vụ cao cả và chân chính là:
“Dùng cán bút làm đòn xoay chế dộ
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền”
(Sóng Hồng)
Con đường phát triển của văn học cách mạng là con đường của cách mạng,
nhgiax là, nói chung, mỗi ngày một mở rộng theo hướng tiến về phía trước. Lịch sử
15 năm giai đoạn 1930 -1945 được chia làm ba thời kì nhỏ, rõ rệt:
- Thời kì đầu: 1930 – 1935
- Thời kì giữa: 1936 – 1939
- Thời kì cuối: 1940 - 1945
2.2. Đặc điểm văn học cách mạng giai đoạn 1940 – 1945
2.2.1. Đặc điểm lịch sử xã hội
Đây là thời kì cuối cùng của lịch sử 80 năm thuộc Pháp. Cuộc chiến tranh thế
giới lần thứ hai mở màn. Trong tình hình nghiêm trọng và trên bước đường băng
hoại, đế quốc Pháp đã thi hành các biện pháp dã man và thâm độc về mọi mặt: chính
trị, văn hóa, kinh tế.
Cuối năm 1939, sau khi giải tán các tổ chức nghiệp đoàn, ái hữu, chúng chĩa
mũi nhọn vào Đảng cộng sản Đông Dương. Hàng ngàn chiến sĩ bị sa lưới. Riêng sau
khởi nghĩa Nam Kì, thực dân Pháp đã bắt và giết hơn 6000 người.
Lại thêm bọn phát xít Nhật khát máu cũng quay cuồng lồng lộn trên sân khấu
Đông Dương. Toàn dân tộc ta quằn quại trong đau thương.
Đế quốc Pháp, Nhật cho thi hành những chính sách hà khắc hòng làm chết dần
chết mòn tinh thần cùng thể xác các chiến sĩ. Nhưng lòng tin sắt đá ở tương lai tươi
sáng của dân tộc, ở sự thằng lợi của người lao động, phần nào đẩy lùi được bóng tối.
2.2.2. Đặc điểm văn học
Tình hình lịch sử xã hội có ảnh hưởng nhiều đến văn học giai đoạn này. Nhìn
chung có nhiều ảnh hưởng tiêu cực.
Những khuynh hướng tiến bộ đang trên đà phát triển thời kì Mặt trận dân chủ
bị khủng bố, đàn áp. Văn học phong kiến tạm ngừng một thời gian, nay lại phục hồi.
Văn học cách mạng phải rút vào bí mật, cùng với Đảng, tiếp tục sứ mệnh cứu quốc
thiêng liêng.
Văn học giai đoạn này hình thành 2 bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng
vừa đấu tranh với nhau vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển

- Bộ phận văn học công khai
- Bộ phận văn học không công khai
Bộ phận văn học công khai là thơ văn cách mạng chiến khu. Thơ văn thời Mặt trận
Việt Minh là văn học chính thống của căn cứ địa cách mạng. Loại văn thơ này phần
lớn được đăng trên báo chí của Đảng, của Mặt trận Việt Minh và của đoàn thể cứu
quốc. Ngoài ra còn một số bài thơ lưu hành truền miêng trong nhân dân, phổ biến
nhất là laoij ca dao cứu quốc, ca dao chống Nhật, Pháp.
Bộ phận văn học không công khai là thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ
của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng trong tù (gọi chung là thơ văn nhà tù).
Sau Xô viết Nghệ - Tĩnh, hàng trăm nghìn chiến sĩ phải vào tù. Ở thời kì cuối
1940 – 1945, các nhà tù đế quốc chật ních những chiến sĩ bị bắt giam. Khác với
người thường, khi bị bắt thường co lại như những chú rùa trong tấm mai dày, người
cộng sản vào tù lấy đó làm nơi rèn chí khí, hơn nữa biết biến nhà tù thành những “tao
đàn ngục thất', sáng tác để tự động viên và động viên nhau giữ khí tiết. Họ còn tìm
cách góp tiếng nói văn học với phong trào bên ngoài đã vắng bóng người cộng sản,
góp phần tham gia lãnh đạo quần chúng. Có thì giờ, người chiến sĩ sử dụng vũ khí
văn học. Nội dung và hình thức, thể loại trở nên phong phú, bao gồm thơ ca, văn
xuôi, ca kịch.
Những nhà tù như Lao Bảo, Kontum, Ban Mê Thuột, Côn Lôn, Hỏa Lò, Khám
Lớn đã trở thành trường học để các chiến sĩ nghiên cứu lí luận, học tập văn hóa, rèn
luyện cán bộ. Những dịp Tết hoặc kỉ niệm cách mạng, việc sáng tác lại càng rầm rộ.
Nguồn cảm hứng, đề tài thúc đẩy là ý thức giữ vững tinh thần cách mạng, là giác ngộ
quần chúng nhà tù, chống sự đầu hàng, chống lại tư tưởng cải lương, tư tưởng quốc
gia hẹp hòi.
Thơ nhà tù thời kì 1940 – 1945 phần lớn làm theo thể Thơ mới vì lúc này Thơ
mới đã thắng thế hoàn toàn so với thơ cũ. Nó tỏ ra có khẳ năng diễn đạt hơn và tự do
hơn. Nhiều tác giả trước kia hay dùng thơ cũ như Hồng Chương cũng chuyển sang
Thơ mới. Về nội dung cũng có điểm cần chú ý. Nếu thơ trong tù thời kì trước nặng về
ý chí, về kêu gọi chung chung thì thơ tù thời kì này đi sâu vào nội tâm con người.
Thơ hay nói đến cái tôi. Cố nhiên cái tôi không tách khỏi cái ta chung của đồng chí
và của cả dân tộc. Cái tôi của chủ thể trữ tình là của riêng tác giả, nhưng cũng là của
chung của dân tộc. Nội tâm ấy dễ bắt gặp tâm tư của người khác. Xiềng xích của Tố
Hữu là như thế. Tập thơ của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi, sôi nổi căm hờn, lòng
dặn lòng không bao giờ nản chí, không bao giờ chịu khuất phục quân thù. Tâm tư ấy
cũng là của dân tộc Việt Nam bất khuất trước sự dã man của giặc Pháp thống trị.
Nói đến thơ nhà tù thời kì này, không thể quên tập “Ngục trung nhật kí” của
Hồ Chí Minh, sáng tác trong các nhà tù, bên kia biên giới, thuộc tỉnh Quảng Tây
(Trung Quốc). Tập thơ của vị lãnh tụ mà “Uy vũ bất năng khuất: mà “Thân thể tại

ngục trung, Tinh thần tại ngục ngoại”, là tiếng nói lạc quan, yêu đời, “một viên ngọc
quý đánh rơi vào kho tàng văn học Việt Nam”
B. Hoạt động hình thành kiến thức:
TÌM HIỂU TẬP THƠ “NHẬT KÍ TRONG TÙ”
NHÓM 1 :Tìm hiểu hoàn cảnh và lý do sáng tác Nhật ký trong tù
1. Hoàn cảnh
- Tháng 2/1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước,
lúc này tình hình trong nước và thế giới đã có những biến động dữ dội, hết sức khẩn
trương, Nhật đã đi vào Đông Dương, phát xít Đức và Nhật đang làm mưa làm gió,
trên thế giới, Liên Xô và các nước đồng minh đang có nhiều khó khăn
- Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 thành lập mặt trân
Việt Minh ( Việt minh cần sự thừa nhận và viện trợ của các nước đồng mình, trước
hết là của Trung Quốc)
- Vì vậy ngày 13/8/1942, lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc bắt đầu lấy tên mới là
Hồ Chí Minh, từ địa điểm cơ quan bí mật đóng ở vùng Pắc Bó tỉnh Cao Bằng đã lên
đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tề và liên hệ với các lực lượng
chống Nhật của người Việt Nam ở Trung Quốc.Sau nửa tháng đi bộ, tới ngày 29/8,
khi vừa tới Túc Vinh (Quảng Tây, Trung Quốc) thì HCM chính quyền Tưởng Giới
Thạch bắt giữ. Người đã bị giam cầm, bị đầy đoạ vô cùng khổ cực, thường bị giải tới,
giải lui gần 30 nhà tù khắp tỉnh Quảng Tây hơn một năm trời.
- Trong chuỗi ngày tù đầy gian khổ đó, HCM đã viết tập thơ « Nhật kí trong tù »
bằng chữ Hán bao gồm 133 bài, đa số theo thể thơ tứ tuyệt.
2. Lý do :
Trang mở đầu của tập thơ, Người đã nói rõ lý do sáng tác tập thơ :
Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
- Suốt thời gian bị cầm tù, Bác bị cách biệt với thế giới bên ngoài, không thể làm
chính trị được trong khi công việc cách mạng đang khẩn trương bề bộn. Bác đành
phải làm thơ để tiêu thì giờ và vơi nỗi buồn, nỗi đau khổ của người tù cách mạng
đang mong đợi tự do cháy ruột.
- Tuy nhiên cần phải hiểu Bác là người rất yêu thơ và văn chương nghệ thuật nói
chung. Bác là người có tâm hồn nghệ sĩ và năng khiếu thơ ca bẩm sinh. Nếu không

yêu thích thơ thì vì sao để giải trí « cho khuây » trong những ngày tù đày, Bác lại làm
thơ ?
- Nhưng vì Bác phải dành toàn bộ cuộc đời, toàn bộ tâm trí, thời gian cho cách mạng
nên Người không thể «ham » ngâm thơ và làm thơ. Người chỉ làm thơ cho mình khi
điều kiện thời gian cho phép, thường là rất ít. Song lúc này ở trong tù, thời gian quá
dư thừa mà người lại không làm được cách mạng nên đành phải làm thơ để « đợi
ngày tự do », trở về với phong trào cách mạng mà thôi.
- Song nhờ có năng khiếu làm thơ và tâm hồn thơ, Bác đã sáng tác rất nhiều và có
nhiều bài hay, có ý nghĩa sâu sắc.
Nhóm 2 : Tìm hiểu thể loại :
“ Nhật ký trong tù” là một tập nhật ký bằng thơ gồm 133 bài. Nhật ký thể hiện
tính chân thật. Những ghi chép hàng ngày gắn với mọi ăn ở, sinh hoạt, đi lại. Đồng
thời nó lại được viết bằng thể loại thơ chữ Hán (phần đa các bài thơ được viết bằng
chữ Hán và chủ yếu viết bằng thể thơ tứ tuyệt). Bởi thế tác phẩm trở thành một tập
nhật ký trữ tình độc đáo. Bởi đằng sau đó chúng ta thấy bức chân dung tinh thần tự
họa của Hồ Chí Minh.
Nhóm III. Tìm hiểu giá trị của tập “Nhật ký trong tù”:
1. Giá trị nội dung tư tưởng:
1.1 Nhật ký trong tù phản ánh hiện thực đen tối về nhà tù và xã hội Trung Quốc
thời Tưởng Giới Thạch:
a, NKTT lên án chế độ nhà tù cực kỳ vô nhân đạo:
Ở đó, người tù bị bóc lột tàn nhẫn, vào tù phải nộp đủ mọi khoản tiền: tiền vào
nhà giam, tiền đèn…
b, Nhật ký trong tù lên án một chế độ xã hội đầy rẫy sự bất công:
Đó là xã hội mà quyền sống của con người không được đảm bảo, người lương
thiện vô tội bị bắt giam bừa bãi
1.2. “Nhật ký trong tù” chân dung tự họa Hồ Chí Minh:
“Ai mở cuốn sách này sẽ gặp một con người”. Câu nói ấy hoàn toàn đúng với
tập Nhật ký trong tù. Những lời đẹp đẽ ấy dường như nghĩ ra và viết riêng cho cuốn
Nhật ký trong tù .
1.2.1. Một con người bình thường:
Đọc nhật ký trong tù ta bắt gặp một người tù như bao nhiêu người tù bình
thường khác.
Người cũng phải chịu cảnh ăn đói, bị trói, bị cùm, bị xiềng xích
Phải chịu cảnh mặc rét và bệnh tật hành hạ đến ốm nặng

1.2.2 Nhật ký trong tù khắc họa chân dung một con người vĩ đại:
a. Một con người giàu lòng yêu thương (một bậc đại nhân):
* Một tấm lòng yêu nước nồng nhiệt sắt son
Trong hoàn cảnh sống trong lao tù tăm tối nơi đát khách quê người, tình cảm
yêu nước, thương dân của Người thường có những biểu hiện sâu sắc khác thường.
- Có khi là nỗi xót xa nhớ nước, thương đồng bào trong cảnh lầm than
- Ngay cả khi ốm nặng Người vẫn canh cánh nỗi lo lắng cho nước cho dân
- Lòng yêu nước thương dân tha thiết đã biến thành nỗi nhớ cách mạng, khao
khát được trở về hoạt động, đấu tranh
- Lòng yêu nước có khi được thể hiện thành nỗi nhớ bạn, nhớ đồng chí da diết
bâng khuâng
* Niềm khao khát tự do cháy bỏng: ở tù nỗi đau khổ lớn nhất của người là mất
tự do là không được trực tiếp đấu tranh giải phóng dân tộc. Người yêu tự do như một
lẽ sống cao cả nhất.
Nỗi khao khát cháy bỏng ở Người lúc này là được tự do
Nhưng mặt khác, nhà tù và xiềng xích chỉ có thể giam hãm thân thể người cách
mạng mà không thể giam cầm được tinh thần, trí tuệ, tình cảm của họ. Vì vậy, Hồ Chí Minh là người
tự do về mặt tinh thần:

“ Thân thể tại ngục trung

Thân thể ở trong lao

Tinh thần tại ngục ngoại;”

Tinh thần ở ngoài lao.
(Bài thơ đề từ)

Lời đề từ đã gói trọn cả tâm tình sâu kín của cả tập thơ nhìn rộng ra nó trở
thành một phương châm sống quán xuyến toàn bộ cuộc đời Nguyễn ái Quốc.
Chính niềm khao khát tự do cháy bỏng đã làm nên nguồn cảm hứng cho tập thơ.Vượt
lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt của nhà tù, Người có tự do nội tại mạnh mẽ:
“ Tĩnh, vũ, phù vân phi khứ liễu,

Mây mưa, mây tạnh bay đi hết

Ngục trung lưu trú tự do nhân.”

Còn lại trong tù khách tự do

(Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây)
Đúng như Hoàng Trung Thôngđã khẳng định:
“ Ngục tối trái tim càng cháy lửa
Xiềng xích không khóa nổi lời ca”
*. Tình thương yêu với con người và vạn vật:

Tình yêu thương con người là một nét đẹp nổi bật tỏa sáng trong tâm hồn
Người là tình thương yêu bao la với con người (với phụ nữ và trẻ em, với người lao
động, với ngươì bạn tù) và vạn vật.
b. Một con người trí tuệ sáng suốt và sắc sảo (đại trí)
- Cái đại trí của Người là những nhận thức đúng đắn về cuộc sống nhân sinh, về
thời cuộc, về đường lối chiến lược, chiến thuật của cách mạng. Trong hoàn cảnh lao
tù, con người mất tự do, Người luôn hướng về tự do, nghĩ về tự do. Người đáng giá
cao tự do:" Tự do tiên khách trên trời"( Quá trưa); con người mất tự do thì xót xa cay
đắng:" Cay đắng chi bắng mất tự do"(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi), hay:" Đau khổ
chi bằng mất tự do"(Bị hạn chế); luôn mong mỏi tự do:" Nhòm qua cửa sổ ngắm trời
tự do"( Đêm không ngủ ); khẳng định mình sẽ được tự do:" Ngày tự do âu cũng
chẳng chầy"( Đến dinh trưởng quan)...Về cuộc đời có gian nan vất vả, những sẽ có
ngày vui: "Hết khổ là vui vốn lẽ đời "; về quy luật biến đổi của thiên nhiên:" Hết mưa
là nắng ửng lên thôi"( Trời hửng)…
-.Là cái nhìn về thời thế, khi cuộc kháng Nhật bấy giờ là nhiệm vụ chung của các dân
tộc châu Á:" Kháng Nhật cờ bay khắp Á châu/ Cờ to cờ nhỏ chẳng đều nhau/ Cờ to ắt
hẳn là nên có  Cờ nhỏ dù sao, thiếu được đâu."( Ngày 11 tháng 11). Về cuộc đấu
tranh của nhân dân ta đã đến thời điểm phải nhất loạt vùng lên:" Thà chết chẳng cam
nô lệ mãi/ Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền"( Việt Nam có bạo động).
- Đó là cái nhìn về chiến lược, chiến thuật cách mạng, nhà văn hoá lớn Quách Mạt
Nhược( Trung Quốc ) đã có nhận xét về Bác:" Có một vị lãnh tụ rất tài giỏi khéo kết
hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng tuỳ từng
lúc, từng nơi, khéo tập trung ý chí của nhân dân làm thành sức mạnh vật chất không
gì chống lại được, điều đó có quan hệ tới sự thành bại và sự thành công sớm hay
muộn của sự nghiệp cách mạng. Hồ Chủ tịch tựa hồ đã nhận rõ điều đó thể hiện qua
bài “Học đánh cờ”: Vốn trước hai bên ngang thế lực/ Mà sau thắng lợi một bên dành/
Tấn công phòng thủ không sơ hở/ Đại tướng anh hùng mới xứng danh. Đấy chẳng
phải là lấy việc học đánh cờ để ví với mối quan hệ giữa sự nghiệp cách mạng và nhân
vật lãnh tụ đó sạo."
- Cái đại trí còn thể hiện cái nhìn sâu sắc về đời sống nhân sinh, những hoài cảm và
những suy tưởng của Bác về sự vật, sự việc trong nhiều bài thơ, câu thơ khác. Cái đại
trí làm nên đặc điểm nhân cách cao cả con người Hồ Chí Minh.
c. Một con người dũng khí lớn (đại dũng)
Nhật ký trong tù là tiếng thơ của một người tù bị giam cầm trong nhà tù tàn bạo,
khắc nghiệt. Đói rét, đau ốm, xiềng xích, gông cùm … ở nơi đất khách quê người một
mình một bóng, hoàn cảnh sống ấy dễ làm cho nghị lực sống của con người bị hủy
diệt. Nhưng ở Hồ Chí Minh có ý chí và nghị lực phi thường: Đó chính là tinh thần
thép của người chiến sĩ cách mạng. Chất thép trong thơ là tinh thần kiên cường bất

khuất, bản lĩnh cách mạng vững vàng tự chủ trong mọi tình huống và luôn lạc quan
yêu đời. Biểu hiện cụ thể của chất “ thép” trong thơ Bác:
- Chất thép thể hiện ở phong thái ung dung, tự chủ, tinh thần kiên cường bất khuất.
Người cười cợt với đau khổ
- Chất thép được thể hiện ở sự tự chủ cao độ trong mọi hoàn cảnh, ở sự vượt lên
những thiếu thốn, gian khổ về mặt vật chất mà giữ được sự tự do về mặt tinh thần để
rung cảm với những cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống. Mặc dù trong tù phải chịu
cảnh cùm trói, muỗi, rệp, đói rét, Người vẫn thưởng thức vẻ đẹp của ánh trăng chiếu
qua cưả ngục, Người vẫn làm thơ và khao khát:
“ Tâm tùy thu nguyệt cộng du du”

Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
(Trung thu)

- Chất thép còn thể hiện ở tinh thần lạc quan: Người luôn hướng về niền vui, ánh sáng
ngày mai.Tinh thần lạc quan ấy dựa trên sự hiểu biết sâu sắc quy luật vận động của
đời sống, của vũ trụ, của xu thế tất yếu của lịch sử. Trong cảnh đêm tối hiện tại
Người vẫn nhìn thấy rõ tương lai.
Tóm lại: Chất thép thể hiện trong nhiều bài thơ của tập Nhật ký trong tù. Thép
là phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ. Nó tạo cho Người phong thái ung dung, làm
chủ hoàn cảnh với tâm hồn lạc quan và tư thế chiến thắng.
d. Một cốt cách nghệ sĩ lớn
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong thơ ca. Đúng như
Đặng Thai Mai đã nhận xét: “ ở Nhật ký trong tù, thiên nhiên chiếm một vị trí danh
dự”.
 Thiên nhiên đẹp và giàu sức sống
-> Thiên nhiên giàu tình người

 Thiên nhiên gắn với thử thách gian khổ của nhà tù
Nhật ký trong tù là một tập thơ dồi vào cảm hứng với thiên nhiên mặc dù ở
mỗi bài chỉ là một hai nét vẽ đơn sơ mộc mạc nhưng đã khắc họa được cái “hồn”, cái
“thần” của cảnh vật những bức tranh ấy không chỉ là sản phẩm của một tâm hồn nghệ
sĩ cao đẹp, trong sáng mà còn bộc lộ tầm nhìn của một quan niệm nhân sinh, triết lí
tiến bộ .
Thơ của Bác bao giờ cũng là nhịp tâm hồn tình cảm của người. Đúng như lời
của nhà thơ Tố Hữu viết:
“ Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa”.

Tóm lại: Đọc Nhật ký trong tù chúng ta được gặp tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí,
đại nhân, đại dũng, một cốt cách nghệ sĩ lớn Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy trái tim của
Người toả ánh sáng ra chói ngời trong hoàn cảnh tối tăm. Tiếng thơ từ tâm hồn Người
theo thời gian vẫn cất lên, bất chấp sự cùng khổ về vật chất cũng như tinh thần, coi
thường cả sự hiểm nguy, dũng mãnh vượt lên gian lao thử thách, ngạo nghễ để chiến
thắng, thể hiện phong thái ung dung, niềm tin tưởng lạc quan son sắt, tình cảm giao
hoà với thiên nhiên; đặc biệt là tình cảm thắm thiết đối với con người. Một thứ tình
cảm yêu thương vô hạn với tất cả con người mà ta thường thấy ở Người trong lúc bị
giam cầm và cả lúc thường, khi Người trở thành lãnh tụ, người đứng đầu quốc gia.
Đọc tập thơ, chúng ta không hề gợn một chút bi quan, sầu não, u buồn nào ; chỉ thấy
sự sống tràn trề, niềm tin mãnh liệt, lòng tha thiết với tự do, hy vọng vào ngày mai
chiến thắng, tốt tươi. Chính hồn thơ ấy, đã toả ra ánh sáng chói ngời xua đi bóng tối
làm trong sáng con người, thiên nhiên, làm sống dậy cuộc đời chung và tương lai tươi
đẹp. Đọc Nhật ký trong tù, chúng ta càng yêu tiếng thơ của Người. Tiếng thơ của con
người vĩ đại trong hoàn cảnh tù đày đã thể hiện viên mãn nhân cách cao cả, lòng nhân
ái bao la, bản lĩnh phi thường. Chúng ta càng tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh anh
hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
2. Giá trị nghệ thuật của nhật ký trong tù:
2.1.Những bài thơ của tập nhật ký trong tù đẹp một vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng,
giản dị:
Thơ Bác rất giản dị, hồn nhiên, sự giản dị của thơ Bác thể hiện ở đề tài, ý thơ,
lời thơ. Bất cứ đề tài gì với Bác cũng có thể thành thơ. Từ chuyện sinh hoạt lặt vặt
trong tù đến cảnh và việc gặp trên đường, chuyện ốm đau, ghẻ lở, bệnh tật, việc cách
mạng đều viết thành thơ.
Sự mộc mạc dung dị ấy còn được thể hiện ở ngôn ngữ giản dị như lời ăn tiếng
nói đời thường được đưa vào thơ rất đỗi tự nhiên.
2.2. Thơ Bác hàm súc và có ý nghĩa sâu xa:
Thơ Bác hàm súc và có ý nghĩa sâu xa. Bác chọn thể thơ tứ tuyệt cổ điển vì thể
thơ này có sức dồn nén, lời ít, ý nhiều.
2.3. Nhật ký trong tù kết hợp hài hòa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại:
Một trong những giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của tập nhật ký trong tù là
sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và sự mới mẻ hiện đại. Màu sắc cổ điển thể
hiện ở thể thơ (thơ tứ tuyệt), ở chất liệu cổ thi. Giàu tình cảm với thiên nhiên, bút
pháp chấm phá như muốn ghi lấy linh hồn của tạo vật. Hình tượng nhân vật trữ tình
ung dung, nhàn nhã, tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên vũ trụ. Đằng sau những hình
ảnh, từ ngữ, bút pháp giàu màu sắc cổ điển ấy là tình cảm, tư tưởng của một nhà cách
mạng, một chiến sĩ cộng sản trong thời đại mới. Đó chính là bút pháp hiện đại.
C. Hoạt động luyện tập:

Đề 1: Đọc tập thơ NKTT, nhà thơ Hoàng Trung Thông viết:
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình
Em hãy chứng minh qua những bài thơ đã học trong tập NKTT.
1. Thơ chính là đông lực để giúp Bác vuwọt lên mọi khó khăn gian khổ trong cảnh tù
đày, giữ vững ý chí sắt son của nguwòi cộng sản:
Ngày ngày ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do
- Chất thép trong thơ: phẩm chất kiên cường, nhà tù chỉ giam đuwọc thể xác chứ
không giam giữ được tinh thần – tinh thần của một nguwòi chiến sĩ cộng sản:
Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao
- Với tinh thần ấy, ta hoàn toàn thấy nguwòi tù ấy đã tự cởi bỏ xiềng xích,
chọn cho mình một chỗ đứng thênh thang, ung dung:
Núi cao lên đến tận cùng
Thu vào tấm mắt muôn trùng nước non
Hoặc:
Hôm nay xiềng xích thay dây trói
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung
Tuy bị tình nghi là gián điệp
Mà như khanh tướng vẻ ung dung
- Bác coi cảnh tù đày, gông cùm, đánh đập hành hạ là dịp để rèn luyện ý chí cũng như
hạt gạo pahỉ chịu bao đau đớn mới đuwọc trắng tựa bông:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời nguwòi cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
2. NKTT còn biểu hiện cái “bát ngát tình” của một hồn thơ, một tấm lòng nhân ái:
- Tình yêu thiên nhiên: Trong cảnh tù đày thiếu thốn, t/y thiên nhiên của Bác càng
đáng quý, đáng trân trọng.

+ Truwóc hết phải nói đến tình cảm của Bác với ánh trăng:
Trong tù không rượu cũng không hoa
...
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ
-> Tâm hồn Bác đã vuwọt ra khỏi song sắt nhà tù để tìm về với thiên nhiên. Thân thể
ở sau song sắt mà tâm hồn lại vút lên bầu trời bao la, hòa với không gian lấp lánh ánh
trăng. Và từ t/y đó, trăng đã trờ thành nguwòi bạn tri kỉ, gắn bó vơi nàh thơ.
+ và cảnh gian nan trên đường đi cũng không thể giết chết t/y thiên nhiên của Bác.
Bác vẫn hoà đồng cùng cảnh vật với một trái tim nhạy cảm và chan chứa tình:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rưc hồng
Và đây nưa, suốt ngày “Mặc dầu bị trói chân tay”, thơ Bác vẫn rộn tiếng chim và ngát
hương cây cỏ:
Chim ca rộn núi hương bay ngát trời
- Tình yêu thiên nhiên của Bacxs gắn với tình yêu đời tha thiết:
+ Thân tù, ngày này qua ngày khác bị giải đi khắp 13 huyện, thậm chí trong cảnh đi
thuyền mà “lủng lẳng chân treo tựa giáo hình” vạy mà NGười vẫn cảm nhận được c/s
bình yên, tươi đẹp hai bên đường “làng xóm ven sông đông đúc thế”, “Trẻ dắt trâu
về tiếng sáo bay”
+ Không chỉ yêu thiên nhiên, yêu đời, tim Bác còn chan chứa niềm thương yêu, đồng
cảm với những nguwòi cùng cảnh khổ:
Oa! Oa! Oa!...
Cha trốn không đi lính nuwóc nhà
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi
Phải hteo mẹ đến ở nhà pha.
+ Trong tù ngục, nỗi nhớ nhà, nhớ quê luôn trào dâng, tha thiết:
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

+ Trái tim mênh mông của Bác ôm “mọi kiếp người” (TH), không quê ngay cả những
vật nhỏ bé tầm thuwòng đã gắn bó với mình:
Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường
Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương
Giận kẻ bất lương gây cách biệt
Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.
-> T/y thương của Bac thật vô bờ, ý chí, nghị lực của Nguwòi thật vô song.
Đề 2. Người tù CM ấy đã dũng cảm chịu đựng hoàn cảnh “sống khác loài người”
vô vàn cực khổ trong nhà tù tàn bạo, mà còn vượt hẳn lên trên hoàn cảnh ấy với
một thái độ ung dung, tự chủ luôn làm chủ hoàn cảnh với tinh thần lạc quan chiến
thắng. Qua NKTT, em hãy chứng minh nhận xét trên.
Gợi ý:
- Những gian khổ mà Bác phải trải qua trong nhà tù TGT:
+ Những đêm dài cô đơn lạnh lẽo trong cảnh bị đọa đày:
Đêm thu không đệm cũng không chăn
Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an
(Đêm thu)
Rệp bò lổm ngổm như xe cóc
Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay
(Đêm thu)
+ Cảnh sống cực nhục:
Bốn tháng cơm không no
Bốn tháng đêm thiếu ngủ
Bốn tháng áo không thay
Bốn tháng không giặt giũ
(Bốn tháng rồi)
Lót lòng nửa bữa lưng cơm đỏ
Không muối, không canh cũng chẳng cà
(Cơm tù)
Năm mươi ba cây số một ngày
áo mũ dầm mưa, rách hết giày
Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ...

(Mới đến nhà lao Thiên Bảo)
+ Tất cả những sự đày đọa ấy khiến Bác đã gày gò lại càng tiều tụy:
Răng rụng mất một chiếc
Tóc bạc thâm mấy phần
Gầy đen như quỷ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân
(Bốn tháng rồi)
Dường như trong mỗi lời thơ đều là một hình ảnh sống động miêu tả c/s gian khổ,
“sống khác loài nguwòi” đó của Bác.
- Và cũng chính bằng lời thơ của mình, Bác đã thể hiện ý chí, nghị lực, tinh thần
của một nguwòi chiến sĩ CM. Bác đã vượt qua những khó khăn ấy với thái độ ung
dung, lạc quan, tự chủ:
+ Đến với thiên nhiên, chan hòa giữa thiên nhiên, bao quát cảnh đẹp thiên nhiên:
Ngắm trăng
Đi đường
+ Lạc quan, đùa vui:
Hôm nay xiềng xích thay dây trói
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung
Tuy bị tình nghi là gián điệp
Mà như khanh tướng vẻ ung dung
(Đi Nam Ninh)
Ăn cơm nhà nước, ở nhà công
Lính tráng thay phiên đến hộ tòng
Non nước dạo chơi tùy sở thích
Làm trai như thế cũng hào hùng!
(Pha trò)
- Bác khẳng định những gian lao chính là môi trường thử thách, rèn luyện quyết tâm:
Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao

(Đề từ)
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần
-> Tinh thần ấy đa tạo nên con người HCM, thời đại HCM mang lại thắng lơị chói lọi
cho toàn dân tộc VN.
Đề 3: Trong bài “ Đề từ” trên trang bìa tập “ NHật ký trong tù” Hồ Chí Minh viết:
“ Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao”
Em hãy phân tích bài thơ “Ngắm trăng” trích trong “Nhật kí trong tù” để làm sáng tỏ
ý chính của hai câu thơ trên.
Gợi ý:
* Yêu cầu chung:
+Kiểu bài: Phân tích tác phẩm kết hợp với chứng minh
+Nội dung: Phân tích bài thơ “Ngắm trăng” để thấy được mặc dù bị giam cầm về thể
xác nhưng song sắt nhà tù không thể giam hãm được tinh thần của người tù- người
chiến sỹ cách mạng Hồ Chí Minh.
*Yêu cầu cụ thể:
A-Mở bài
-Giới thiệu khái quát về Hồ Chí Minh và tập thơ “Nhật kí trong tù”
-Một trong những vẻ đẹp về nội dung của tập nhật kí đồng thời cũng là vẻ đẹp của
con người Hồ Chí Minh là sự vượt ngục về tinh thần, điều đó thể hiện rõ ngay từ lời
đề từ mở đầu tập nhật kí (Trích dẫn 2 câu thơ trong bài đề từ) và được thể hiện cụ thể,
sinh động trong bài thơ “Ngắm trăng”.
B-Thân bài
1-Giải thích nội dung ý nghĩa hai câu thơ trong bài đề từ tập nhật kí trong tù
Là lời khẳng đinh mặc dù bị giam hãm trong tù ngục nhưng song sắt nhà tù chỉ giam
cầm được thể xác chứ không giam hãm được tinh thần của người tù- người chiến sỹ
cách mạng Hồ Chí Minh
2- Chứng minh nội dung ý thơ qua bài thơ “Ngắm trăng”
Bài thơ “Ngắm trăng” là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nhất cho lời
khẳng định “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”

*Hai câu đầu:
+Hoàn cảnh ngắm trăng của người tù hết sức đặc biệt: mất tự do về thân thể (trong
tù), thiếu “rượu”, “hoa” những thứ không thể thiếu khi thưởng nguyệt của các thi
nhân xưa. Điệp ngữ “không” khẳng định sự thiếu thốn trong cảnh ngục tù đày.
+Tuy nhiên, trước đêm trăng đẹp tâm hồn thi sĩ đã bối rối, xúc động, xốn xang. Học
sinh cần phân tích câu thơ phiên âm để thấy được tâm trạng cảm xúc của Bác: Câu
hỏi tu từ “Đối thử lương tiêu nại nhược hà” biểu hiện tâm trạng của Bác trước cảnh
đẹp đêm trăng.
*Hai câu cuối
+Vượt lên trên cảnh ngộ, những thiếu thốn của chốn lao tù, Bác mở rộng hồn mình
để cảm nhận vẻ đẹp của đêm trăng. Biện pháp đối ngữ (nhân- minh nguyệt, nguyệtthi gia) , nghệ thuật nhân hóa, cách sử dụng từ “khán” thay cho “vọng” ở nhan đề thể
hiện mối quan hệ bạn bè tri âm, tri kỉ giữa trăng với người tù.
+Sự giao hòa giữa Bác với vầng trăng biểu thị tình yêu thiên nhiên, tinh thần...
 
Gửi ý kiến