Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Luật bóng bàn

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Mạnh Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:20' 26-05-2008
Dung lượng: 95.1 KB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích: 0 người
ủy ban thể dục thể thao








Luật
Bóng bàn












Nhà xuất bản thể dục thể thao
Hà Nội – 2002
ủy ban cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam
thể dục thể thao Độc lập – tự do – Hạnh phúc
=*= *********
Số 363/QĐ-UBTDTT-TTII Hà Nội, ngày 19 tháng Cơ đốc năm 2002

Quyết định
Của bộ trưởng – chủ nhiệm ủy ban TDTT Về việc ban hành Luật Bóng bàn
Bộ trưởng – chủ nhiệm ủy ban thể dục thể thao
- Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Căn cứ Nghị định số 03/1998/NĐ-CP ngày 6/1/1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Thể dục Thể thao;
- Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn Bóng bàn ở nước ta;
- Căn cức đề nghị của ông Chủ tịch Liên đoàn Bóng bàn Việt Nam;
- Căn cứ vào đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao II.
Quyết định
Điều 1: Ban hành Luật Bóng bàn gồm: 2 chương (dịch nguyên bản Luật Bóng bàn thế giới năm 2001-2002)
Điều 2: Luật Bóng bàn được áp dụng trong các cuộc thi đấu từ cơ sở đến toàn quốc và thi đấu Quốc tế tại nước ta.
Điều 3: Các cuộc thi đấu trong toàn quốc có thể đề ra Điều lệ thích hợp với thực tế nhưng không được trái với các Điều ghi trong Luật này.
Điều 4: Luật này thay thế cho các Luật Bóng bàn đã in trước đây và có hiệu lực từ ngày ký.
Điều 5: Các ông chủ tịch Liên đoàn Bóng bàn Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Thể Thao Thành tích cao II, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - Đào tạo, Chánh Văn phòng, Vụ trưởng, Vụ Kế hoạch – Tài chính và Giám đốc các Sở Thể dục Thể thao, Sở Văn hóa – Thông tin – Thế thao, cơ quan Thể dục Thể thao các ngành và thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
bộ trưởng – chủ nhiệm
ủy ban thể dục thể thao
Nguyễn Danh Thái (đã ký)
2 luật bóng bàn
2.1 bàn
2.1.1 Phần mặt trên của bàn gọi là mặt đánh bóng (mặt bàn) hình chữ nhật dài 2m74, rộng 1m525, nằm trong một mặt phẳng nằm ngang cao 76cm tính từ mặt đất.
2.1.2 Mặt bàn không bao gồm các cạnh bên của mặt bàn
2.1.3 Mặt bàn có thể làm bằng bất cứ chất liệu nào và phải có một độ nảy đồng đều khoảng 23cm khi để quả bóng tiêu chuẩn rơi từ độ cao 30cm xuống mặt bàn đó.
2.1.4 Mặt bàn phải có mầu sẫm đồng đều và mờ, xung quanh mặt bàn có một đường vạch kẻ trắng rộng 2cm, mỗi vạch theo chiều dài 2m74 của bàn gọi là đường biên dọc, mỗi vạch theo chiều rộng 1m52 của bàn gọi là đường biên ngang (đường cuối bàn).
2.1.5 Mặt bàn được chia thành 2 phần bằng nhau bởi một cái lưới thẳng đứng song song với đường cuối bàn và căng suốt trên toàn bộ diện chia đôi hai bên phần bàn.
2.1.6 Để đánh đôi, mỗi phần mặt bàn lại chia thành 2 phần nhỏ bằng nhau bởi một đường vạch giữa màu trắng rộng 3mm song song với các đường biên dọc. Đường vạch giữa được coi như thuộc về phần bên phải của mỗi nửa bàn.
2.2 bộ phận lưới
2.2.1 Bộ phận lưới gồm có chính cái lưới, dây căng và các cọc lưới, bao gồm cả các cái kẹp để cặp cọc lưới vào bàn.
2.2.2 Lưới được căng bằng một sợi dây nhỏ, buộc mỗi đầu vào cọc lưới có chiều cao 15,25cm. Khoảng cách giới hạn ngoài đường biên dọc với cột cọc lưới là 15,25cm.
2.2.3 Mép trên của lưới suốt chiều dài phải cao đều 15,25cm so với mặt bàn.
2.2.4 Mép dưới suốt chiều dài của lưới cần phải sát với mặt bàn và những cạnh bên của lưới cũng cần phải sát với cọc lưới.
2.3 bóng
2.3.1 Quả bóng hình cầu có đường kính 40mm.
2.3.2 Quả bóng nặng 2,7g.
2.3.3 Quả bóng được làm bằng xen-lu-lô-ít hoặc chất nhựa dẻo tương tự, có mầu trắng hay màu da cam và mờ.
2.4 vợt
2.4.1 Vợt có thể có kích thước, hình dáng và trọng lượng bất kỳ nhưng cốt vợt phải phẳng và cứng.
2.4.2 ít nhất 85% bề dầy cốt vợt phải bằng gỗ tự nhiên; một lớp dính bene trong cốt vợt có thể được tăng cường bằng loại chất sợi như sợi các bon, sợi thủy tinh hay giấy nén nhưng không được vượt quá 7,5% toàn bộ bề dày hoặc 0,35mm.
2.4.3 Mặt của cốt vợt dùng để đánh bóng phải được phủ hoặc bằng mặt gai cao su thường, gai hướng ra ngoài, tất cả độ dầy kể cả chất dính không vượt quá 2mm, hoặc bằng cao su mút với gai úp hay gai ngửa, tất cả có độ dầy kể cả chất dính không vượt quá 4mm.
2.4.3.1 Cao su thường có gai là một lớp duy nhất bằng cao su, không lỗ tổ ong, tự nhiên hoặc tổng hợp, các hại gai rải rộng đều trên mặt vợt với mật độ không ít hơn 10 và không quá 50 gai/cm2;
2.4.3.2 Cao su mút là một lớp dày duy nhất cao su tổ ong, phủ một lớp ở phía ngoài bằng cao su thuwongf có gai, bề dầy của lớp cao su có gai không vượt quá 2mm.
2.4.4 Chất liệu phủ phải kéo ra tới các mép nhưng không được vượt quá các giới hạn của cốt vợt, trừ phần gần cán nhất và chỗ đặt các ngón tay có thể để không hoặc phủ bằng một chất liệu nào đó.
2.4.5 Cốt vợt cũng như bất kỳ lớp nào bên trong cốt vợt và lớp phủ bên ngoài hoặc dán trên mặt dùng để đánh bóng phải liên tục và có độ dầy đồng đều.
2.4.6 Mặt phủ cốt vợt hoặc mặt cốt vợt không phủ phải mờ, một mặt là mầu đỏ tươi và mặt kia là mầu đen.
2.4.7 Những sai lệch nhỏ về sự liên tục của mặt vợt hoặc sự đồng đều về mầu sắc do sự cố bất thường hay do hao mòn thì có thể chiếu cố miễn là những điều đó không làm thay đổi đáng kể đến đặc điểm của mặt vợt.
2.4.8 Trước lúc bắt đầu trận đấu hay khi thay vợt trong trận đấu, đấu thủ sẽ đưa vợt mà mình sử dụng cho đối phương và trọng tài xem và kiểm tra.
2.5 các định nghĩa
2.5.1 Một loạt đường bóng đánh qua lại là giai đoạn lúc bóng đang còn ở trong cuộc.
2.5.2 Bóng ở trong cuộc được tính từ thời điểm cuối cùng khi bóng nằm yêu trong lòng bàn tay tự do (tay không cầm vợt) trước khi được tung có chú ý lên lúc giao bóng cho đến khi loạt đường bóng đánh qua lại được quyết định là đánh lại hay tính 1 điểm.
2.5.3 Lần đánh bóng lại là một loạt đường bóng đánh qua lại mà kết quả của nó không được tính điểm.
2.5.4 Một điểm là một loạt đường bóng đánh qua lại kết quả của nó được tính điểm.
2.5.5 Tay cầm vợt là tay đang cầm chiếc vợt.
2.5.6 Tay tự do là tay đang không cầm vợt.
2.5.7 Một đấu thủ đánh quả bóng nếu như trong cuộc người đó chạm vào bóng bằng vợt của mình cầm trong tay hay dưới cổ tay cầm vợt.
2.5.8 Một đấu thủ cản quả bóng nếu bản thân người đó hay bất cứ vật gì mang trên người mà chạm vào quả bóng trong lúc bóng còn đang ở trong cuộc khi nó đang đi về phía mặt bàn và chưa vượt qua đường biên cuối, chưa chạm vào mặt bàn bên mình từ lúc đối phương đánh sang.
2.5.9 Người giao bóng là người đánh quả bóng đầu tiên trong mỗi loạt đường bóng qua lại.
2.5.10 Người đỡ giao bóng là người đánh quả bóng thứ hai của mỗi loạt đường bóng qua lại.
2.5.11 Trọng tài là người được chỉ định để điều khiển một trận đấu.
2.5.12 Người phụ tá trọng tài là người được chỉ định giúp trọng tài trong một số phán quyết nhất định.
2.5.13 Nói bất cứ vật gì đấu thủ mặc hoặc mang là bất cứ vật gì đấu thủ đang mặc hoặc đang mang khác ngoài quả bóng, ở lúc bắt đầu của lần đánh bóng.
2.5.14 Quả bóng được coi như vượt qua hoặc vòng qua bộ phận của lưới nếu nó đi qua bất cứ chỗ nào ngoại trừ phần giữa lưới và cọc lưới hoặc giữa lưới và mặt trên của bàn.
2.5.15 Đường cuối bàn sẽ được coi như kéo dài vô hạn ở cả hai phía.
2.6 quả giao bóng
2.6.1 Lúc bắt đầu giao bóng quả bóng được đặt nằm im trên lòng bàn tay tự do mở phẳng, ở đằng sau đường cuối bàn và ở bên trên của mặt bàn.
2.6.2 Người giao bóng tung lên theo phương thẳng đứng, không được tạo ra bóng xoáy, để cho quả bóng lên cao ít nhất 16cm sau khi bóng rời khỏi lòng bàn tay không cầm vợt và sau đó rơi xuống không chạm bất cứ vật gì trước khi được đánh đi.
2.6.3 Khi quả bóng rơi xuống người giao bóng sẽ đánh quả bóng đó sao cho bóng chạm bên mặt bàn mình trước và sau đó mới nẩy qua lưới hoặc vòng qua các bộ phận của lưới, chạm trực tiếp vào bên mặt bàn của người đỡ giao bóng. Trong đánh đôi bóng phải của người giao bóng và người đỡ giao bóng.
2.6.4 Cả bóng và vợt đều phải ở phía trên mặt bàn kể từ điểm cuối cùng mà lúc đó quả bóng đặt im trước khi được tung lên và đánh đi.
2.6.5 Khi quả bóng được đánh đi, bóng phải ở phía sau đường biên cuối bàn nhưng không được xa hơn phía sau phần cơ thể của người giao bóng, trừ tay, đầu hoặc chân là bộ phận cách xa nhất với đường biên cuối bàn.
2.6.6 Trách nhiệm của người giao bóng là làm sao cho trọng tài hoặc phụ tá trọng tài thấy được là mình đã tuân thủ những yêu cầu đối với quả giao bóng tốt.
2.6.6.1 Nếu trọng tào thấy nghi ngờ về quả giao bóng của đấu thủ là không đúng luật, nhưng trọng tài và phụ tá trọng tài không chắc chắn là quả giao bóng đó trái luật, đối với lần đầu tiên của một trận đấu thì nhắc nhở mà không tính điểm;
2.6.6.2 Nếu tiếp tục trong trận đấu quả giao bóng của đấu thủ đó bị nghi ngờ về sự hợp lệ vì cùng một lý do hay bất kỳ lý do nào khác đấu thủ này sẽ
 
Gửi ý kiến