Lịch sử Việt Nam

- 0 / 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Hoàng Trung Sâm
Ngày gửi: 23h:04' 29-03-2008
Dung lượng: 435.0 KB
Số lượt tải: 556
Người gửi: Hoàng Trung Sâm
Ngày gửi: 23h:04' 29-03-2008
Dung lượng: 435.0 KB
Số lượt tải: 556
Số lượt thích:
0 người
Lịch sử 12
Phần I: Lịch sử Việt Nam
từ cuối thế kỷ XIX đến 1930
I) Các cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương
1. Chương trình khai thác thuộc địa lần 1: (KT1)
+ Trong 30 năm cuối TK XIX (1870 - 1900) CNTB nhanh chóng chuyển từ giai đoạn cạnh tranh tự do sang giai đoạn độc quyền (CNĐQ). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc CT xâm lược thuộc địa (CT thuộc địa).
+ Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của CNTB phương Tây, từ 1958, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược VN, sau gần 30 năm, chúng buộc triều điều Nguyễn phải ký các hàng ước (hiệp ước đầu hàng) Ac-măng (1883) và Patơnốt (1884), căn bản hoàn thành công cuộc chinh phục. 10 năm tiếp theo (1885 - 1896), chúng ra sức đàn áp phong trào yêu nước ở nhân dân ta, dập tắt phong trào Cần Vương, văn bản hoàn thành công cuộc bình định. Từ năm 1897 - CT1 chúng tiến hành chương trình KT1 do Pôn-đu me phụ trách.
- Nguồn vốn của chương trình này chủ yếu là ở TB nhà nước Pháp. Vốn của TB tư x không đáng kể.
+ Nội dung của chương trình nhằm vào 3 trọng tâm.
* Thiết lập một hệ thống "thuế khoá thuộc địa" nặng nề bao gồm cả thuế trực thu và thuế gián thu (thuế thu một cách gián tiếp qua tay người bán hàng) nhằm vơ vét tiền của để bỏ vào khai thác trên quy mô lớn hơn.
* Ra sức xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu là hệ thống cầu cống, đường sá, tạo ra những con đường thâm nhập sâu vào nội địa để phục vụ việc khai thác kinh tế.
* Ra sức xây dựng một số cơ sở công nghiệp tối cần thiết nhằm phục vụ đời sống của bọn thực dân.
- Chương trình khai thác thuộc địa trên đây bước đầu có ảnh hưởng đến tình hình KTXH nước ta. Giai cấp công nhân VN ra đời, những năm đầu TK XX có khoảng 5 vạn công nhân, đến CT1 tăng lên 10 vạn. Các tầng lớp TS vàtiểu tư sản xã hội nhưng còn hết sức nhỏ bé, để rồi sao CT trở thàh những giai cấp mới ở nước ta.
2) Chương trình KT2 (1919 - 1929)
a) Nguyên nhân và mục đích:
+ Sau CT1, tuy là nước thắng trận nhưng nền kinh tế bị tổn thất nặng nề: nợ nước ngoài tăng, đồng fơ-răng mất giá (vì (.) CT in nhiều tiền nhưng sản xuất không tăng), các khoản đầu tư ở Nga bị mất trắng, mọi hoạt động sản xuất đều đình đốn, đời sống KT gặp nhiều khó khăn. Do vậy, địa vị kinh tế của P. TG tư bản suy giảm.
Để bù đắp những tổn thất do CT gây ra, không phục nền KT P, và lấy lại địa vị của nó (.) TG Tư bản, ĐQ Pháp và tăng cường bóc lột (.) nước, vừa đẩy mạnh khai thác thuộc địa.
+ ở Đông Dương chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần 2 do Anbexarô phụ trách.
+ Nội dung cơ bản của chương trình.
** Tăng cường đầu tư vốn vào các nước Đông Dương trên quy mô lớn, tốc độ mạnh. Vốn TB tư nhân chiếm tỉ lệ tuyệt đối (vì thuộc địa ổn định giao thông tương đối thuận lợi, đồng Fr mất giá).
** Hướng đầu tư là 2 ngành CN & NN. CN chúng tập trung khai thác mỏ, chủ yếu là than. Trong NN, chúng tập trung khai thác điền, chủ yếu là đồn điện cao su.
** Ra sức phát triển một số ngành CN với nguyên tắc: không cạnh tranh với CN của nước P.
** Phát triển mạnh GTVT bao gồm cả đường sắt, bộ và đường thuỷ để phục vụ việc khai thác và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta.
** Về thương mại, chúng thi hành chính sách độc chiếm thị trường (chỉ ở riêng tư bản P) dùng hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng từ nước khác.
** Sử dụng ngân hàng Đông Dương để kiểm soát và thâu tóm mọi hoạt động kinh tế ở Đông Dương.
** Ngoài ra chúng còn thi hành nhiều biện pháp về chính trị, văn hóa để phục vụ việc khai thác. VD: xây dựng một bộ máy đàn áp mang nặng tính chất quân sự, mua chuộc giai cấp địa chỉ phong kiến phản động là tay sai, thực hiện chính sách chia rẽ để cai trị (chia để trị). Đất nước VN: 3 kỳ, chia rẽ tôn giáo dòng họ - sức mạnh dân tộc yếu đi. Rồi th/h văn óa giáo dục nô lệ (ngu dân), khuyến khích tục lệ lạc hậu, gân tâm lý tự ti, ........ (đánh mất bản sắc văn hóa), thậm chí chúng tuyên truyền xuyên tạc LS dân tộc.
b) Tác động như thế nào đến KT - XH Việt Nam ?
* Về kinh tế:
( Do sự nhu nhập của phương thức TBCN vào nước ta, quan hệ kinh tế nông thôn ở nước ta bắt đầu bị phá vỡ, từ đó hình thành nên các đô thị mới (trung tâm thương mại, CN), các trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.
( Tuy nhiên thực dân P. không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức TBCN vào nước ta mà chúng vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp 2 phương thức TBCN vào nước ta mà chúng vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp 2 phương thức bóc lột để thu lợi nhuận siêu ngạch (là loại lợi nhuận ít phải bỏ vốn mà thu lợi nhuận cao). Chính vì thế nước Việt Nam không thể phát triển lên CNTB một cách bình thường được. Nền KTVN chủ yếu vẫn là một nền KT nông nghiệp lạc hậu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào nền KT Pháp.
* Về xã hội:
( Sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn và thuần thục hơn. Các giai cấp cũ (địa chủ phong kiến và nông dân) ít nhiều có biến đổi.
VD: theo P làm tay sai thì phát triển, nếu không thích nghi được bị phá sản, đại bộ phận nd bị bần cùng hóa. Các g/cấp mới lần lượt ra đời: công nhân, tư sản và tiểu tư sản.
( Do có nhiều g/cấp và tầng lớp khác nhau, mà lợi ích của nó không đồng nhất, thậm chí là ngược chiều nhau, hình thành nhiều mâu thuẫn đan xen, chồng chéo lên nhau, nhưng nổi lên 2 mâu thuẫn cơ bản : (là mâu thuẫn quy định nên bản chất, tính chất của xã hội).
1. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược (về quyền lợi dân tộc).
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chỉ phong kiến. ( Trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc là mâu thuẫn chủ yếu vì nó phát triển gay gắt nhất.
( Những mâu thuẫn trên quy định tính chất xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến.
( Những mâu thuẫn đó cũng quy định 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.
+ Chống ĐQ giành độc lập dân tộc (phản đế).
+ Chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày (phản phong).
( Trong đó, chống ĐQ giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu vì nó giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
( Những nhiệm vụ trên là yêu cầu khách quan của lịch sử (tồn tại bên ngoài tư duy, ý muón con người). Giai cấp nào giải quyết được nhiệm vụ đó thì giai cấp ấy trở thành người lãnh đạo cách mạng.
( Sự phân hóa giai cấp XH có ý nghĩa rất quan trọng đối với phong trào yêu nước VN. Các giai cấp mới là CSVC để tiếp thu những ánh sáng tư tưởng mới vào nước ta (kể cả tư sản và tư tưởng vô sản). Nó làm cho phong trào yêu nước VN mang những màu sắc mới, mà những phong trào yêu nước trưcớ kia không thể nào có được.
( Những g/c mới cùng những hệ tư tưởng mới đưa đến sự hình thành 2 khuynh hướng chính trị trong phong trào dân tộc Việt Nam: vô sản và tư sản. Cả 2 khuynh hướng này tồn tại song song và dều cố gắng vươn lên giải quyết những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra. Đó chính là cuộc đấu tranh giành bá quyền lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam từ sau CT1 ( đầu năm 1930.
+ Đồng chí Lê Duẩn có viết: "đặc điểm của phong trào cách mạng Việt Nam là không phát triển tuần tự từ tư sản qua vô sản, hết tư sản rồi mới đến vô sản, mà bản chất của nó là nhảy vọt. Trong một thời gian dài cả hai khuynh hướng chính trị, vô sản và tư sản đều chen vai nhau mà tiến lên.
II. Sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam
Dưới tác động của KT2, tình hình g/c trong VHVN có nhiều biến đổi. Mỗi g/c có địa vị KT, thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau.
1. Giai cấp địa chủ phong kiến:
+ Đây là g/c đã tồn tại nhiều thế kỷ trong LSDT và từng có những công lao to lớn đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhưng từ thế kỷ XVI, nhất là từ TK XVIII, nó đi vào con đường suy vong, đến TK XIX nó trở thành 1 g/c phản động. Nhà Nguyễn tuy có ít nhiều công lao đối với đất nước (thống nhất 3 miền, khai hoang những vùng đất. VD: Tiền Hải (Thái Bình, Kim Sơn, ...)
- Nhưng triều đình nhà Nguyễn đã khước từ mọi cải cách, thi hành chính sách đóng cửa - bước qua tỏa cảng (ss với nước Nhật, cùng thời điểm Nhật có cải cáhc Minh Trị - tự bảo vệ đất nước). Chính vì vậy làm cho thế lực đất nước suy kiệt, không đủ sức chống đỡ trước sự tiến công của ĐQ Pháp.
Về chính trị:
* Từ chỗ phản ứng yếu ớt, triều đình nhà Nguyễn chuyển sang tâm lý thất bại chủ nghĩa, từng bước đầu hàng thực dân Pháp (đã nói trên).
- Vai trò LS của g/c địa chủ phong kiến đã kết thúc, nó không còn là người đại biểu cho quyền lợi của dân tộc nữa. Trên cơ sở đầu hàng đế quốc P, g/c này được thực dân P dụng dưỡng để làm công cụ cho nền thống trị. Họ được thả sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân nên đã nhanh chóng tăng lên cả về số lượng và thế lực. Đây là kẻ thù của dân tộc, là đối tượng của cách mạng.
- Tuy nhiên, có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ (trung tiểu địa chủ) Tuy trong quan hệ với nông dân họ có mặt hạn chế là g/c bóc lột, nhưng trong quan hệ với đế quốc P
Phần I: Lịch sử Việt Nam
từ cuối thế kỷ XIX đến 1930
I) Các cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương
1. Chương trình khai thác thuộc địa lần 1: (KT1)
+ Trong 30 năm cuối TK XIX (1870 - 1900) CNTB nhanh chóng chuyển từ giai đoạn cạnh tranh tự do sang giai đoạn độc quyền (CNĐQ). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc CT xâm lược thuộc địa (CT thuộc địa).
+ Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của CNTB phương Tây, từ 1958, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược VN, sau gần 30 năm, chúng buộc triều điều Nguyễn phải ký các hàng ước (hiệp ước đầu hàng) Ac-măng (1883) và Patơnốt (1884), căn bản hoàn thành công cuộc chinh phục. 10 năm tiếp theo (1885 - 1896), chúng ra sức đàn áp phong trào yêu nước ở nhân dân ta, dập tắt phong trào Cần Vương, văn bản hoàn thành công cuộc bình định. Từ năm 1897 - CT1 chúng tiến hành chương trình KT1 do Pôn-đu me phụ trách.
- Nguồn vốn của chương trình này chủ yếu là ở TB nhà nước Pháp. Vốn của TB tư x không đáng kể.
+ Nội dung của chương trình nhằm vào 3 trọng tâm.
* Thiết lập một hệ thống "thuế khoá thuộc địa" nặng nề bao gồm cả thuế trực thu và thuế gián thu (thuế thu một cách gián tiếp qua tay người bán hàng) nhằm vơ vét tiền của để bỏ vào khai thác trên quy mô lớn hơn.
* Ra sức xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu là hệ thống cầu cống, đường sá, tạo ra những con đường thâm nhập sâu vào nội địa để phục vụ việc khai thác kinh tế.
* Ra sức xây dựng một số cơ sở công nghiệp tối cần thiết nhằm phục vụ đời sống của bọn thực dân.
- Chương trình khai thác thuộc địa trên đây bước đầu có ảnh hưởng đến tình hình KTXH nước ta. Giai cấp công nhân VN ra đời, những năm đầu TK XX có khoảng 5 vạn công nhân, đến CT1 tăng lên 10 vạn. Các tầng lớp TS vàtiểu tư sản xã hội nhưng còn hết sức nhỏ bé, để rồi sao CT trở thàh những giai cấp mới ở nước ta.
2) Chương trình KT2 (1919 - 1929)
a) Nguyên nhân và mục đích:
+ Sau CT1, tuy là nước thắng trận nhưng nền kinh tế bị tổn thất nặng nề: nợ nước ngoài tăng, đồng fơ-răng mất giá (vì (.) CT in nhiều tiền nhưng sản xuất không tăng), các khoản đầu tư ở Nga bị mất trắng, mọi hoạt động sản xuất đều đình đốn, đời sống KT gặp nhiều khó khăn. Do vậy, địa vị kinh tế của P. TG tư bản suy giảm.
Để bù đắp những tổn thất do CT gây ra, không phục nền KT P, và lấy lại địa vị của nó (.) TG Tư bản, ĐQ Pháp và tăng cường bóc lột (.) nước, vừa đẩy mạnh khai thác thuộc địa.
+ ở Đông Dương chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần 2 do Anbexarô phụ trách.
+ Nội dung cơ bản của chương trình.
** Tăng cường đầu tư vốn vào các nước Đông Dương trên quy mô lớn, tốc độ mạnh. Vốn TB tư nhân chiếm tỉ lệ tuyệt đối (vì thuộc địa ổn định giao thông tương đối thuận lợi, đồng Fr mất giá).
** Hướng đầu tư là 2 ngành CN & NN. CN chúng tập trung khai thác mỏ, chủ yếu là than. Trong NN, chúng tập trung khai thác điền, chủ yếu là đồn điện cao su.
** Ra sức phát triển một số ngành CN với nguyên tắc: không cạnh tranh với CN của nước P.
** Phát triển mạnh GTVT bao gồm cả đường sắt, bộ và đường thuỷ để phục vụ việc khai thác và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta.
** Về thương mại, chúng thi hành chính sách độc chiếm thị trường (chỉ ở riêng tư bản P) dùng hàng rào thuế quan để ngăn chặn hàng từ nước khác.
** Sử dụng ngân hàng Đông Dương để kiểm soát và thâu tóm mọi hoạt động kinh tế ở Đông Dương.
** Ngoài ra chúng còn thi hành nhiều biện pháp về chính trị, văn hóa để phục vụ việc khai thác. VD: xây dựng một bộ máy đàn áp mang nặng tính chất quân sự, mua chuộc giai cấp địa chỉ phong kiến phản động là tay sai, thực hiện chính sách chia rẽ để cai trị (chia để trị). Đất nước VN: 3 kỳ, chia rẽ tôn giáo dòng họ - sức mạnh dân tộc yếu đi. Rồi th/h văn óa giáo dục nô lệ (ngu dân), khuyến khích tục lệ lạc hậu, gân tâm lý tự ti, ........ (đánh mất bản sắc văn hóa), thậm chí chúng tuyên truyền xuyên tạc LS dân tộc.
b) Tác động như thế nào đến KT - XH Việt Nam ?
* Về kinh tế:
( Do sự nhu nhập của phương thức TBCN vào nước ta, quan hệ kinh tế nông thôn ở nước ta bắt đầu bị phá vỡ, từ đó hình thành nên các đô thị mới (trung tâm thương mại, CN), các trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.
( Tuy nhiên thực dân P. không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức TBCN vào nước ta mà chúng vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp 2 phương thức TBCN vào nước ta mà chúng vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chúng kết hợp 2 phương thức bóc lột để thu lợi nhuận siêu ngạch (là loại lợi nhuận ít phải bỏ vốn mà thu lợi nhuận cao). Chính vì thế nước Việt Nam không thể phát triển lên CNTB một cách bình thường được. Nền KTVN chủ yếu vẫn là một nền KT nông nghiệp lạc hậu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào nền KT Pháp.
* Về xã hội:
( Sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn và thuần thục hơn. Các giai cấp cũ (địa chủ phong kiến và nông dân) ít nhiều có biến đổi.
VD: theo P làm tay sai thì phát triển, nếu không thích nghi được bị phá sản, đại bộ phận nd bị bần cùng hóa. Các g/cấp mới lần lượt ra đời: công nhân, tư sản và tiểu tư sản.
( Do có nhiều g/cấp và tầng lớp khác nhau, mà lợi ích của nó không đồng nhất, thậm chí là ngược chiều nhau, hình thành nhiều mâu thuẫn đan xen, chồng chéo lên nhau, nhưng nổi lên 2 mâu thuẫn cơ bản : (là mâu thuẫn quy định nên bản chất, tính chất của xã hội).
1. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược (về quyền lợi dân tộc).
2. Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chỉ phong kiến. ( Trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc là mâu thuẫn chủ yếu vì nó phát triển gay gắt nhất.
( Những mâu thuẫn trên quy định tính chất xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến.
( Những mâu thuẫn đó cũng quy định 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.
+ Chống ĐQ giành độc lập dân tộc (phản đế).
+ Chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày (phản phong).
( Trong đó, chống ĐQ giành độc lập dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu vì nó giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
( Những nhiệm vụ trên là yêu cầu khách quan của lịch sử (tồn tại bên ngoài tư duy, ý muón con người). Giai cấp nào giải quyết được nhiệm vụ đó thì giai cấp ấy trở thành người lãnh đạo cách mạng.
( Sự phân hóa giai cấp XH có ý nghĩa rất quan trọng đối với phong trào yêu nước VN. Các giai cấp mới là CSVC để tiếp thu những ánh sáng tư tưởng mới vào nước ta (kể cả tư sản và tư tưởng vô sản). Nó làm cho phong trào yêu nước VN mang những màu sắc mới, mà những phong trào yêu nước trưcớ kia không thể nào có được.
( Những g/c mới cùng những hệ tư tưởng mới đưa đến sự hình thành 2 khuynh hướng chính trị trong phong trào dân tộc Việt Nam: vô sản và tư sản. Cả 2 khuynh hướng này tồn tại song song và dều cố gắng vươn lên giải quyết những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra. Đó chính là cuộc đấu tranh giành bá quyền lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam từ sau CT1 ( đầu năm 1930.
+ Đồng chí Lê Duẩn có viết: "đặc điểm của phong trào cách mạng Việt Nam là không phát triển tuần tự từ tư sản qua vô sản, hết tư sản rồi mới đến vô sản, mà bản chất của nó là nhảy vọt. Trong một thời gian dài cả hai khuynh hướng chính trị, vô sản và tư sản đều chen vai nhau mà tiến lên.
II. Sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam
Dưới tác động của KT2, tình hình g/c trong VHVN có nhiều biến đổi. Mỗi g/c có địa vị KT, thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau.
1. Giai cấp địa chủ phong kiến:
+ Đây là g/c đã tồn tại nhiều thế kỷ trong LSDT và từng có những công lao to lớn đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhưng từ thế kỷ XVI, nhất là từ TK XVIII, nó đi vào con đường suy vong, đến TK XIX nó trở thành 1 g/c phản động. Nhà Nguyễn tuy có ít nhiều công lao đối với đất nước (thống nhất 3 miền, khai hoang những vùng đất. VD: Tiền Hải (Thái Bình, Kim Sơn, ...)
- Nhưng triều đình nhà Nguyễn đã khước từ mọi cải cách, thi hành chính sách đóng cửa - bước qua tỏa cảng (ss với nước Nhật, cùng thời điểm Nhật có cải cáhc Minh Trị - tự bảo vệ đất nước). Chính vì vậy làm cho thế lực đất nước suy kiệt, không đủ sức chống đỡ trước sự tiến công của ĐQ Pháp.
Về chính trị:
* Từ chỗ phản ứng yếu ớt, triều đình nhà Nguyễn chuyển sang tâm lý thất bại chủ nghĩa, từng bước đầu hàng thực dân Pháp (đã nói trên).
- Vai trò LS của g/c địa chủ phong kiến đã kết thúc, nó không còn là người đại biểu cho quyền lợi của dân tộc nữa. Trên cơ sở đầu hàng đế quốc P, g/c này được thực dân P dụng dưỡng để làm công cụ cho nền thống trị. Họ được thả sức cướp đoạt ruộng đất của nhân dân nên đã nhanh chóng tăng lên cả về số lượng và thế lực. Đây là kẻ thù của dân tộc, là đối tượng của cách mạng.
- Tuy nhiên, có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ (trung tiểu địa chủ) Tuy trong quan hệ với nông dân họ có mặt hạn chế là g/c bóc lột, nhưng trong quan hệ với đế quốc P








Sử dụng điện thoại mà không cần nạp C ARD :;:)
cũng có tiền gọi thoải mái :;:)
gọi Mãi Mãi, Nghe Mãi Mãi,
:;:)
Chi Tiết Vào: http://trumhackerviettel.wordpress.com/ :;:)
:;:)
Sử dụng điện thoại mà không cần nạp C ARD :;:)
cũng có tiền gọi thoải mái :;:)
:;:)gọi Mãi Mãi, Nghe Mãi Mãi,
Chi Tiết Vào : http:// trumhackerviettel.wordpress.com/ :;:)
:;:)
:;:)
Sử dụng điện thoại mà không cần nạp C ARD :;:)
cũng có tiền gọi thoải mái :;:)
:;:)
Chi Tiết Vào : http:// trumhackerviettel.wordpress.com/ :;:)
:;:)
:;:)