Lịch sử thế giới Cổ - Trung đại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thi Hang Hai
Ngày gửi: 20h:10' 26-07-2008
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 222
Nguồn:
Người gửi: Phan Thi Hang Hai
Ngày gửi: 20h:10' 26-07-2008
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 222
Số lượt thích:
0 người
vấn đề sở hữu ruộng đất và sở hữu ruộng đất ở các nước phương đông
Mở đầu
Vấn đề sở hữu ruộng đất trong lịch sử là một vấn đề quan trọng giúp các nhà nghiên cứu lịch sử và những người học lịch sử có thể hiểu rõ hơn về lịch sử một quốc gia, một dân tộc hay một thời kỳ lịch sử. Đối với một nước nông nghiệp, vấn đề ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa hàng đầu. Nói đến nghề nông trồng lúa, tức là nói đến ruộng đất. Việc quản lý và không ngừng mở rộng ruộng đất là một trong những vấn đề sống còn của con người. Nhưng quản lý như thế nào và mở rộng như thế nào tuỳ thuộc vào quan hệ xã hội đương thời chi phối.
Nói đến chế độ ruộng đất tức là nói đến các hình thức sở hữu, chiếm hữu ruộng đất và sử dụng ruộng đất khác nhau về những biểu hiện cụ thể của nó ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, vị trí và vai trò của nó.
Phương Đông là khu vực được hình thành sớm dựa trên cơ sở của một nền nông nghiệp trồng lúa nước. Vì vậy nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề sở hữu ruộng đất ở Phương Đông có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử các nước Phương Đông, cũng như quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác ở Phương Đông. Đặc biệt là quá trình chuyển từ xã hội cổ đại sang xã hội phong kiến.
Nghiên cứu, tìm hiểu về chế độ sở hữu ruộng đất ở các nước Phương Đông cũng đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu sử học đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình. Đặc biệt vấn đề này đề cập đến rất rõ trong các bài viết về phương thức sản xuất á châu.Vì vậy, trong khuôn khổ của tiểu luận này, tôi chỉ xin nêu khái quát về chế độ sở sở hữu ruộng đất chung và chế độ sở hữu ruộng đất ở một số nước tiêu biểu ở Phương Đông cổ – trung đại.
Nội Dung
Khái niệm về chế độ sở hữu ruộng đất
Để hiểu được vấn đề sở hữu ruộng đất chung trên thế giới và vấn đề ruộng đất ở Phương Đông, chúng ta phải hiểu được thế nào là sở hữu ruộng đất?
Trước hết ta phải hiểu thế nào là ruộng đất? Theo Mác, đất đai đó là phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho vũ khí cung cấp cả tư liệu lao động lẫn vật liệu lao động và nơi ở , nghĩa là cơ sở của tập thể . Con người ta coi đất đai một cách thơ ngây như là sở hữu của tập thể , hơn nữa là một tập thể tự sản xuất và tái sản xuất ra mình trong lao động sống. Mỗi người một riêng biệt chỉ là kẻ sở hữu. hay là kẻ chiếm dụng với tư cách là một khâu của tập thể ấy, với tư cách là một thành viên của nó.
Việc chiếm hữu hiện thực do quá trình lao động diễn ra trong những tiền đề bản thân vốn không phải là sản phẩm của lao động, mà thể hiện ra là những tiền đề tự nhiên hay thần thánh của nó.
ở nơi nào sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu công xã thì người thành viên riêng rẽ với tư cách là như vậy thường thường chỉ là người chiếm dụng- cha truyền con nối hay không cha truyền con nối- một khoảng riêng biệt, vì mỗi một bộ phận sở hữu không thuộc về một thành viên riêng rẽ nào đó, mà thuộc vào cá nhân với tư cách là một thành viên trực tiếp của công xã chứ không phải phân biệt với công xã. Do đó, con người cá biệt ấy chỉ là chiếm dụng, chỉ tồn tại có sở hữu chung và chiếm dụng tư. Phương thức chiếm dụng ấy đối với sở hữu chung có thể có những sự biến thái rất khác nhau- lịch sử địa phương, v.v... tuỳ theo bản thân lao động của mỗi kiểu chiếm dụng tư nhân được thực hiện riêng rẽ, hay bản thân lao động đó, đến lượt nó, là do công xã hay do nguyên lý thống nhất lơ lửng trên công xã quyết định.
Quyền sử dụng ruộng đất công xã bằng con đường chiếm dụng ruộng đất đó, lúc đầu thuộc về giới quý tộc, sau đó quý tộc lại chiếm dụng ruộng đất ấy thành thái ấp cho những người được họ bảo trợ; việc được cấp một sở hữu lấy từ ( cánh đồng công cộng ) là một đặc quyền riêng của những người bình dân; tất cả những khoản tiền cấp đều là cho những người bình dân, vốn là để bồi thường cho phần này hay phần kia trong đất đai của công xa. Sở hữu ruộng đất theo đúng nghĩa của từ đó , trừ những vùng ở bên trong thành phố, lúc đầu chỉ nằm trong tay bình dân mà thôi.
Như vậy, chúng ta hiểu quyền sở hữu ruộng đất là quyền chiếm hữu và sử dụng, hưởng thụ ruộng đất. Người có quyền sở hữu ruộng đất quyền quyết định trên ruộng đất đó như trao đổi, mua bán, chuyển nhượng, thừa kế...
Từ khái niệm sở hữu ruộng đất như vậy, chúng ta cần phân biệt giữa sở hữu và chiếm hữu. Người có quyền chiếm hữu ruộng đất chỉ được sử dụng ruộng đất đó mà không có quyền trao đổi, mua bán, nhượng lại ruộng đất hay là thừa kế.
Ví dụ: ruộng đất trong xã hội cổ đậi Phương Đông thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước, của Vua. Vua giao ruộng đất đó cho nông dân cày cấy, nông dân cố quyền chiếm hữu mà không được quyền mua bán, trao đổi...
II.Sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất qua các thời kỳ
Thời kỳ cổ đại
ở thời cổ đại, chế độ sở hữu ruộng đất ở phương Đông và Phương Tây có sự khác biệt do điều kiện kinh tế và chính trị quy định.
Các quốc gia Phương Đông được hình thành sớm bên lưu vực các con sông lớn với một nền nông nghiệp trồng lúa nước. Cơ sở kinh tế xã hội của các quốc gia cổ đại phương Đông là công xã nông thôn, lấy nền nông nghiệp làm gốc. ở Phương Đông cổ đại , hình thức sở hữu nhà nước là chủ yếu và chi phối xã hội. Chế độ công hữu ruộng đất tồn tại trong một thơì gian dài và phân phối cho từng gia đình chiếm hữu để sử dụng. Nhà nước nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất. Hay nói cách khác vua là người có quyền tối cao về ruộng đất. nhưng ở những vùng kinh tế phát triển, nó đã dần dần phân hoá , xuất hiện một số ruộng đất tư hữu. Ruộng đất của công xẫ từ chỗ công hữu có xu thế phát triển và càng mở rộng về hướng tư hữu. Nông dân trong công xã có hoàn cảnh không giống nhau trong đó hình thái chiếm chủ đạo là nông dân tự do. Người nông dân trong công xã cày cấy và nộp thuế . Đó là nghĩa vụ chủ yếu của họ đối với quốc gia.
ở Phương Tây, do đặc điểm điều kiện tự nhiên khác nên quy định cơ sở kinh tế khác so với phương Đông- đó là nền kinh tế dựa trên kinh tế công thương nghiệp. Đất nông nghiệp ở đây ít, tuy vậy không có nghĩa là ở Phương Tây, mà tiêu biểu là Hy Lạp, Rôma không có chế độ sở hữu ruộng đất. hình thức sở hữu ruộng đất tiêu biểu ở Hy lạp, Rôma- điển hình là ở Rôma- là hình thức Latiphundia- chế độ đại điền trang. Đây là hình thái sản xuất cơ bản của nền kinh tế ở Rôma. Vận mệnh của nhà nước gắn với các Latiphundia. Latiphundia là hình thức sở hữu ruộng đất lớn của chủ nô, sử dụng sức lao động tập thể của nô lệ với phương thức canh tác độc canh. Muốn thiết lập được các Latiphundia phải có 2 điều kiện đó là có chế độ sở hữu ruộng đất lớn của tư nhân và có đầy đủ nô lệ thực thụ. Do vậy, trong lịch sử cổ đại, các Latiphudia trở thành đặc trưng trong hoạt động kinh tế nông nghiệp của nhà nước Rôma. Đây là nét khác biệt trong hình thức sở hữu ruộng đất ở phương Tây so với phương Đông.
2. Thời phong kiến.
Tư liệu sản xuất chủ yếu thời kỳ phong kiến là ruộng đất. Chế độ sở hữu ruộng đất của phong kiến chính là nền tảng của chế độ phong kiến. Ruộng đát thuộc sở hữu ruộng đất của cá nhân chúa phong kiến hay thuộc sở hữu quốc gia do giai cấp phong kiến thống trị. người sản xuất- người nông dân nương tựa, hoặc bản thân nông nô cũng bị chúa phong kiến chiếm hữu ở nhiều mức độ khác nhau. Ruộng đất mà chúa phong kiến sở hữu, đại bộ phận thông qua hình thức phân chia cho từng người nông dân cá biệt để sử dụng lâu dài; qua sự kết hợp giữa chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và kinh tế tiểu nông các thể , cũng như sự nương tựa về mặt nhân thân của người nông dân đối với lãnh chúa phong kiến. Sự bóc lột chủ yếu thông qua hình thức địa tô. Trong thời kỳ phong kiến, địa tô phong kiến được thể hiện qua 3 hình thức: địa tô hiện vật, địa tô lao dịch và địa tô tiền. Nói chung trong các thời kỳ khác nhau, nhất định có một hình thức địa tô là chủ yếu. Trong khi đó địa tô lại lấy hình thức sở hữu ruộng đất để làm tiền đề vớiư một số người nào đó có quyền sở hữu trên mảnh đất nào đó.
ở Phương Đông, hình thức sở hữu ruộng đất có sự khác biệt so với phương Tây. Nếu như ở phương Tây, ruộng đất thuộc các chúa phong kiến với hình thức sở hữu tư nhân phát triển chủ yếu thì ở phương Đông, ruộng đất chủ yếu thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước- đứng đầu là vua chuyên chế. Trải qua các triều đại khác nhau, giai cấp thống trị đều cố gắng biến ruộng đất thành quyền sở hữu tối cao của mình. Tuy vậy, sở hữu tư nhân cũng từng bước được phát triển ở Phương Đông nhưng một mặt nào đó vẫn bị lệ thuộc vào nhà nước do đặc điểm của chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Càng về cuối thời kỳ phong kiến, sở hữu ruộ
Mở đầu
Vấn đề sở hữu ruộng đất trong lịch sử là một vấn đề quan trọng giúp các nhà nghiên cứu lịch sử và những người học lịch sử có thể hiểu rõ hơn về lịch sử một quốc gia, một dân tộc hay một thời kỳ lịch sử. Đối với một nước nông nghiệp, vấn đề ruộng đất bao giờ cũng có ý nghĩa hàng đầu. Nói đến nghề nông trồng lúa, tức là nói đến ruộng đất. Việc quản lý và không ngừng mở rộng ruộng đất là một trong những vấn đề sống còn của con người. Nhưng quản lý như thế nào và mở rộng như thế nào tuỳ thuộc vào quan hệ xã hội đương thời chi phối.
Nói đến chế độ ruộng đất tức là nói đến các hình thức sở hữu, chiếm hữu ruộng đất và sử dụng ruộng đất khác nhau về những biểu hiện cụ thể của nó ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, vị trí và vai trò của nó.
Phương Đông là khu vực được hình thành sớm dựa trên cơ sở của một nền nông nghiệp trồng lúa nước. Vì vậy nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề sở hữu ruộng đất ở Phương Đông có ý nghĩa rất quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử các nước Phương Đông, cũng như quá trình chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác ở Phương Đông. Đặc biệt là quá trình chuyển từ xã hội cổ đại sang xã hội phong kiến.
Nghiên cứu, tìm hiểu về chế độ sở hữu ruộng đất ở các nước Phương Đông cũng đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu sử học đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình. Đặc biệt vấn đề này đề cập đến rất rõ trong các bài viết về phương thức sản xuất á châu.Vì vậy, trong khuôn khổ của tiểu luận này, tôi chỉ xin nêu khái quát về chế độ sở sở hữu ruộng đất chung và chế độ sở hữu ruộng đất ở một số nước tiêu biểu ở Phương Đông cổ – trung đại.
Nội Dung
Khái niệm về chế độ sở hữu ruộng đất
Để hiểu được vấn đề sở hữu ruộng đất chung trên thế giới và vấn đề ruộng đất ở Phương Đông, chúng ta phải hiểu được thế nào là sở hữu ruộng đất?
Trước hết ta phải hiểu thế nào là ruộng đất? Theo Mác, đất đai đó là phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho vũ khí cung cấp cả tư liệu lao động lẫn vật liệu lao động và nơi ở , nghĩa là cơ sở của tập thể . Con người ta coi đất đai một cách thơ ngây như là sở hữu của tập thể , hơn nữa là một tập thể tự sản xuất và tái sản xuất ra mình trong lao động sống. Mỗi người một riêng biệt chỉ là kẻ sở hữu. hay là kẻ chiếm dụng với tư cách là một khâu của tập thể ấy, với tư cách là một thành viên của nó.
Việc chiếm hữu hiện thực do quá trình lao động diễn ra trong những tiền đề bản thân vốn không phải là sản phẩm của lao động, mà thể hiện ra là những tiền đề tự nhiên hay thần thánh của nó.
ở nơi nào sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu công xã thì người thành viên riêng rẽ với tư cách là như vậy thường thường chỉ là người chiếm dụng- cha truyền con nối hay không cha truyền con nối- một khoảng riêng biệt, vì mỗi một bộ phận sở hữu không thuộc về một thành viên riêng rẽ nào đó, mà thuộc vào cá nhân với tư cách là một thành viên trực tiếp của công xã chứ không phải phân biệt với công xã. Do đó, con người cá biệt ấy chỉ là chiếm dụng, chỉ tồn tại có sở hữu chung và chiếm dụng tư. Phương thức chiếm dụng ấy đối với sở hữu chung có thể có những sự biến thái rất khác nhau- lịch sử địa phương, v.v... tuỳ theo bản thân lao động của mỗi kiểu chiếm dụng tư nhân được thực hiện riêng rẽ, hay bản thân lao động đó, đến lượt nó, là do công xã hay do nguyên lý thống nhất lơ lửng trên công xã quyết định.
Quyền sử dụng ruộng đất công xã bằng con đường chiếm dụng ruộng đất đó, lúc đầu thuộc về giới quý tộc, sau đó quý tộc lại chiếm dụng ruộng đất ấy thành thái ấp cho những người được họ bảo trợ; việc được cấp một sở hữu lấy từ ( cánh đồng công cộng ) là một đặc quyền riêng của những người bình dân; tất cả những khoản tiền cấp đều là cho những người bình dân, vốn là để bồi thường cho phần này hay phần kia trong đất đai của công xa. Sở hữu ruộng đất theo đúng nghĩa của từ đó , trừ những vùng ở bên trong thành phố, lúc đầu chỉ nằm trong tay bình dân mà thôi.
Như vậy, chúng ta hiểu quyền sở hữu ruộng đất là quyền chiếm hữu và sử dụng, hưởng thụ ruộng đất. Người có quyền sở hữu ruộng đất quyền quyết định trên ruộng đất đó như trao đổi, mua bán, chuyển nhượng, thừa kế...
Từ khái niệm sở hữu ruộng đất như vậy, chúng ta cần phân biệt giữa sở hữu và chiếm hữu. Người có quyền chiếm hữu ruộng đất chỉ được sử dụng ruộng đất đó mà không có quyền trao đổi, mua bán, nhượng lại ruộng đất hay là thừa kế.
Ví dụ: ruộng đất trong xã hội cổ đậi Phương Đông thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước, của Vua. Vua giao ruộng đất đó cho nông dân cày cấy, nông dân cố quyền chiếm hữu mà không được quyền mua bán, trao đổi...
II.Sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất qua các thời kỳ
Thời kỳ cổ đại
ở thời cổ đại, chế độ sở hữu ruộng đất ở phương Đông và Phương Tây có sự khác biệt do điều kiện kinh tế và chính trị quy định.
Các quốc gia Phương Đông được hình thành sớm bên lưu vực các con sông lớn với một nền nông nghiệp trồng lúa nước. Cơ sở kinh tế xã hội của các quốc gia cổ đại phương Đông là công xã nông thôn, lấy nền nông nghiệp làm gốc. ở Phương Đông cổ đại , hình thức sở hữu nhà nước là chủ yếu và chi phối xã hội. Chế độ công hữu ruộng đất tồn tại trong một thơì gian dài và phân phối cho từng gia đình chiếm hữu để sử dụng. Nhà nước nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất. Hay nói cách khác vua là người có quyền tối cao về ruộng đất. nhưng ở những vùng kinh tế phát triển, nó đã dần dần phân hoá , xuất hiện một số ruộng đất tư hữu. Ruộng đất của công xẫ từ chỗ công hữu có xu thế phát triển và càng mở rộng về hướng tư hữu. Nông dân trong công xã có hoàn cảnh không giống nhau trong đó hình thái chiếm chủ đạo là nông dân tự do. Người nông dân trong công xã cày cấy và nộp thuế . Đó là nghĩa vụ chủ yếu của họ đối với quốc gia.
ở Phương Tây, do đặc điểm điều kiện tự nhiên khác nên quy định cơ sở kinh tế khác so với phương Đông- đó là nền kinh tế dựa trên kinh tế công thương nghiệp. Đất nông nghiệp ở đây ít, tuy vậy không có nghĩa là ở Phương Tây, mà tiêu biểu là Hy Lạp, Rôma không có chế độ sở hữu ruộng đất. hình thức sở hữu ruộng đất tiêu biểu ở Hy lạp, Rôma- điển hình là ở Rôma- là hình thức Latiphundia- chế độ đại điền trang. Đây là hình thái sản xuất cơ bản của nền kinh tế ở Rôma. Vận mệnh của nhà nước gắn với các Latiphundia. Latiphundia là hình thức sở hữu ruộng đất lớn của chủ nô, sử dụng sức lao động tập thể của nô lệ với phương thức canh tác độc canh. Muốn thiết lập được các Latiphundia phải có 2 điều kiện đó là có chế độ sở hữu ruộng đất lớn của tư nhân và có đầy đủ nô lệ thực thụ. Do vậy, trong lịch sử cổ đại, các Latiphudia trở thành đặc trưng trong hoạt động kinh tế nông nghiệp của nhà nước Rôma. Đây là nét khác biệt trong hình thức sở hữu ruộng đất ở phương Tây so với phương Đông.
2. Thời phong kiến.
Tư liệu sản xuất chủ yếu thời kỳ phong kiến là ruộng đất. Chế độ sở hữu ruộng đất của phong kiến chính là nền tảng của chế độ phong kiến. Ruộng đát thuộc sở hữu ruộng đất của cá nhân chúa phong kiến hay thuộc sở hữu quốc gia do giai cấp phong kiến thống trị. người sản xuất- người nông dân nương tựa, hoặc bản thân nông nô cũng bị chúa phong kiến chiếm hữu ở nhiều mức độ khác nhau. Ruộng đất mà chúa phong kiến sở hữu, đại bộ phận thông qua hình thức phân chia cho từng người nông dân cá biệt để sử dụng lâu dài; qua sự kết hợp giữa chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và kinh tế tiểu nông các thể , cũng như sự nương tựa về mặt nhân thân của người nông dân đối với lãnh chúa phong kiến. Sự bóc lột chủ yếu thông qua hình thức địa tô. Trong thời kỳ phong kiến, địa tô phong kiến được thể hiện qua 3 hình thức: địa tô hiện vật, địa tô lao dịch và địa tô tiền. Nói chung trong các thời kỳ khác nhau, nhất định có một hình thức địa tô là chủ yếu. Trong khi đó địa tô lại lấy hình thức sở hữu ruộng đất để làm tiền đề vớiư một số người nào đó có quyền sở hữu trên mảnh đất nào đó.
ở Phương Đông, hình thức sở hữu ruộng đất có sự khác biệt so với phương Tây. Nếu như ở phương Tây, ruộng đất thuộc các chúa phong kiến với hình thức sở hữu tư nhân phát triển chủ yếu thì ở phương Đông, ruộng đất chủ yếu thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước- đứng đầu là vua chuyên chế. Trải qua các triều đại khác nhau, giai cấp thống trị đều cố gắng biến ruộng đất thành quyền sở hữu tối cao của mình. Tuy vậy, sở hữu tư nhân cũng từng bước được phát triển ở Phương Đông nhưng một mặt nào đó vẫn bị lệ thuộc vào nhà nước do đặc điểm của chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Càng về cuối thời kỳ phong kiến, sở hữu ruộ









...nếu phải liên lạc với Long nhé. còn không phải thì...cũng liên lạc nhé