Tìm kiếm Giáo án
kinh tế học quản trị : Lạm phát Thất nghiệp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TU LAM
Người gửi: Huỳnh Mỹ Hạnh
Ngày gửi: 21h:23' 20-07-2023
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 34
Nguồn: TU LAM
Người gửi: Huỳnh Mỹ Hạnh
Ngày gửi: 21h:23' 20-07-2023
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
KINH TẾ HỌC QUẢN TRỊ
CHUYÊN ĐỀ:
LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP
GVHD : TS Nguyễn Văn Ít
NHÓM 3
1.
Phan Thị Mỹ Anh
2.
Dương Hữu Đức
3.
Phan Trần Trung
4.
Nguyễn Thị Tuyết Vân
5.
Huỳnh Thị Mỹ Hạnh (NT)
Chương I. KHÁI NIỆM
1. Lạm phát là gì?
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và
dịch vụ tiêu dùng theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào
đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng
hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy
giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Mức giá chung:
•
Mức giá chung (hay chỉ số giá) là mức giá trung bình của tất cả hàng
hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ gốc.
•
Khi mức giá chung (P) tăng lên thì sức mua của đồng tiền sẽ giảm
xuống.
•
Mức độ lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát
Là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá chung của kỳ này so với kỳ trước.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm (If) được tính theo công thức
If=
Pt - Pt-1
Pt-1
x 100
Trong đó: Pt: chỉ số giá năm t
Pt-1: chỉ số giá năm t-1
Có ba loại chỉ số giá được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát là:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà
một hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc
Chỉ số giá sản xuất (PPI): phản ánh mức giá trung bình của một giỏ hàng hóa mà một doanh
nghiệp mua ở kỳ này so với kỳ gốc.
Chỉ số giảm phát theo GDP (Id): phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình của tất cả hàng
hóa và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành (năm t) so với kỳ gốc
Phân loại lạm phát
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát, có 3 mức độ:
Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%: Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ
tăng chậm, dưới 10%/ năm, đồng tiền tương đối ổn định, nền kinh tế
ổn định
Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%: khi giá cả hàng hóa và dịch
vụ tăng từ 10% đến 999%/ năm. Nếu lạm phát phi mã xảy ra, đặc biệt
ở mức 3 con số một năm, chẳng hạn 300%/ năm 600%/năm, đồng
tiền sẽ mất giá nhanh chóng, thị trường tài chính bất ổn, nền kinh tế
bất ổn.
Siêu lạm phát: trên 1000%: Khi lạm phát trên 1000%/năm trở lên,
đồng tiền mất giá nghiêm trọng, nền kinh tế càng bất ổn, cuộc sống
càng khó khăn, mọi thứ trở nên khan hiếm trừ tiền giấy.
Nguyên nhân lạm phát
Lạm
phát do cầu (còn gọi là lạm phát do cầu kéo):
Xuất phát từ sự gia tăng của tổng cầu, có thể do:
oKhu
3
nguyên
nhân
vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng dự định và đầu tư dự định tăng lên.
oChính
phủ tăng chi tiêu.
1. Lạm phát do cầu
2. Lạm phát do cung
oNgân hàng trung ương tăng lượng cung tiền.
3. Lạm phát theo lý
oNgười nước ngoài tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.
thuyết số lượng tiền tệ
=> Kết quả trong ngắn hạn là cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.
Lạm
phát do cung (còn gọi làm lạm phát do chi phí đẩy): xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân
chính là do chi phí sản xuất của nền kinh tế tăng lên khi:
oTiền
lương tăng lên trong khi năng xuất lao động không đổi
oThuế
tăng, lãi xuất tăng.
oThiên
oGiá
tai, mất mùa, chiến tranh…
các nguyên liệu chính tăng cao….
Chẳng hạn chiến tranh Nga-Ukraine khiến giá dầu mỏ tăng cao trong 2 năm 2022, 2023, đã làm cho chi phí sản xuất
hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia tăng, buộc các doanh nghiệp phải giảm sử dụng lượng dầu và các chế phẩm từ
dầu, do đó năng suất lao động sụt giảm, sản lượng hàng hóa cung ứng giảm.
Nguyên nhân lạm
Lạmphát
phát theo lý thuyết số lượng tiền tệ: những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng tiền cung
thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra, và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó: M: lượng cung tiền danh nghĩa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: chỉ số giá (mức giá trung bình)
Y: sản lượng thực
ÞTheo
công thức : giá cả sẽ phụ thuộc vào lượng tiền phát hành. Khi nguồn cung tiền tăng lên, thì mức giá cũng tăng
theo cùng tỷ lệ, lạm phát xảy ra.
ÞThuyết
ÞTrên
này chỉ đúng khi V và Y không đổi
thực tế, tốc độ tăng trưởng của Y là không ổn định, tốc độc lưu thông của V cũng thay đổi, nên chỉ khi tốc độ
tăng của tổng khối tiền tệ hàng năm (M.V) nhanh hơn tốc độ tăng của Y thì P sẽ tăng lên và lạm phát sẽ xảy ra
Lạm phát dự kiến hay lạm phát kỳ vọng: là tỷ lệ lạm phát dự kiến trong tương lai,
thường lấy căn cứ từ lạm phát đã xảy ra thực tế. Loại lạm phát này được phản ánh trog
các hợp đồng kinh tế.
Lạm phát ngoài dự kiến hay lạm phát ngoài kỳ vọng: là tỷ lệ lạm phát xảy ra ngoài
mức đã dự kiến, nên dạng lạm phát này không được phản ánh trong các hợp đồng kinh
tế.
Tỷ lệ lạm phát thực tế = Tỷ lệ lạm phát dự kiến + Tỷ lệ lạm phát ngoài dự kiến
Có hai trường hợp xảy ra:
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện = tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ gây ra một số tác động xấu:
Chi phí mòn giày: do khi lạm phát cao xảy ra, để tránh thiệt hại, lượng tiền giữ trong dân
sẽ giảm và do đó số lần đi đến ngân hàng sẽ tăng lên, hao tốn công sức và thời gian.
Chi phí thực đơn: khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải bỏ chi phí in ấn thông báo
lại giá mới cho khách hàng
“ Thuế lạm phát”: khi tỷ lệ lạm phát cao xảy ra, thì giá trị lượng tiền giữ trong ví sẽ bị
xói mòn, sức mua sẽ giảm. >> Sinh hoạt hàng ngày sẽ có thay đổi do giá cả biến động.
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện khác tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ gây ra tác động xấu:
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện lớn hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến: sẽ xảy ra phân phối lại tài
sản và thu nhập giữa các thành phần dân cư theo hướng có lợi cho những người đi vay,
người mua chịu hàng hóa, người trả lương (vì lãi suất thấp), gây thiệt hại cho người
cho vay, người bán, người nhận lượng.
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện lớn hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến: sẽ xảy ra phân phối lại tài
sản và thu nhập giữa các thành phần dân cư theo hướng có lợi cho người cho vay,
người bán, người nhận lương, gây bất lợi cho người đi vay, người mua chịu hàng hóa,
người trả lương.
Lạm phát còn làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế: vì giá cả hàng hóa không tăng cùng
tỷ lệ, làm giá tương đối của hàng hóa thay đổi, dẫn đến cơ cấu kinh tế cũng thay đổi
theo.
Khi lạm phát xảy ra sẽ ảnh hưởng đến sản lượng, việc làm và tỷ lệ thất nghiệp:
Lạm phát do cầu: khi tổng cầu tăng lên, đồng thời sản lượng tăng theo, tỷ lệ thất
nghiệp giảm
Lạm phát do cung: khi tổng cung sụt giảm, mức giá chung tăng, sản lượng giảm, tỷ lệ
thất nghiệp tăng.
Lạm
phát trong mức độ kiểm soát sẽ gây ra tác
động có lợi:
Khi tốc độ lạm phát còn trong mức độ lạm phát tự nhiên, tức
là từ dưới 10% sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế,
chẳng hạn như:
Kích thích tiêu dùng, hiện tượng cho vay, đầu tư vốn và giảm
tình trạng thất nghiệp trong xã hội.
Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn công cụ kích thích đầu
tư ở những lĩnh vực chưa phổ biến thông qua việc mở rộng tín
dụng, phân phối lại nguồn thu nhập và đầu tư có chọn lọc về
nguồn nhân lực theo định hướng mục tiêu mà Đảng và Nhà
nước đề ra.
Tình hình lạm phát của Việt Nam 5 năm gần đây
• Lạm phát của Việt Nam hiện tại nhìn chung vẫn đang nằm trong mức kiểm
soát
• Năm 2022 trở về trước lạm phát duy trì ở mức kì vọng do các loại hàng
hóa tiêu thụ dồi dào, tổng cầu không tăng đột biến, và hiệu quả kiểm soát
lạm phát của chính phủ
• Năm 2023 bức tranh lạm phát của Việt Nam đáng để quan tâm do áp lực
cầu kéo và áp lực chi phí đẩy do giá nguyên vật liệu thế giới vẫn ở mức cao,
áp lực tỉ giá hối đoái...
2. Thất nghiệp là
gì?người lao động bị ngừng thu nhập do không có khả năng
- Thất nghiệp là hiện tượng
tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn
sàng làm việc.
- Thất nghiệp là tình trạng (người lao động) không có việc làm và không có thu nhập.
Một người được gọi là thất nghiệp là người có các yếu tố sau:
Là người thuộc lưc lượng lao động, nằm trong độ tuổi sau:
Đối với Nữ: Từ 15 tuổi đến 55 tuổi
Đối với Nam: Từ 15 tuổi đến 60 tuổi
Về khả năng: họ có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc
và sẵn sàng làm việc.
Phân loại thất nghiệp
Dựa theo nguyên nhân, có thể phân loại thành:
Thất nghiệp tạm thời: Thất nghiệp tạm thời bắt nguồn từ sự dịch chuyển bình thường của
thị trường lao động. Một nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế có sự ăn khớp giữa lao
động và việc làm.
Thông tin kết nối giữa người muốn tìm việc và việc làm không phải lúc nào cũng
trùng khớp cũng như sự cơ động về mặt địa lý của người lao động không thể diễn ra ngay lập
tức.
Do đó, cần phải dự tính và coi mức thất nghiệp nhất định là điều hiển nhiên và cần
thiết trong các xã hội hiện đại.
Thất nghiệp cơ cấu: Thất nghiệp cơ cấu phát sinh từ việc không trùng khớp giữa cung và
cầu trên thị trường lao động.
Mặc dù số người đang tìm việc bằng đúng số việc làm còn trống, nhưng người tìm
việc và việc tìm người lại không trùng nhau về kỹ năng, ngành nghề hoặc vị trí địa lý.
Thất nghiệp chu kỳ: chỉ xảy ra khi kinh tế bị suy thoái, sản lượng sụt giảm, thu nhập giảm.
Các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm sản lượng, sa thải công nhân, giảm số
lượng lao động sử dụng, thất nghiệp xảy ra ở mọi ngành kinh tế. Nhưng khi kinh tế phục
hồi, tình trạng này sẽ chấm dứt.
Phân loại thất nghiệp
Dựa theo tính chất, có thể phân loại thành:
Thất nghiệp tự nguyện: là những người thất nghiệp do đòi hỏi mức lương
cao hơn mức lương hiện hành
Thất nghiệp không tự nguyện: là những người muốn làm việc ở mức lương
hiện hành, nhưng không có việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un): là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động
cân bằng. Đây là tỷ lệ thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải chấp
nhận, bao gồm thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu
Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp (U): là phần trăm (%) số người thất nghiệp chia cho tổng số
người trong lực lượng lao động.
Số người thất nghiệp
U=
Lực lượng lao độn
x 100
Mức độ thất nghiệp ở một quốc gia được tính bằng phần trăm lực lượng lao động.
Bằng cách sử dụng một tỷ lệ phần trăm, được gọi là tỷ lệ thất nghiệp, các nhà
phân tích và nhà kinh tế có thể tự động tính toán sự gia tăng dân số tự nhiên, nếu
không sẽ làm sai lệch tỷ lệ thất nghiệp và việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu
phản ánh một cách khái quát về tình hình thất nghiệp của một quốc gia
Tác động của thất nghiệp với nền kinh tế
Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh
doanh doanh, đó là sự lãng phí lao động xã hội - nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội. Thất nghiệp
cũng là nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
Ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động
Người lao động thất nghiệp, có nghĩa là không có việc làm, mất đi nguồn thu nhập. Do đó, chất lượng đời
sống của bản thân người lao động và người thân của họ sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực. Điều đó ảnh
hưởng đến khả năng tự đào tạo lại lao động, bởi có thể do thất nghiệp con cái họ gặp khó khăn trong việc
học tập, chăm sóc sức khỏe, ...
Ảnh hưởng đến trật tự xã hội
Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định, tệ nạn xã hội tăng lên. Bên cạnh đó, sự ủng hộ của
người dân đối với chính phủ cũng suy giảm. Từ đó có thể gây ra những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến
biến động về chính trị.
Tổn thất về sản lượng:
Khi thất nghiệp tăng lên, đồng nghĩa với sự lãng phí tài nguyên, việc sử dụng nhân lực giảm, dẫn đến sản
lượng giảm
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý I năm 2023 của Tổng cục Thống kê (GSO)
công bố ngày 29/3 cho biết, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023
ước tính là 2,25%. Con số này giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và giảm
0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
- Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 ước tính là 2,25%, giảm 0,07 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I năm 2023 là 7,61%, giảm 0,09 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0,32 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 ước tính là 2,25%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2023 là 1,94%, giảm 0,04 điểm phần trăm so
với quý trước và giảm 1,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý I/2023 là 54%,
trong đó khu vực thành thị là 45,7% và trong khu vực nông thôn là 60,8% (quý I năm 2022 tương ứng là
56,2%; 48,1%; 62,9%).
Cũng theo cơ quan thống kê quốc gia, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương
quý I năm 2023 là 7,9 triệu đồng/tháng, tăng 204 nghìn đồng so với quý trước và tăng 578 nghìn đồng
so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 8,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là
7,3 triệu đồng/tháng.
Tình hình thất nghiệp của Việt Nam 5 năm gần đây
• Từ năm 2018 trở về trước tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam ở mức dưới 2%
• Từ 2019 trở đi tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam có khuynh hướng tăng chủ yếu
là do ảnh hưởng của đại dịch đến nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp vẫn đang
trong khó khăn, cắt giảm lao động
Công cụ kiểm soát thất nghiệp:
Công cụ kiểm soát thất nghiệp hiệu quả nhất là giữ
lạm phát ở mức tự nhiên, dưới 10%.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
2.1 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2019
Thất nghiệp năm 2019: Số liệu của Tổng cục Thống kê nêu rõ, số người thất nghiệp
trong độ tuổi lao động quý IV/2019 gần 1,11 triệu người, tăng 0,3 nghìn so với quý III và
giảm 0,9 nghìn người so với cùng kỳ 2018. Tỷ lệ thất nghiệp là 1,98%. Thất nghiệp của
lao động thanh niên trong độ tuổi 15-24 quý IV/2019 ước khoảng 390,6 nghìn người. Tỷ
lệ thất nghiệp của thanh niên là 6,31%, giảm so với quý trước và cùng kỳ. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 8,91%. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và
không tham gia học tập hoặc đào tạo trong quý IV ước 8,4%, giảm so với quý III, tỷ lệ
này ở thành thị thấp hơn nông thôn và ở nữ thanh niên cao hơn nam thanh niên.
2.1 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2019
Lạm phát năm 2019: CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79% so với
năm 2018 và tăng 5,23% so với tháng 12 năm 2018. Lạm phát cơ
bản bình quân năm 2019 tăng 2,01% so với bình quân năm 2018.
Mặt bằng giá thị trường trong năm 2019 biến động theo hướng
tăng cao trong tháng diễn ra Tết Nguyên đán, giảm nhẹ trong
tháng 3, tăng dần trở lại trong hai tháng tiếp theo, sau đó giảm trở
lại vào tháng 6 và tiếp tục tăng vào các tháng cuối năm. Cùng với
diễn biến tăng/giảm giá cả thị trường, CPI các tháng cũng tăng/
Hình 1. Chỉ số giá tiêu dùng năm
2019
giảm theo xu hướng của thị trường. CPI tăng cao nhất vào tháng 2
tăng 0,8%, tháng 11 tăng 0,96%, tháng 12 tăng 1,4%.
2.2 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2020
Thất nghiệp năm 2020:
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị quý IV năm 2020 mặc dù
giảm so với quý III nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kỳ trong 10 năm trở lại đây
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31 điểm phần trăm so với
năm 2019; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2020 là 7,10%. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 3,88%, tăng 0,77 điểm phần trăm. Dù tăng cao hơn
năm trước nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi khu vực thành thị năm 2020 đã không vượt quá
4,0%, đạt muc tiêu như Quốc hội đề ra tại Nghị quyết số 85/2019/QH-14 về Kế hoạch phát triển
kinh tế – xã hội năm 2020. Chỉ tiêu này cùng với chỉ tiêu tăng trưởng GDP và các chỉ tiêu cân
đối vĩ mô khác có thể được xem là bằng chứng quan trọng về thành công của Chính phủ trong nỗ
lực thực hiện mục tiêu kép: vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội.
2.2 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2020
Lạm phát năm 2020:
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2020 tăng 3,23% so với năm 2019 và
tăng 0,19% so với tháng 12 năm 2019. Lạm phát cơ bản bình
quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019.
Mặt bằng giá cả thị trường trong năm 2020 chịu ảnh hưởng chủ
yếu từ các yếu tố cung cầu thay đổi liên tục và phức tạp trước
diễn biến của dịch bệnh Covid-19. Mặt bằng giá có xu hướng
giảm hoặc ổn định ở mức thấp trong các thời điểm cung cầu chịu
tác động tiêu cực của dịch bệnh và hồi phục khi dịch bệnh được
kiểm soát. CPI tăng cao nhất vào tháng 1, tăng 1,23% và giảm
mạnh nhất vào tháng 4, giảm 1,54%.
So sánh CPI bình quân năm
so với năm trước từ năm
2016 đến năm 2020
Đơn vị tính: %
2.3 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2021
Thất nghiệp năm 2021: Số người thất
nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV
năm 2021 là hơn 1,6 triệu người, giảm
113,1 nghìn người so với quý trước và
tăng 369,2 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ
tuổi lao động quý IV năm 2021 là 3,56%,
giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý
trước và tăng 0,93 điểm phần trăm so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi của khu vực thành thị là
5,09%, giảm 0,45 điểm phần trăm so với
quý trước và tăng 1,39 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước.
Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi
lao động, các quý năm 2020 và năm 2021
2.3 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp
năm 2021
Lạm phát năm 2021:
Năm 2021, trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho
sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục tăng nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của Việt Nam
chỉ tăng 1,84% so với năm trước, thấp nhất trong 6 năm qua, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, tiếp tục là năm kiểm
soát lạm phát thành công.
CPI bình quân năm 2021 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Giá xăng dầu trong nước tăng 31,74% so với năm trước (làm CPI chung tăng 1,14 điểm phần trăm), giá gas
tăng 25,89% (làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm);
Giá gạo tăng 5,79% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm) do giá gạo trong nước
tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon tăng trong dịp Lễ, Tết và nhu cầu
tích lũy của người dân trong thời gian giãn cách xã hội;
Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,03% so với năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá
nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm);
Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,87% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm) do ảnh hưởng
từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày
02/10/2015 của Chính phủ.
2.4 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2022
Thất nghiệp năm 2022: Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2022
là gần 1,06 triệu người, giảm 13,9 nghìn người so với quý trước và đặc biệt giảm 658,1
nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III
năm 2022 là 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,70 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2022 là 8,02%, tăng 0,39
điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,87 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,54%, cao hơn 3,84 điểm phần trăm
so với khu vực nông thôn.
Số người và tỷ lệ thất
nghiệp trong độ tuổi
lao động theo quý,
2020-2022
2.4 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2022
Lạm phát năm 2022: Bình quân năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,59% so với năm
2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,15%), điều này phản ánh biến động
giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, xăng, dầu và gas tăng.
Như vậy, trong năm 2022 mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát, tuy nhiên áp lực
lạm phát năm 2023 là rất lớn. Diễn biến giá cả hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu trên thế
giới đang có xu hướng giảm do tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại nhưng rủi ro tăng trở
lại khá cao do xung đột giữa Nga – Ucraina vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó,
sự phục hồi kinh tế Trung Quốc có thể kéo nhu cầu năng lượng gia tăng. Kinh tế Việt Nam
sẽ tiếp tục phục hồi trong năm 2023 do tác động của các gói hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng
cùng với nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng sẽ đẩy giá cả hàng hóa lên cao.
2.5 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2023
Thất nghiệp năm 2023: Tình hình thị trường lao động quý I năm 2023 khá ổn định. Cụ thể,
số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 là khoảng 1,05 triệu người,
giảm 34,6 nghìn người so với quý trước và giảm 65,1 nghìn người so với cùng kỳ năm
trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 là 2,25%, giảm 0,07 điểm
phần trăm so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý I năm 2023 là 7,61%, giảm 0,09 điểm
phần trăm so với quý trước và giảm 0,32 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,46%, cao hơn 2,81 điểm phần trăm so với khu vực
nông thôn.
Số người và tỷ lệ
thất nghiệp trong độ
tuổi lao động theo
quý, 2020-2023
2.5 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2023
Lạm phát năm 2023:
So với tháng 12-2022, CPI tháng 5-2023 tăng 0,4% và so với cùng kỳ năm trước tăng
2,43%.
Bình quân 5 tháng đầu năm 2023, CPI tăng 3,55% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ
bản tăng 4,83%.
Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước giảm theo giá thế giới làm cho chỉ số giá
nhóm giao thông so với cùng kỳ năm trước liên tục giảm, từ mức giảm 0,18% trong tháng
2-2023 đã giảm mạnh 8,94% trong tháng 5-2023. Tính chung bình quân 5 tháng đầu năm
2023, CPI tăng 3,55% so với cùng kỳ năm 2022.
Theo đó, các yếu tố làm tăng CPI trong 5 tháng đầu năm 2023 gồm: Chỉ số giá nhóm giáo
dục bình quân 5 tháng đầu năm 2023 tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước do một số địa
phương đã tăng học phí trở lại từ tháng 9-2022 sau khi đã miễn, giảm học phí trong năm
học 2021-2022 để chia sẻ khó khăn với người dân trong đại dịch, tác động làm CPI tăng
0,52 điểm phần trăm.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Trong các chỉ số kinh tế vĩ mô, tỷ lệ thất nghiệp thường được
theo dõi chặt chẽ cùng với tỷ lệ lạm phát. Theo quan điểm tân
cổ điển, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều
yếu tố của thị trường lao động, ví dụ như tính linh hoạt của
lương, mức lương tối thiểu, ma sát của thị trường, hay hiệu quả
của quá trình tìm việc. Còn tỷ lệ lạm phát trong dài hạn phụ
thuộc vào mức gia tăng cung tiền. Trong dài hạn, thất nghiệp
và lạm phát không có quan hệ chặt chẽ với nhau.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát là tỷ lệ nghịch: khi lạm
phát cao, thất nghiệp là thấp, và ngược lại.Trong ngắn hạn, khi chính sách mở rộng
tài khóa và tiền tệ được tiến hành, tổng cầu gia tăng, nhiều sản lượng được sản xuất
hơn, có nhiều người có việc làm hơn, tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn giảm xuống,
nhưng đồng thời mức giá chung của nền kinh tế tăng lên. Mối quan hệ này trong
ngắn hạn được thể hiện trên đường cong Phillips ngắn hạn.
Quá trình nền kinh tế đi từ ngắn hạn lên dài hạn dựa vào thay đổi trong kỳ vọng về
lạm phát. Khi người lao động và nhà tuyển dụng kỳ vọng rằng lạm phát gia tăng, họ
sẽ cam kết một mức lương cao hơn khi thỏa thuận hợp đồng lao động. Nhà tuyển
dụng sẽ sẵn lòng trả mức lương này hơn nếu họ cũng kỳ vọng rằng giá tăng sẽ tăng
doanh thu và mở rộng sản xuất. Vì vậy, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng tăng sẽ làm dịch
chuyển đường Phillips ngắn hạn lên phía trên
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Đường Phillips ngắn hạn thể hiện sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
đối với các nhà làm chính sách. Theo quan điểm này, các nhà làm chính sách có hai
lựa chọn: họ có thể chọn lạm phát cao để nhằm giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp, hoặc chấp
nhận thất nghiệp cao để giữ lạm phát ở mức kiểm soát. Trong dài hạn, lựa chọn này
không còn nữa. Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ được điều chỉnh gần với thực tế. Các nhà
làm chính sách sẽ không còn lựa chọn là giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp kể cả là ở mức
lạm phát cao.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Giả sử xuất phát từ đường Phillips ngắn hạn SRPC0. Tại đây, tỷ lệ thất nghiệp là
6% và mức lạm phát là kỳ vọng cũng như thực tế là 0%. Giả sử các nhà làm chính
sách muốn giữ cho tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống chỉ ở mức 4%. Nền kinh tế mở
rộng sản xuất, thêm nhiều người có việc làm, nhưng ở mức giá cao hơn và lạm phát
cao hơn, chuyển dịch sang điểm A. Theo thời gian, người dân thay đổi kỳ vọng lạm
phát từ 0% lên 2%. Sự thay đổi kỳ vọng này dịch chuyển đường Phillips ngắn hạn
lên SRPC2. Khi đó, nếu tỷ lệ thất nghiệp là 6%, lạm phát thực tế sẽ là 2%. Với
đường Phillips ngắn hạn này, nếu các nhà làm chính sách tiếp tục muốn giữ tỷ lệ thất
nghiệp ở mức 4% thì theo cơ chế như trên, lạm phát thực tế sẽ tăng lên 4%, nền kinh
tế chuyển sang điểm B. Theo thời gian, người dân tiếp tục điều chỉnh kỳ vọng lạm
phát từ 2% lên 4%, dịch chuyển đường Phillips lên SRPC4. Nói ngắn gọn, nếu
chính sách là giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (4%) thì sẽ phải đánh đổi với mức
tăng lạm phát theo thời gian.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Để tránh tăng lạm phát, nhà nước phải chấp nhận một mức thất nghiệp đủ cao để
lạm phát kỳ vọng bằng với lạm phát thực tế. Trong trường hợp này, khi nền kinh tế
ở SRPC0, lạm phát kỳ vọng và thực tế cùng bằng 0 khi tỷ lệ thất nghiệp là 6%. Khi
nền kinh tế ở SRPC2, lạm phát kỳ vọng và thực tế cùng bằng 2% khi tỷ lệ thất
nghiệp cũng bằng 6%. Chúng ta gọi 6% này là tỷ lệ thất nghiệp không gia tăng lạm
phát (non- accelerating inflation rate of unemployment, NAIRU). Bất cứ chính sách
nào làm tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống dưới mức này đều dẫn đến hệ quả là gia tăng
lạm phát trong ngắn hạn.
Kết luận: lạm phát và thất nghiệp có tỉ lệ ngược với nhau trong ngắn hạn. Như vậy, một
quốc gia có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp nếu sẵn sàng chấp nhận tăng tỷ lệ lạm phát hoặc
ngược lại. Tỷ lệ thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát (non- accelerating inflation rate
of unemployment, NAIRU) chỉ là mục tiêu phấn đấu.
Trong dài hạn, không có sự đánh đổi giữa tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát. Bởi lúc này,
đường Phillips sẽ là đường thẳng đứng cắt trục hoành tại điểm thất nghiệp tự nhiên. Điều
này có nghĩa là nền kinh tế sẽ quay trở lại tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên dù lạm phát là bao
nhiêu. Bên cạnh đó, lạm phát luôn có xu hướng tăng lên trong thời gian dài hạn. Với sự
thay đổi của dòng tiền, cung – cầu lao động trên thị trường sẽ trở về vị trí cân bằng. Điều
này nghĩa là mức sản lượng cung ứng trên thị trường sẽ bằng mức sản lượng tiềm năng.
Một số công cụ nhà nước để kiểm soát lạm phát:
Giảm bớt lượng tiền giấy trong lưu thông để hạn chế lượng tiền nhàn rỗi
Phát hành trái phiếu
Giảm bớt sức ép lên giá cả của hàng hoá, dịch vụ,...
Tăng lãi suất tiền gửi
Thi hành chính sách tài chính chặt chẽ
Giảm các khoản chưa cần thiết
Cân đối ngân sách Nhà nước
Tăng các khoản quỹ hàng hoá và cân đối lượng tiền tệ trong lưu thông
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP NHÀ NƯỚC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành văn bản số 225/TB-VPCP ngày 15/6/2023 thông
báo kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về những nhiệm vụ, giải pháp
lớn ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân
đối lớn của nền kinh tế trong tình hình hiện nay.
Tại Thông báo, Thường trực Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương quán triệt mục tiêu tập trung ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội; phát
huy hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ, cơ quan, địa phương, nhất là
người đứng đầu trong việc chỉ đạo, giải quyết kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cấp
bách trước mắt; đồng thời triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong trung, dài hạn để thúc đẩy
phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu
quả; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm,
trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; cân bằng
hợp lý giữa lạm phát và tăng trưởng, giữa lãi suất và tỷ giá.
2. Rà soát các cơ chế, chính sách hiện hành để có giải pháp, biện pháp thúc đẩy các
động lực tăng trưởng cả phía cung và phía cầu, trong đó:
a) Về tiêu dùng: có giải pháp hiệu quả thúc đẩy tiêu dùng và kích cầu thị trường trong
nước; nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa trong nước;
khẩn trương ban hành Nghị định của Chính phủ về việc giảm 50% mức thu lệ phí trước
bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; triển khai kịp thời việc giảm 2% thuế giá trị
gia tăng sau khi Quốc hội thông qua.
b) Về đầu tư: tiếp tục đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, phát huy hiệu quả 05
Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh giải
ngân vốn đầu tư công; có giải pháp khả thi, hiệu quả để xử lý kịp thời các khó
khăn, vướng mắc trong giải ngân đầu tư công; tập trung đầu tư phát triển hạ
tầng, nhất là giao thông, năng lượng, chuyển đổi số; tạo thuận lợi cho hợp tác
công tư, đầu tư tư nhân và FDI (nhất là các dự án FDI trong lĩnh vực năng
lượng tái tạo), xử lý, giải quyết hiệu quả các vướng mắc, khó khăn của doanh
nghiệp, trong đó có vướng mắc về đất đai, giải phóng nguồn lực, tăng cường
thu hút đầu tư; khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án đường cao tốc,
một số sân bay theo hình thức hợp tác công
c) Về xuất khẩu: tăng cường hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, giữ
vững, củng cố các thị trường truyền thống, thực hiện hiệu quả các FTA đã ký
kết; tiếp tục mở rộng các thị trường mới (Trung Đông, Châu Phi…), đẩy mạnh
đàm phán, ký kết các Hiệp định, cam kết, liên kết thương mại mới; có giải
pháp hiệu quả nâng cao chất lượng hàng xuất ...
CHUYÊN ĐỀ:
LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP
GVHD : TS Nguyễn Văn Ít
NHÓM 3
1.
Phan Thị Mỹ Anh
2.
Dương Hữu Đức
3.
Phan Trần Trung
4.
Nguyễn Thị Tuyết Vân
5.
Huỳnh Thị Mỹ Hạnh (NT)
Chương I. KHÁI NIỆM
1. Lạm phát là gì?
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và
dịch vụ tiêu dùng theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào
đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng
hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy
giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Mức giá chung:
•
Mức giá chung (hay chỉ số giá) là mức giá trung bình của tất cả hàng
hóa và dịch vụ trong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ gốc.
•
Khi mức giá chung (P) tăng lên thì sức mua của đồng tiền sẽ giảm
xuống.
•
Mức độ lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát
Tỷ lệ lạm phát
Là tỷ lệ phần trăm gia tăng trong mức giá chung của kỳ này so với kỳ trước.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm (If) được tính theo công thức
If=
Pt - Pt-1
Pt-1
x 100
Trong đó: Pt: chỉ số giá năm t
Pt-1: chỉ số giá năm t-1
Có ba loại chỉ số giá được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát là:
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà
một hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc
Chỉ số giá sản xuất (PPI): phản ánh mức giá trung bình của một giỏ hàng hóa mà một doanh
nghiệp mua ở kỳ này so với kỳ gốc.
Chỉ số giảm phát theo GDP (Id): phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình của tất cả hàng
hóa và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành (năm t) so với kỳ gốc
Phân loại lạm phát
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát, có 3 mức độ:
Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%: Khi giá cả hàng hóa và dịch vụ
tăng chậm, dưới 10%/ năm, đồng tiền tương đối ổn định, nền kinh tế
ổn định
Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%: khi giá cả hàng hóa và dịch
vụ tăng từ 10% đến 999%/ năm. Nếu lạm phát phi mã xảy ra, đặc biệt
ở mức 3 con số một năm, chẳng hạn 300%/ năm 600%/năm, đồng
tiền sẽ mất giá nhanh chóng, thị trường tài chính bất ổn, nền kinh tế
bất ổn.
Siêu lạm phát: trên 1000%: Khi lạm phát trên 1000%/năm trở lên,
đồng tiền mất giá nghiêm trọng, nền kinh tế càng bất ổn, cuộc sống
càng khó khăn, mọi thứ trở nên khan hiếm trừ tiền giấy.
Nguyên nhân lạm phát
Lạm
phát do cầu (còn gọi là lạm phát do cầu kéo):
Xuất phát từ sự gia tăng của tổng cầu, có thể do:
oKhu
3
nguyên
nhân
vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng dự định và đầu tư dự định tăng lên.
oChính
phủ tăng chi tiêu.
1. Lạm phát do cầu
2. Lạm phát do cung
oNgân hàng trung ương tăng lượng cung tiền.
3. Lạm phát theo lý
oNgười nước ngoài tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.
thuyết số lượng tiền tệ
=> Kết quả trong ngắn hạn là cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.
Lạm
phát do cung (còn gọi làm lạm phát do chi phí đẩy): xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân
chính là do chi phí sản xuất của nền kinh tế tăng lên khi:
oTiền
lương tăng lên trong khi năng xuất lao động không đổi
oThuế
tăng, lãi xuất tăng.
oThiên
oGiá
tai, mất mùa, chiến tranh…
các nguyên liệu chính tăng cao….
Chẳng hạn chiến tranh Nga-Ukraine khiến giá dầu mỏ tăng cao trong 2 năm 2022, 2023, đã làm cho chi phí sản xuất
hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia tăng, buộc các doanh nghiệp phải giảm sử dụng lượng dầu và các chế phẩm từ
dầu, do đó năng suất lao động sụt giảm, sản lượng hàng hóa cung ứng giảm.
Nguyên nhân lạm
Lạmphát
phát theo lý thuyết số lượng tiền tệ: những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng tiền cung
thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra, và được giải thích bằng phương trình số lượng sau:
M.V = P.Y
Trong đó: M: lượng cung tiền danh nghĩa
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: chỉ số giá (mức giá trung bình)
Y: sản lượng thực
ÞTheo
công thức : giá cả sẽ phụ thuộc vào lượng tiền phát hành. Khi nguồn cung tiền tăng lên, thì mức giá cũng tăng
theo cùng tỷ lệ, lạm phát xảy ra.
ÞThuyết
ÞTrên
này chỉ đúng khi V và Y không đổi
thực tế, tốc độ tăng trưởng của Y là không ổn định, tốc độc lưu thông của V cũng thay đổi, nên chỉ khi tốc độ
tăng của tổng khối tiền tệ hàng năm (M.V) nhanh hơn tốc độ tăng của Y thì P sẽ tăng lên và lạm phát sẽ xảy ra
Lạm phát dự kiến hay lạm phát kỳ vọng: là tỷ lệ lạm phát dự kiến trong tương lai,
thường lấy căn cứ từ lạm phát đã xảy ra thực tế. Loại lạm phát này được phản ánh trog
các hợp đồng kinh tế.
Lạm phát ngoài dự kiến hay lạm phát ngoài kỳ vọng: là tỷ lệ lạm phát xảy ra ngoài
mức đã dự kiến, nên dạng lạm phát này không được phản ánh trong các hợp đồng kinh
tế.
Tỷ lệ lạm phát thực tế = Tỷ lệ lạm phát dự kiến + Tỷ lệ lạm phát ngoài dự kiến
Có hai trường hợp xảy ra:
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện = tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ gây ra một số tác động xấu:
Chi phí mòn giày: do khi lạm phát cao xảy ra, để tránh thiệt hại, lượng tiền giữ trong dân
sẽ giảm và do đó số lần đi đến ngân hàng sẽ tăng lên, hao tốn công sức và thời gian.
Chi phí thực đơn: khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải bỏ chi phí in ấn thông báo
lại giá mới cho khách hàng
“ Thuế lạm phát”: khi tỷ lệ lạm phát cao xảy ra, thì giá trị lượng tiền giữ trong ví sẽ bị
xói mòn, sức mua sẽ giảm. >> Sinh hoạt hàng ngày sẽ có thay đổi do giá cả biến động.
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện khác tỷ lệ lạm phát dự kiến sẽ gây ra tác động xấu:
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện lớn hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến: sẽ xảy ra phân phối lại tài
sản và thu nhập giữa các thành phần dân cư theo hướng có lợi cho những người đi vay,
người mua chịu hàng hóa, người trả lương (vì lãi suất thấp), gây thiệt hại cho người
cho vay, người bán, người nhận lượng.
Nếu tỷ lệ lạm phát thực hiện lớn hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến: sẽ xảy ra phân phối lại tài
sản và thu nhập giữa các thành phần dân cư theo hướng có lợi cho người cho vay,
người bán, người nhận lương, gây bất lợi cho người đi vay, người mua chịu hàng hóa,
người trả lương.
Lạm phát còn làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế: vì giá cả hàng hóa không tăng cùng
tỷ lệ, làm giá tương đối của hàng hóa thay đổi, dẫn đến cơ cấu kinh tế cũng thay đổi
theo.
Khi lạm phát xảy ra sẽ ảnh hưởng đến sản lượng, việc làm và tỷ lệ thất nghiệp:
Lạm phát do cầu: khi tổng cầu tăng lên, đồng thời sản lượng tăng theo, tỷ lệ thất
nghiệp giảm
Lạm phát do cung: khi tổng cung sụt giảm, mức giá chung tăng, sản lượng giảm, tỷ lệ
thất nghiệp tăng.
Lạm
phát trong mức độ kiểm soát sẽ gây ra tác
động có lợi:
Khi tốc độ lạm phát còn trong mức độ lạm phát tự nhiên, tức
là từ dưới 10% sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế,
chẳng hạn như:
Kích thích tiêu dùng, hiện tượng cho vay, đầu tư vốn và giảm
tình trạng thất nghiệp trong xã hội.
Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn công cụ kích thích đầu
tư ở những lĩnh vực chưa phổ biến thông qua việc mở rộng tín
dụng, phân phối lại nguồn thu nhập và đầu tư có chọn lọc về
nguồn nhân lực theo định hướng mục tiêu mà Đảng và Nhà
nước đề ra.
Tình hình lạm phát của Việt Nam 5 năm gần đây
• Lạm phát của Việt Nam hiện tại nhìn chung vẫn đang nằm trong mức kiểm
soát
• Năm 2022 trở về trước lạm phát duy trì ở mức kì vọng do các loại hàng
hóa tiêu thụ dồi dào, tổng cầu không tăng đột biến, và hiệu quả kiểm soát
lạm phát của chính phủ
• Năm 2023 bức tranh lạm phát của Việt Nam đáng để quan tâm do áp lực
cầu kéo và áp lực chi phí đẩy do giá nguyên vật liệu thế giới vẫn ở mức cao,
áp lực tỉ giá hối đoái...
2. Thất nghiệp là
gì?người lao động bị ngừng thu nhập do không có khả năng
- Thất nghiệp là hiện tượng
tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn
sàng làm việc.
- Thất nghiệp là tình trạng (người lao động) không có việc làm và không có thu nhập.
Một người được gọi là thất nghiệp là người có các yếu tố sau:
Là người thuộc lưc lượng lao động, nằm trong độ tuổi sau:
Đối với Nữ: Từ 15 tuổi đến 55 tuổi
Đối với Nam: Từ 15 tuổi đến 60 tuổi
Về khả năng: họ có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc
và sẵn sàng làm việc.
Phân loại thất nghiệp
Dựa theo nguyên nhân, có thể phân loại thành:
Thất nghiệp tạm thời: Thất nghiệp tạm thời bắt nguồn từ sự dịch chuyển bình thường của
thị trường lao động. Một nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế có sự ăn khớp giữa lao
động và việc làm.
Thông tin kết nối giữa người muốn tìm việc và việc làm không phải lúc nào cũng
trùng khớp cũng như sự cơ động về mặt địa lý của người lao động không thể diễn ra ngay lập
tức.
Do đó, cần phải dự tính và coi mức thất nghiệp nhất định là điều hiển nhiên và cần
thiết trong các xã hội hiện đại.
Thất nghiệp cơ cấu: Thất nghiệp cơ cấu phát sinh từ việc không trùng khớp giữa cung và
cầu trên thị trường lao động.
Mặc dù số người đang tìm việc bằng đúng số việc làm còn trống, nhưng người tìm
việc và việc tìm người lại không trùng nhau về kỹ năng, ngành nghề hoặc vị trí địa lý.
Thất nghiệp chu kỳ: chỉ xảy ra khi kinh tế bị suy thoái, sản lượng sụt giảm, thu nhập giảm.
Các doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm sản lượng, sa thải công nhân, giảm số
lượng lao động sử dụng, thất nghiệp xảy ra ở mọi ngành kinh tế. Nhưng khi kinh tế phục
hồi, tình trạng này sẽ chấm dứt.
Phân loại thất nghiệp
Dựa theo tính chất, có thể phân loại thành:
Thất nghiệp tự nguyện: là những người thất nghiệp do đòi hỏi mức lương
cao hơn mức lương hiện hành
Thất nghiệp không tự nguyện: là những người muốn làm việc ở mức lương
hiện hành, nhưng không có việc làm.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (Un): là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động
cân bằng. Đây là tỷ lệ thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải chấp
nhận, bao gồm thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu
Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp (U): là phần trăm (%) số người thất nghiệp chia cho tổng số
người trong lực lượng lao động.
Số người thất nghiệp
U=
Lực lượng lao độn
x 100
Mức độ thất nghiệp ở một quốc gia được tính bằng phần trăm lực lượng lao động.
Bằng cách sử dụng một tỷ lệ phần trăm, được gọi là tỷ lệ thất nghiệp, các nhà
phân tích và nhà kinh tế có thể tự động tính toán sự gia tăng dân số tự nhiên, nếu
không sẽ làm sai lệch tỷ lệ thất nghiệp và việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu
phản ánh một cách khái quát về tình hình thất nghiệp của một quốc gia
Tác động của thất nghiệp với nền kinh tế
Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh
doanh doanh, đó là sự lãng phí lao động xã hội - nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội. Thất nghiệp
cũng là nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
Ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động
Người lao động thất nghiệp, có nghĩa là không có việc làm, mất đi nguồn thu nhập. Do đó, chất lượng đời
sống của bản thân người lao động và người thân của họ sẽ bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực. Điều đó ảnh
hưởng đến khả năng tự đào tạo lại lao động, bởi có thể do thất nghiệp con cái họ gặp khó khăn trong việc
học tập, chăm sóc sức khỏe, ...
Ảnh hưởng đến trật tự xã hội
Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định, tệ nạn xã hội tăng lên. Bên cạnh đó, sự ủng hộ của
người dân đối với chính phủ cũng suy giảm. Từ đó có thể gây ra những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến
biến động về chính trị.
Tổn thất về sản lượng:
Khi thất nghiệp tăng lên, đồng nghĩa với sự lãng phí tài nguyên, việc sử dụng nhân lực giảm, dẫn đến sản
lượng giảm
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý I năm 2023 của Tổng cục Thống kê (GSO)
công bố ngày 29/3 cho biết, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023
ước tính là 2,25%. Con số này giảm 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và giảm
0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
- Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 ước tính là 2,25%, giảm 0,07 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I năm 2023 là 7,61%, giảm 0,09 điểm phần trăm
so với quý trước và giảm 0,32 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 ước tính là 2,25%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2023 là 1,94%, giảm 0,04 điểm phần trăm so
với quý trước và giảm 1,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý I/2023 là 54%,
trong đó khu vực thành thị là 45,7% và trong khu vực nông thôn là 60,8% (quý I năm 2022 tương ứng là
56,2%; 48,1%; 62,9%).
Cũng theo cơ quan thống kê quốc gia, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương
quý I năm 2023 là 7,9 triệu đồng/tháng, tăng 204 nghìn đồng so với quý trước và tăng 578 nghìn đồng
so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 8,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là
7,3 triệu đồng/tháng.
Tình hình thất nghiệp của Việt Nam 5 năm gần đây
• Từ năm 2018 trở về trước tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam ở mức dưới 2%
• Từ 2019 trở đi tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam có khuynh hướng tăng chủ yếu
là do ảnh hưởng của đại dịch đến nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp vẫn đang
trong khó khăn, cắt giảm lao động
Công cụ kiểm soát thất nghiệp:
Công cụ kiểm soát thất nghiệp hiệu quả nhất là giữ
lạm phát ở mức tự nhiên, dưới 10%.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
2.1 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2019
Thất nghiệp năm 2019: Số liệu của Tổng cục Thống kê nêu rõ, số người thất nghiệp
trong độ tuổi lao động quý IV/2019 gần 1,11 triệu người, tăng 0,3 nghìn so với quý III và
giảm 0,9 nghìn người so với cùng kỳ 2018. Tỷ lệ thất nghiệp là 1,98%. Thất nghiệp của
lao động thanh niên trong độ tuổi 15-24 quý IV/2019 ước khoảng 390,6 nghìn người. Tỷ
lệ thất nghiệp của thanh niên là 6,31%, giảm so với quý trước và cùng kỳ. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 8,91%. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và
không tham gia học tập hoặc đào tạo trong quý IV ước 8,4%, giảm so với quý III, tỷ lệ
này ở thành thị thấp hơn nông thôn và ở nữ thanh niên cao hơn nam thanh niên.
2.1 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2019
Lạm phát năm 2019: CPI bình quân năm 2019 tăng 2,79% so với
năm 2018 và tăng 5,23% so với tháng 12 năm 2018. Lạm phát cơ
bản bình quân năm 2019 tăng 2,01% so với bình quân năm 2018.
Mặt bằng giá thị trường trong năm 2019 biến động theo hướng
tăng cao trong tháng diễn ra Tết Nguyên đán, giảm nhẹ trong
tháng 3, tăng dần trở lại trong hai tháng tiếp theo, sau đó giảm trở
lại vào tháng 6 và tiếp tục tăng vào các tháng cuối năm. Cùng với
diễn biến tăng/giảm giá cả thị trường, CPI các tháng cũng tăng/
Hình 1. Chỉ số giá tiêu dùng năm
2019
giảm theo xu hướng của thị trường. CPI tăng cao nhất vào tháng 2
tăng 0,8%, tháng 11 tăng 0,96%, tháng 12 tăng 1,4%.
2.2 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2020
Thất nghiệp năm 2020:
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị quý IV năm 2020 mặc dù
giảm so với quý III nhưng vẫn ở mức cao nhất so với cùng kỳ trong 10 năm trở lại đây
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31 điểm phần trăm so với
năm 2019; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2020 là 7,10%. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 3,88%, tăng 0,77 điểm phần trăm. Dù tăng cao hơn
năm trước nhưng tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi khu vực thành thị năm 2020 đã không vượt quá
4,0%, đạt muc tiêu như Quốc hội đề ra tại Nghị quyết số 85/2019/QH-14 về Kế hoạch phát triển
kinh tế – xã hội năm 2020. Chỉ tiêu này cùng với chỉ tiêu tăng trưởng GDP và các chỉ tiêu cân
đối vĩ mô khác có thể được xem là bằng chứng quan trọng về thành công của Chính phủ trong nỗ
lực thực hiện mục tiêu kép: vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội.
2.2 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2020
Lạm phát năm 2020:
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2020 tăng 3,23% so với năm 2019 và
tăng 0,19% so với tháng 12 năm 2019. Lạm phát cơ bản bình
quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019.
Mặt bằng giá cả thị trường trong năm 2020 chịu ảnh hưởng chủ
yếu từ các yếu tố cung cầu thay đổi liên tục và phức tạp trước
diễn biến của dịch bệnh Covid-19. Mặt bằng giá có xu hướng
giảm hoặc ổn định ở mức thấp trong các thời điểm cung cầu chịu
tác động tiêu cực của dịch bệnh và hồi phục khi dịch bệnh được
kiểm soát. CPI tăng cao nhất vào tháng 1, tăng 1,23% và giảm
mạnh nhất vào tháng 4, giảm 1,54%.
So sánh CPI bình quân năm
so với năm trước từ năm
2016 đến năm 2020
Đơn vị tính: %
2.3 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2021
Thất nghiệp năm 2021: Số người thất
nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV
năm 2021 là hơn 1,6 triệu người, giảm
113,1 nghìn người so với quý trước và
tăng 369,2 nghìn người so với cùng kỳ
năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ
tuổi lao động quý IV năm 2021 là 3,56%,
giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý
trước và tăng 0,93 điểm phần trăm so với
cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi của khu vực thành thị là
5,09%, giảm 0,45 điểm phần trăm so với
quý trước và tăng 1,39 điểm phần trăm so
với cùng kỳ năm trước.
Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi
lao động, các quý năm 2020 và năm 2021
2.3 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp
năm 2021
Lạm phát năm 2021:
Năm 2021, trong bối cảnh áp lực lạm phát toàn cầu ngày càng tăng cao, giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho
sản xuất, giá cước vận chuyển liên tục tăng nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của Việt Nam
chỉ tăng 1,84% so với năm trước, thấp nhất trong 6 năm qua, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra, tiếp tục là năm kiểm
soát lạm phát thành công.
CPI bình quân năm 2021 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Giá xăng dầu trong nước tăng 31,74% so với năm trước (làm CPI chung tăng 1,14 điểm phần trăm), giá gas
tăng 25,89% (làm CPI chung tăng 0,38 điểm phần trăm);
Giá gạo tăng 5,79% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm) do giá gạo trong nước
tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon tăng trong dịp Lễ, Tết và nhu cầu
tích lũy của người dân trong thời gian giãn cách xã hội;
Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 7,03% so với năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá
nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm);
Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,87% so với năm trước (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm) do ảnh hưởng
từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày
02/10/2015 của Chính phủ.
2.4 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2022
Thất nghiệp năm 2022: Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2022
là gần 1,06 triệu người, giảm 13,9 nghìn người so với quý trước và đặc biệt giảm 658,1
nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III
năm 2022 là 2,28%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,70 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2022 là 8,02%, tăng 0,39
điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,87 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,54%, cao hơn 3,84 điểm phần trăm
so với khu vực nông thôn.
Số người và tỷ lệ thất
nghiệp trong độ tuổi
lao động theo quý,
2020-2022
2.4 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2022
Lạm phát năm 2022: Bình quân năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,59% so với năm
2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 3,15%), điều này phản ánh biến động
giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, xăng, dầu và gas tăng.
Như vậy, trong năm 2022 mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát, tuy nhiên áp lực
lạm phát năm 2023 là rất lớn. Diễn biến giá cả hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu trên thế
giới đang có xu hướng giảm do tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại nhưng rủi ro tăng trở
lại khá cao do xung đột giữa Nga – Ucraina vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó,
sự phục hồi kinh tế Trung Quốc có thể kéo nhu cầu năng lượng gia tăng. Kinh tế Việt Nam
sẽ tiếp tục phục hồi trong năm 2023 do tác động của các gói hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng
cùng với nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng sẽ đẩy giá cả hàng hóa lên cao.
2.5 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2023
Thất nghiệp năm 2023: Tình hình thị trường lao động quý I năm 2023 khá ổn định. Cụ thể,
số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 là khoảng 1,05 triệu người,
giảm 34,6 nghìn người so với quý trước và giảm 65,1 nghìn người so với cùng kỳ năm
trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2023 là 2,25%, giảm 0,07 điểm
phần trăm so với quý trước và giảm 0,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý I năm 2023 là 7,61%, giảm 0,09 điểm
phần trăm so với quý trước và giảm 0,32 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất
nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,46%, cao hơn 2,81 điểm phần trăm so với khu vực
nông thôn.
Số người và tỷ lệ
thất nghiệp trong độ
tuổi lao động theo
quý, 2020-2023
2.5 Thực trạng lạm phát và thất nghiệp năm 2023
Lạm phát năm 2023:
So với tháng 12-2022, CPI tháng 5-2023 tăng 0,4% và so với cùng kỳ năm trước tăng
2,43%.
Bình quân 5 tháng đầu năm 2023, CPI tăng 3,55% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ
bản tăng 4,83%.
Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước giảm theo giá thế giới làm cho chỉ số giá
nhóm giao thông so với cùng kỳ năm trước liên tục giảm, từ mức giảm 0,18% trong tháng
2-2023 đã giảm mạnh 8,94% trong tháng 5-2023. Tính chung bình quân 5 tháng đầu năm
2023, CPI tăng 3,55% so với cùng kỳ năm 2022.
Theo đó, các yếu tố làm tăng CPI trong 5 tháng đầu năm 2023 gồm: Chỉ số giá nhóm giáo
dục bình quân 5 tháng đầu năm 2023 tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước do một số địa
phương đã tăng học phí trở lại từ tháng 9-2022 sau khi đã miễn, giảm học phí trong năm
học 2021-2022 để chia sẻ khó khăn với người dân trong đại dịch, tác động làm CPI tăng
0,52 điểm phần trăm.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Trong các chỉ số kinh tế vĩ mô, tỷ lệ thất nghiệp thường được
theo dõi chặt chẽ cùng với tỷ lệ lạm phát. Theo quan điểm tân
cổ điển, trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều
yếu tố của thị trường lao động, ví dụ như tính linh hoạt của
lương, mức lương tối thiểu, ma sát của thị trường, hay hiệu quả
của quá trình tìm việc. Còn tỷ lệ lạm phát trong dài hạn phụ
thuộc vào mức gia tăng cung tiền. Trong dài hạn, thất nghiệp
và lạm phát không có quan hệ chặt chẽ với nhau.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát là tỷ lệ nghịch: khi lạm
phát cao, thất nghiệp là thấp, và ngược lại.Trong ngắn hạn, khi chính sách mở rộng
tài khóa và tiền tệ được tiến hành, tổng cầu gia tăng, nhiều sản lượng được sản xuất
hơn, có nhiều người có việc làm hơn, tỷ lệ thất nghiệp trong ngắn hạn giảm xuống,
nhưng đồng thời mức giá chung của nền kinh tế tăng lên. Mối quan hệ này trong
ngắn hạn được thể hiện trên đường cong Phillips ngắn hạn.
Quá trình nền kinh tế đi từ ngắn hạn lên dài hạn dựa vào thay đổi trong kỳ vọng về
lạm phát. Khi người lao động và nhà tuyển dụng kỳ vọng rằng lạm phát gia tăng, họ
sẽ cam kết một mức lương cao hơn khi thỏa thuận hợp đồng lao động. Nhà tuyển
dụng sẽ sẵn lòng trả mức lương này hơn nếu họ cũng kỳ vọng rằng giá tăng sẽ tăng
doanh thu và mở rộng sản xuất. Vì vậy, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng tăng sẽ làm dịch
chuyển đường Phillips ngắn hạn lên phía trên
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Đường Phillips ngắn hạn thể hiện sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
đối với các nhà làm chính sách. Theo quan điểm này, các nhà làm chính sách có hai
lựa chọn: họ có thể chọn lạm phát cao để nhằm giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp, hoặc chấp
nhận thất nghiệp cao để giữ lạm phát ở mức kiểm soát. Trong dài hạn, lựa chọn này
không còn nữa. Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ được điều chỉnh gần với thực tế. Các nhà
làm chính sách sẽ không còn lựa chọn là giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp kể cả là ở mức
lạm phát cao.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Giả sử xuất phát từ đường Phillips ngắn hạn SRPC0. Tại đây, tỷ lệ thất nghiệp là
6% và mức lạm phát là kỳ vọng cũng như thực tế là 0%. Giả sử các nhà làm chính
sách muốn giữ cho tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống chỉ ở mức 4%. Nền kinh tế mở
rộng sản xuất, thêm nhiều người có việc làm, nhưng ở mức giá cao hơn và lạm phát
cao hơn, chuyển dịch sang điểm A. Theo thời gian, người dân thay đổi kỳ vọng lạm
phát từ 0% lên 2%. Sự thay đổi kỳ vọng này dịch chuyển đường Phillips ngắn hạn
lên SRPC2. Khi đó, nếu tỷ lệ thất nghiệp là 6%, lạm phát thực tế sẽ là 2%. Với
đường Phillips ngắn hạn này, nếu các nhà làm chính sách tiếp tục muốn giữ tỷ lệ thất
nghiệp ở mức 4% thì theo cơ chế như trên, lạm phát thực tế sẽ tăng lên 4%, nền kinh
tế chuyển sang điểm B. Theo thời gian, người dân tiếp tục điều chỉnh kỳ vọng lạm
phát từ 2% lên 4%, dịch chuyển đường Phillips lên SRPC4. Nói ngắn gọn, nếu
chính sách là giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (4%) thì sẽ phải đánh đổi với mức
tăng lạm phát theo thời gian.
CHƯƠNG III: QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP TẠI VIỆT
NAM
Để tránh tăng lạm phát, nhà nước phải chấp nhận một mức thất nghiệp đủ cao để
lạm phát kỳ vọng bằng với lạm phát thực tế. Trong trường hợp này, khi nền kinh tế
ở SRPC0, lạm phát kỳ vọng và thực tế cùng bằng 0 khi tỷ lệ thất nghiệp là 6%. Khi
nền kinh tế ở SRPC2, lạm phát kỳ vọng và thực tế cùng bằng 2% khi tỷ lệ thất
nghiệp cũng bằng 6%. Chúng ta gọi 6% này là tỷ lệ thất nghiệp không gia tăng lạm
phát (non- accelerating inflation rate of unemployment, NAIRU). Bất cứ chính sách
nào làm tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống dưới mức này đều dẫn đến hệ quả là gia tăng
lạm phát trong ngắn hạn.
Kết luận: lạm phát và thất nghiệp có tỉ lệ ngược với nhau trong ngắn hạn. Như vậy, một
quốc gia có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp nếu sẵn sàng chấp nhận tăng tỷ lệ lạm phát hoặc
ngược lại. Tỷ lệ thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát (non- accelerating inflation rate
of unemployment, NAIRU) chỉ là mục tiêu phấn đấu.
Trong dài hạn, không có sự đánh đổi giữa tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát. Bởi lúc này,
đường Phillips sẽ là đường thẳng đứng cắt trục hoành tại điểm thất nghiệp tự nhiên. Điều
này có nghĩa là nền kinh tế sẽ quay trở lại tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên dù lạm phát là bao
nhiêu. Bên cạnh đó, lạm phát luôn có xu hướng tăng lên trong thời gian dài hạn. Với sự
thay đổi của dòng tiền, cung – cầu lao động trên thị trường sẽ trở về vị trí cân bằng. Điều
này nghĩa là mức sản lượng cung ứng trên thị trường sẽ bằng mức sản lượng tiềm năng.
Một số công cụ nhà nước để kiểm soát lạm phát:
Giảm bớt lượng tiền giấy trong lưu thông để hạn chế lượng tiền nhàn rỗi
Phát hành trái phiếu
Giảm bớt sức ép lên giá cả của hàng hoá, dịch vụ,...
Tăng lãi suất tiền gửi
Thi hành chính sách tài chính chặt chẽ
Giảm các khoản chưa cần thiết
Cân đối ngân sách Nhà nước
Tăng các khoản quỹ hàng hoá và cân đối lượng tiền tệ trong lưu thông
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP NHÀ NƯỚC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành văn bản số 225/TB-VPCP ngày 15/6/2023 thông
báo kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp về những nhiệm vụ, giải pháp
lớn ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân
đối lớn của nền kinh tế trong tình hình hiện nay.
Tại Thông báo, Thường trực Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương quán triệt mục tiêu tập trung ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và an sinh xã hội; phát
huy hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ, cơ quan, địa phương, nhất là
người đứng đầu trong việc chỉ đạo, giải quyết kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cấp
bách trước mắt; đồng thời triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong trung, dài hạn để thúc đẩy
phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Trong đó, tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
1. Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chắc chắn, linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu
quả; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm,
trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; cân bằng
hợp lý giữa lạm phát và tăng trưởng, giữa lãi suất và tỷ giá.
2. Rà soát các cơ chế, chính sách hiện hành để có giải pháp, biện pháp thúc đẩy các
động lực tăng trưởng cả phía cung và phía cầu, trong đó:
a) Về tiêu dùng: có giải pháp hiệu quả thúc đẩy tiêu dùng và kích cầu thị trường trong
nước; nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa trong nước;
khẩn trương ban hành Nghị định của Chính phủ về việc giảm 50% mức thu lệ phí trước
bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; triển khai kịp thời việc giảm 2% thuế giá trị
gia tăng sau khi Quốc hội thông qua.
b) Về đầu tư: tiếp tục đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, phát huy hiệu quả 05
Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh giải
ngân vốn đầu tư công; có giải pháp khả thi, hiệu quả để xử lý kịp thời các khó
khăn, vướng mắc trong giải ngân đầu tư công; tập trung đầu tư phát triển hạ
tầng, nhất là giao thông, năng lượng, chuyển đổi số; tạo thuận lợi cho hợp tác
công tư, đầu tư tư nhân và FDI (nhất là các dự án FDI trong lĩnh vực năng
lượng tái tạo), xử lý, giải quyết hiệu quả các vướng mắc, khó khăn của doanh
nghiệp, trong đó có vướng mắc về đất đai, giải phóng nguồn lực, tăng cường
thu hút đầu tư; khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án đường cao tốc,
một số sân bay theo hình thức hợp tác công
c) Về xuất khẩu: tăng cường hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, giữ
vững, củng cố các thị trường truyền thống, thực hiện hiệu quả các FTA đã ký
kết; tiếp tục mở rộng các thị trường mới (Trung Đông, Châu Phi…), đẩy mạnh
đàm phán, ký kết các Hiệp định, cam kết, liên kết thương mại mới; có giải
pháp hiệu quả nâng cao chất lượng hàng xuất ...
 








Các ý kiến mới nhất