Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

"Khai song" và cõi lòng trắc ẩn của Nguyễn Du

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học các nhà ngữ văn trẻ 2004 - Khoa Ngữ Văn - Trường ĐHSP TPHCM
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 20h:58' 24-02-2008
Dung lượng: 67.0 KB
Số lượt tải: 56
Số lượt thích: 0 người
“Khai song” và cõi lòng đầy trắc ẩn
của Nguyễn Du
VÕ PHÚC CHÂU
***
Truyện Kiều là phần tinh hoa phát tiết của đại thi hào Nguyễn Du. Một thời gian dài, ta tưởng chừng, chỉ cần Truyện Kiều, thêm nữa là Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã đủ sừng sững và thành pha lê trong suốt, qua sự ngưỡng mộ và thấu hiểu của người đọc. Nhưng kỳ thực, Nguyễn Du vẫn còn phần ngọc trong đá, từng bị chôn vùi trong cát bụi thời gian và sự hững hờ của người đọc. Đó chính là phần thơ chữ Hán. Nó như phần nhật thực của một tâm hồn cô đơn suốt hai thế kỷ. Nó kết tinh nguyên chất những tư tưởng lớn, tài năng kiệt xuất, vượt tầm thời đại, của một nhà nhân văn chủ nghĩa. Ngày nay, thơ chữ Hán Nguyễn Du đang được tìm hiểu, được nghiên cứu có hệ thống, đã phát lộ phần ngọc quý. Góp phần lau sáng chuỗi ngọc đó chính là các nhà nghiên cứu văn học, dưới góc độ thi pháp. Soi rọi tác phẩm từ góc độ này, người đọc từng bước khám phá được tầng sâu nỗi niềm, tầm cao tư tưởng của đại thi hào dân tộc.
Học tập người đi trước, bằng khả năng có hạn, chúng tôi xin được phân tích một trong số di sản thơ chữ Hán của Nguyễn Du, bài thơ Khai song:
“Môn tiền yên cảnh cận như hà,
Nhàn nhật khai song sinh ý đa.
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa,
Nhất đình tích vũ nghỉ di oa.
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích,
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực,
Bất tri thu tứ đáo thùy gia.”
Dịch nghĩa:
“Cảnh khói mây trước cửa gần đây không biết thế nào?
Ngày nhàn mở cửa sổ thấy nhiều sinh ý.
Sáu tháng liền chim bằng cỡi gió lớn mà đổi chỗ,
Nước mưa đầy sân, kiến phải dời tổ.
Tấm nệm xanh là vật cũ, phải khó nhọc mà giữ gìn.
Tóc bạc rồi, dù còn có hùng tâm nhưng chỉ còn biết than thở.
Bệnh tái phát nên phải gắng sức điều trị,
Chẳng biết tứ thu đến nhà ai?”

***
Bài thơ lấy tựa đề Khai song, nghĩa là mở cửa sổ. Bản thân tựa đề đã gợi lên hai không gian: một mái che nhỏ hẹp và một đất trời mênh mông ngoài ô cửa. Nó cũng gợi lên hai quãng thời gian: trước và sau khi đóng cửa. Thông qua cánh cửa sổ đóng mở, lần lượt hiện lên chủ thể trữ tình – một Nguyễn Du đầy u uẩn, trong mối tương giao cùng vũ trụ. Theo quan niệm phương Đông, đối với căn nhà, cánh cửa luôn giữ phần trọng yếu. Nó là nơi liên thông, là trường giao cảm giữa con người với cuộc đời, giữa con người với vũ trụ. Ở đó, con người được gởi đi và thu nhận lại, mọi niềm vui, nỗi buồn, mọi tâm tư và ước vọng… Ngay cả, nó rộng hẹp, khép mở, hướng theo phương nào,… đều tác động đến tâm tính, sự thịnh suy của người sống trong nhà. Căn nhà có sinh khí, vì thế, bao giờ cũng được mở rộng cửa, nhất là cửa sổ. Quan niệm đó đã đi vào thơ ca. Theo giáo sư Trần Đình Sử, do có sự tương thông giữa không gian con người với không gian vũ trụ nên trong thơ cổ, người ta miêu tả ngôi nhà bằng cái cửa, nó vừa mở vào thế giới con người, vừa mở vào vũ trụ (1).
Như nhiều tác phẩm trung đại, cánh cửa sổ trong thơ Nguyễn Du cũng được mở ra, thể hiện sự liên thông kỳ diệu này. Duy có điều lạ, thơ Nguyễn Du lại từng nhắc cảnh bế môn. Nhà thơ chủ động tạo ra một không gian cá nhân, một tiểu vũ trụ đầy bí ẩn, trong lòng đại vũ trụ mênh mông.

***
Ngay dòng thơ đầu tiên, hồn thơ Nguyễn Du đã hé lộ, với một nội tâm đầy mâu thuẫn:
“Cảnh khói mây trước cửa gần đây không biết thế nào?”
Con người khát khao hướng ngoại ấy quả luôn vọng tưởng những điều lớn lao: cảnh khói mây trước cửa. Nghĩ đến cảnh khói mây cũng tức là trăn trở về vũ trụ, về sự biến đổi của không gian và sự chảy trôi của thời gian. Cảnh tượng ấy chẳng đâu xa, ngay trước cửa nhà mình, đang gợn lên trong tâm trí mình. Con người quan tâm cuộc đời đến thế, lại có khi, trở nên lạc lõng, ngơ ngác với cả mây khói ngoài kia, đành phải tự hỏi chính mình: gần đây không biết thế nào?
Thì ra, đã lâu, nhà thơ tuyệt giao với cuộc sống bên ngoài căn nhà, tự khép mình vào không gian mái che bé nhỏ. Tâm hồn ấy, chắc hẳn, đang mang một khối tâm sự đầy u uẩn, luôn muốn biết tất cả, nhưng tự cách ly mình với tất cả. Thật lạ, một nho sĩ dấn thân, từng mơ vung kiếm giữa trời xanh, từng ngược xuôi, am tường sáu cõi, vì sao phải chịu ẩn mình trong nhà, lại còn gài chặt luôn cửa sổ? Xưa nay, cuộc đời bao kẻ sĩ phong kiến, phần nhiều, đều dong ruổi theo chân trời góc biển, chỉ mong thỏa chí tang bồng. Nguyễn Du, bình sinh đã là kẻ sĩ như thế! Giả như, nay chán công danh, về ẩn dật, sao không như Ức Trai ngày xưa, cứ thong dong rừng trúc mà hóng mát, ngâm thơ; hay như Bạch Vân cư sĩ, dựng am, nằm cười thế sự. Cớ gì, nhà thơ phải lặng lẽ thu mình trong nỗi cô đơn, biệt lập đến thế?
Ngẫm ra, giữa thời đại “giông bão nổ trăm miền”(2), “đâu đâu cũng là sông Mịch La”(3), con người tìm đâu một góc bình yên mà vui thú lâm tuyền? Giấu mình trong gian nhà nhỏ, phải chăng, nhà thơ đang trốn chạy một cái gì ghê gớm bên ngoài cuộc đời? Hay đó là cách quay lưng, để không phải nhìn một cái gì chán chường, chua chát lắm? Hay cũng vì mặc cảm thiếu cơm rách áo hàng ngày, vì nỗi buồn đau bệnh triền miên, nhà thơ không muốn bắt gặp cái nhìn thương hại, mối từ tâm của bất cứ một ai?
Thực tế, suốt chặng đời long đong phiêu bạt, trong nhiều không gian mái che tạm bợ, biết bao lần nhà thơ đóng cửa. Cả cửa sổ cũng im ỉm đóng, ngay lúc xuân về:
“Đóng cửa không hay xuân sớm hay muộn
Đường lê hoa đã rụng tơi bời”
(Tạp ngâm)
Bởi, thiết tha mở cửa làm gì, khi ngoài kia, xuân đâu dành ánh sáng cho người nặng tình đời:
“Chỗ cửa sổ nhỏ mở chỉ thấy bóng liễu âm u”
(Xuân dạ)
Dẫu không được đời ưu ái nhưng tấm lòng thơ ấy vẫn thiết tha gắn bó với đời. Nhà thơ nhiều khi tự rơi vào mâu thuẫn, đã đóng cửa rồi, lại cố mở ra, chỉ vì không đành hờ hững với vầng trăng:
“Gắng dậy mở cửa sổ xem trăng sáng
Bóng râm lớp lớp không để lọt tia sáng nào”
(Ngẫu hứng)
Lần nầy cũng thế! Nỗi khát khao hòa nhập với đời đã giục giã nhà thơ mở cửa:
“Ngày nhàn mở cửa sổ thấy nhiều sinh ý.”
May mà có ngày nhàn nên cửa mới được mở ra. Nhưng không phải là cửa chính! Có lẽ, bởi chân người đâu muốn rời khỏi bậc thềm nhà, chưa muốn trở lại cuộc đời một kẻ sĩ dấn thân. Nó chỉ là cửa sổ thôi, chỉ là khoảng không bé nhỏ, đủ cho hồn người thôi khép kín, tạm gác những ngày tháng tuyệt giao cùng thế sự.
Lời thơ giản dị, tưởng mở hết nỗi niềm, ai ngờ, lại gói thêm bao ẩn ý. Hôm nay là ngày nhàn! Vậy, những ngày qua, nhà thơ bận bịu, ưu tư, trăn trở điều gì nặng nề lắm sao? Đã khép mình, khép lòng, xa lánh bao nhiêu rắc rối của đời, sao tâm hồn chẳng được an vui? Mở cửa sổ, chợt thấy nhiều sinh ý! Hóa ra, bấy lâu, cái không gian mái che bé nhỏ nầy chỉ chứa toàn ý tưởng buồn đau, u ám hay sao? May mà hôm nay, sinh ý đã tràn về, bao nhiêu nặng nề, u uẩn, dần như tan biến.
Vậy, nhà thơ đang thấy gì ngoài kia? Không phải mây khói của trời, cỏ cây của đất. Từ ô cửa vuông chật hẹp, của căn nhà và của cảnh đời tù túng, nhà thơ bất ngờ gặp được hình ảnh lớn lao, kỳ vĩ:
“Sáu tháng liền chim bằng cỡi gió lớn mà đổi chỗ”
Hình ảnh thật kiêu hùng! Nó chính là cánh chim bằng đã chở khí phách của Trang Tử ngày xưa: Chim bằng bay qua biển Nam, làm sóng nước nổi lên ba nghìn dặm, nương gió mà bay lên cao chín vạn dặm, bay sáu tháng liền mới nghỉ,… Không có tầm nhìn vòi vọi, Nguyễn Du sao có thể gặp được cánh chim bằng của hàng nghìn năm trước? Không có khí phách ngất trời, Nguyễn Du sao có thể gặp được sinh ý, lại đồng điệu với một Trang Tử lừng lẫy bao đời? Dường như, chỉ cần giây phút rời bỏ con người lo âu, con người tráng chí trong Nguyễn Du liền trỗi dậy. Cánh chim bằng chính là biểu tượng đầy lãng mạn, kết tinh khí khách, khát vọng của đấng trượng phu chí lớn. Chẳng biết, Nguyễn Du đang vọng tưởng người anh hùng nào trong đời thực? Hay nó là hình ảnh, trong mơ ước, của chính nhà thơ? Rõ ràng, khi cửa sổ mở, Nguyễn Du đã thành chứng nhân cho một cuộc bể dâu, sững sờ nhận ra thời thế đang xuất hiện và cần thêm nữa, những cánh chim bằng cỡi gió. Có lẽ, lúc này, Nguyễn Du đang tự hồi sinh một cánh chim bằng, trong phần lãng mạn nhất của hồn mình, đời mình. Bởi, nó vốn là ước mơ náo động suốt một thời tuổi trẻ của thi nhân. Hỏi còn đợi bao giờ mới mơ làm đấng anh hùng, khi vũ trụ đang làm cuộc chuyển dời ghê gớm:
“Nước mưa đầy sân, kiến phải dời tổ”
Hình ảnh thơ chuyển đột ngột, từ tột đỉnh chín tầng mây trở về mặt đất, từ cánh chim cỡi gió trở về cùng cái kiến con ong. Trong thơ Nguyễn Du, thỉnh thoảng, lại xuất hiện những côn trùng bé nhỏ. Nhà thơ luôn quan sát cái thế giới tí hon đó, để rồi, soi rọi, chiêm nghiệm sâu sắc hơn về cuộc đời, về bản thân mình. Đêm tha hương, nằm thao thức, nghe tiếng côn trùng kêu, lòng thi nhân thêm xót xa, buồn bã (Đêm thu). Nhìn côn trùng chim chóc bay mất hết, người rơi nước mắt vì cảnh binh lửa hoang tàn (Xua nỗi buồn). Kiên quyết không sống như loài kiến mối, con người muốn giữ mãi được hùng tâm (Tạp ngâm),… Ở bài thơ này, hình ảnh mang đầy ẩn ý. Nhà thơ đâu dễ mơ đến cánh chim bằng, rồi chỉ quay về tả thực, cơn mưa dầm sùi sụt của tiết trời tháng Bảy. Có thể, lúc này, nhà thơ đang nhìn ra cuộc sống bằng cảm quan lịch sử. Hình ảnh nước mưa đầy sân, theo đó, là cảnh chấn động thê lương của đất nước. Còn cảnh kiến phải dời tổ cũng là khúc xạ của thời buổi thay đổi sơn hà. Ý thơ đọng lại một nỗi ngậm ngùi, thương cảm trước tình cảnh ly tán của thân phận cái kiến con ong. Mưa gió thiên nhiên và giông bão thời cuộc đã đẩy biết bao số phận bé nhỏ vào cảnh màn trời chiếu đất, nghèo khổ tha hương. Nhìn đâu xa, chính nhà thơ cũng từng mang thân phận như thế: long đong trôi dạt, trong tận cùng cơ cực, suốt mười năm trời, có lúc phải xin nhờ miếng ăn như người hành khất.
Xã hội biến động, mọi giềng mối quan hệ lung lay, nhiều giá trị cũ xưa gãy vỡ. Hơn ai hết, Nguyễn Du – người một dạ trung thành với lý tưởng cao đẹp của nho gia – càng không ngăn được nỗi âu lo, phiền muộn. Nhà thơ như người phải tránh né, chống chọi bão giông, trong căn nhà dột nát:
“Tấm nệm xanh là vật cũ, phải khó nhọc mà giữ gìn”
Ý thơ gợi nhớ câu chuyện của Vương Hiến Chi đời Tấn. Con người dòng dõi học nho này đã có lần thấy trộm vào nhà. Thay vì hoảng hốt, ông ung dung bảo trộm: “Lấy gì thì lấy, nhưng cái nệm xanh là vật cũ nhà ta, nên bỏ lại trả ta”. Từ đó, hễ nhắ
 
Gửi ý kiến