Tìm kiếm Giáo án
Tuần 12. Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: hương khánh phạm
Ngày gửi: 21h:19' 13-11-2019
Dung lượng: 28.9 KB
Số lượt tải: 27
Nguồn:
Người gửi: hương khánh phạm
Ngày gửi: 21h:19' 13-11-2019
Dung lượng: 28.9 KB
Số lượt tải: 27
Số lượt thích:
0 người
IV. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học từ thế kỷ X- thế kỷ XIX
Ba đặc điểm:
-Tính quy phạm và sự phá vỡ tình quy phạm
-Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị
-Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài
1.Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm
a.Tính quy phạm
-Là sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu bắt buộc phải tuân thủ đối với người viết trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.
Là đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam
-Cơ sở hình thành:
Xuất phát từ quan niệm của văn học trung đại:Văn chương coi trọng mục đích giáo huấn: Văn dĩ tải đạo(Văn để chở đạo lí, đạo đức), Thi dĩ ngôn chí(Thơ để nói chí).
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" (Nguyễn Đình Chiểu)
Ví dụ: Người đẹp: nghiêng nước nghiêng thành, chim sa cá lặn với Tài: cầm, kì, thi, hoạ.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Anh hùng: râu hùm, hàm én, mày ngài.
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Mùa xuân: hoa mai, hoa đào - chim én, cỏ non
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Mùa hè: hoa sen tàn, hoa lựu - chim quyên kêu.
Kiểu tư duy nghệ thuật: Quen phải sáng tác kiểu mẫu có sẵn đã trở thành công thức.
Nghề: ngư-tiều-canh-mục; Con vật: Long-lân-quy-phượng.
Phép đối: đối đoạn, đối ý, đối âm.
*Biểu hiện:
Thể loại:Kết cấu định hình được quy định một cách chặt chẽ số câu trong một bài, số tiếng trong một dòng.
Thi văn liệu: Uớc lệ, công thức đã có sẵn; Sử dụng nhiều điển tích, điển cố
"Kẻ chốn Chương Đài ,người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn" (Chiều hôm nhớ nhà- Bà Huyện Thanh Quan)
Dẫn chứng tính qui phạm:
Miêu tả thế giới t/thần lí tưởng, thống nhất haì hoà khách quan, chủ quan.
* Tổ chức t/phẩm lấy hài hoà, cân đối, chắt chẽ làm nền tảng. Trong thơ thực hiện nghiêm ngặt qui tắc hiệp vần, bằng trắc, niêm, đối , cách dùng chữ, đặt câu, bố cục, cảnh – tính là đặc thù của thơ.
Tự tình 2- HXH
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khu mà cũng cốc
Chuông sầu không gõ cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau giận vì duyên để mỏm mòm
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Thân này đâu đã chịu già tom.
Tức cảnh sinh tình. Tâm vật hô ứng. Người buồn cảnh có vui đâu bao gì.
C1, Cảnh; C2, Cảm tràn ra vật; C3,4 Tâm cảnh; C5,6 Rầu rĩ duyên phận; C7 Thời gian, không gian; C8, Ý chí, lòng khát khao trẻ mãi, tuổi xuân, cưỡng lại số mệnh.
Bài thơ khá điển hình cho tính qui phạm, bắt đầu từ CẢNH- TÂM; TÂM- CHÍ.
Cảnh tình tương sinh.
Chiều trời bảng lảngbóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ôngvề viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốnChương Đài , người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
Sự giao hoà tâm vật, tương sinh, tương thành, hô ứng. Đi từ cảnh- vật- tâm cảnh- chí.
b.Sự phá vỡ tính quy phạm:
*Cơ sở: Cá tính sáng tạo của những nghệ sỹ có tài năng thực sự.
*Biểu hiện:
- Thể loại: Từ thơ Đường tạo ra thể loại mới: có bài chỉ có 6 chữ.
- Thi văn liệu:
+ Đưa vốn thi văn liệu từ đời sống (Sự kiện, con người có thật)
+ Hạn chế dùng điển tích, điển cố, đưa lời ăn tiếng nói vào thơ ca.
*ý nghĩa:
- Đặt nền móng đầu tiên,
Ba đặc điểm:
-Tính quy phạm và sự phá vỡ tình quy phạm
-Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị
-Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài
1.Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm
a.Tính quy phạm
-Là sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu bắt buộc phải tuân thủ đối với người viết trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.
Là đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam
-Cơ sở hình thành:
Xuất phát từ quan niệm của văn học trung đại:Văn chương coi trọng mục đích giáo huấn: Văn dĩ tải đạo(Văn để chở đạo lí, đạo đức), Thi dĩ ngôn chí(Thơ để nói chí).
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" (Nguyễn Đình Chiểu)
Ví dụ: Người đẹp: nghiêng nước nghiêng thành, chim sa cá lặn với Tài: cầm, kì, thi, hoạ.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Anh hùng: râu hùm, hàm én, mày ngài.
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Mùa xuân: hoa mai, hoa đào - chim én, cỏ non
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Mùa hè: hoa sen tàn, hoa lựu - chim quyên kêu.
Kiểu tư duy nghệ thuật: Quen phải sáng tác kiểu mẫu có sẵn đã trở thành công thức.
Nghề: ngư-tiều-canh-mục; Con vật: Long-lân-quy-phượng.
Phép đối: đối đoạn, đối ý, đối âm.
*Biểu hiện:
Thể loại:Kết cấu định hình được quy định một cách chặt chẽ số câu trong một bài, số tiếng trong một dòng.
Thi văn liệu: Uớc lệ, công thức đã có sẵn; Sử dụng nhiều điển tích, điển cố
"Kẻ chốn Chương Đài ,người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn" (Chiều hôm nhớ nhà- Bà Huyện Thanh Quan)
Dẫn chứng tính qui phạm:
Miêu tả thế giới t/thần lí tưởng, thống nhất haì hoà khách quan, chủ quan.
* Tổ chức t/phẩm lấy hài hoà, cân đối, chắt chẽ làm nền tảng. Trong thơ thực hiện nghiêm ngặt qui tắc hiệp vần, bằng trắc, niêm, đối , cách dùng chữ, đặt câu, bố cục, cảnh – tính là đặc thù của thơ.
Tự tình 2- HXH
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
Mõ thảm không khu mà cũng cốc
Chuông sầu không gõ cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau giận vì duyên để mỏm mòm
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Thân này đâu đã chịu già tom.
Tức cảnh sinh tình. Tâm vật hô ứng. Người buồn cảnh có vui đâu bao gì.
C1, Cảnh; C2, Cảm tràn ra vật; C3,4 Tâm cảnh; C5,6 Rầu rĩ duyên phận; C7 Thời gian, không gian; C8, Ý chí, lòng khát khao trẻ mãi, tuổi xuân, cưỡng lại số mệnh.
Bài thơ khá điển hình cho tính qui phạm, bắt đầu từ CẢNH- TÂM; TÂM- CHÍ.
Cảnh tình tương sinh.
Chiều trời bảng lảngbóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ôngvề viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốnChương Đài , người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
Sự giao hoà tâm vật, tương sinh, tương thành, hô ứng. Đi từ cảnh- vật- tâm cảnh- chí.
b.Sự phá vỡ tính quy phạm:
*Cơ sở: Cá tính sáng tạo của những nghệ sỹ có tài năng thực sự.
*Biểu hiện:
- Thể loại: Từ thơ Đường tạo ra thể loại mới: có bài chỉ có 6 chữ.
- Thi văn liệu:
+ Đưa vốn thi văn liệu từ đời sống (Sự kiện, con người có thật)
+ Hạn chế dùng điển tích, điển cố, đưa lời ăn tiếng nói vào thơ ca.
*ý nghĩa:
- Đặt nền móng đầu tiên,
 









Các ý kiến mới nhất