Hoàng Thái Hậu Từ Dũ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Lan Chi
Ngày gửi: 18h:06' 07-03-2013
Dung lượng: 134.5 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Phạm Lan Chi
Ngày gửi: 18h:06' 07-03-2013
Dung lượng: 134.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Hoàng Thái Hậu Từ Dũ
Thái hậu Từ Dũ là vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà không chỉ nổi tiếng là người thông minh, xinh đẹp, đức hạnh, biết yêu quí nhân dân mà còn được biết đến như một người mẹ rất giỏi trong việc nuôi dạy con cái.
Cũng chính nhờ có sự dạy dỗ của bà mà sau này vua Tự Đức trở thành vị vua tốt, là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt rất yêu thích thơ văn – được mệnh danh là vị vua hay chữ nhất triều Nguyễn. Thái hậu Từ Dụ tên thật là Phạm Thị Hằng, tên tự Nguyệt, Thường hoặc Hào. Bà sinh ngày 20/6/1810 tại Sơn Quy, làng Gò Công, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định. Thái hậu Từ Dũ là trưởng nữ của Quốc công Phạm Đăng Hưng với bà Phạm Thị Vị. Ngay từ thuở nhỏ, thái hậu Từ Dũ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp, hiếu thuận, ham đọc sách. Năm lên 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu Trần Thị Đang, vợ kế của vua Gia Long, tuyển triệu vào hầu Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, con vua Minh Mạng. Đến năm 15 tuổi, bà sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo. Năm sau, bà lại sinh cô công chúa thứ 2 là công chúa Nguyễn Phúc Uyên Ý. Ngày 22/9/1829, bà sinh người con thứ 3 là trai, đặt tên là Nguyễn Phúc Thì tức Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, chính là vua Tự Đức sau này. Năm 1841, Miên Tông lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiệu Trị, bà trở thành Cung tần, được giữ chức Thượng nghi để coi sóc lục thượng. Hai năm sau, bà được phong Thần phi. Qua đầu năm Thiệu Trị thứ 6, tức là năm 1846, bà được phong làm Giai phi, rồi Nhất giai phi. Đến năm 1847, vua Thiệu Trị mất, con bà là Hồng Nhậm được chọn nối nghiệp, tức vua Tự Đức. Lên ngôi vua, Tự Đức nhiều lần ngỏ ý định tấn tôn cho mẹ, nhưng bà nhất định chối từ. Mãi đến ngày 15 tháng 4 năm Tự Đức thứ 2, tức 7/5/1849, nhân dịp khánh thành cung Gia Thọ, bà mới thuận nhận Kim bảo và tôn hiệu là Hoàng Thái hậu. Tháng 6/1883, vua Tự Đức mất, để di chiếu tôn bà làm Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu. Nhưng vì việc nước lắm rối ren nên mãi đến năm 1885, vua Hàm Nghi mới có thể làm lễ tấn tôn cho bà theo di chiếu. Cũng ngay năm đó, sau lễ tấn tôn trên, Kinh thành Huế thất thủ, bà cùng với hai bà vợ vua Tự Đức là Hoàng Thái hậu và Hoàng Thái phi, theo vua Hàm Nghi chạy ra đến Quảng Trị. Sau lời tâu xin của nhà vua, bà và hai người con dâu mới trở lại Huế. Năm 1887, nhà vua tấn tôn mỹ hiệu cho bà là Từ Dụ Bát huệ Thái hoàng Thái hậu. Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, nhân dịp mừng bà thọ 80 tuổi, bà được dâng tôn hiệu là Từ Dụ Bát huệ Khang thọ Thái thái hoàng Thái hậu. Hoàng Thái hậu Từ Dũ có tính tình đoan chính, nhàn nhã, cử chỉ khiêm cung lễ độ, ở trong cung ai cũng cảm mến và quý trọng đức độ. Khi vua Thiệu Trị rảnh việc, đọc sách đến nửa đêm chưa ngủ, bà vẫn thức hầu không biết mỏi mệt. Mỗi lần vua Tự Đức vào hầu, bà thường khuyên dạy và nhà vua ghi lại những lời nói ấy trong sách “Từ Huấn Lục”. Trong cuộc sống hằng ngày, bà rất tiết kiệm tiêu dùng và nghiêm khắc đối với sự lãng phí, xa hoa. Bà thẳng thắn phê phán tệ tham ô chức quyền trong triều chính và các địa hạt. Bà nói: “Từ xưa đến nay, quan lại chỉ một chữ tham mà chưa trừ được. Mọt nước hại dân cũng từ đó mà ra. Làm quan mấy năm vị nào cũng giầu có gấp bội. Của ấy không lấy của dân thì lấy ở đâu? Nên phải quyết trừ”. Rồi bà lại khuyên triều thần: “Một sợi tơ, một hột gạo cũng đều là máu mỡ của dân, cho nên lãng phí đã không ích gì, mà lại đáng tiếc lắm vậy, chi bằng cất vào kho để dùng vào việc nước”.
Từ Dũ hoàng hậu
Bà phê phán gắt gao kẻ dựa vào quyền thế gia tộc của bà để cầu vinh, hoặc che chở kẻ phạm pháp. Hoàng hậu Từ Dũ cũng bảo vua Tự Đức rằng: “Người trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan, phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc, chỉ lo là bất tài mà thôi. Ngoài ra,
Thái hậu Từ Dũ là vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà không chỉ nổi tiếng là người thông minh, xinh đẹp, đức hạnh, biết yêu quí nhân dân mà còn được biết đến như một người mẹ rất giỏi trong việc nuôi dạy con cái.
Cũng chính nhờ có sự dạy dỗ của bà mà sau này vua Tự Đức trở thành vị vua tốt, là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt rất yêu thích thơ văn – được mệnh danh là vị vua hay chữ nhất triều Nguyễn. Thái hậu Từ Dụ tên thật là Phạm Thị Hằng, tên tự Nguyệt, Thường hoặc Hào. Bà sinh ngày 20/6/1810 tại Sơn Quy, làng Gò Công, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định. Thái hậu Từ Dũ là trưởng nữ của Quốc công Phạm Đăng Hưng với bà Phạm Thị Vị. Ngay từ thuở nhỏ, thái hậu Từ Dũ đã nổi tiếng thông minh, xinh đẹp, hiếu thuận, ham đọc sách. Năm lên 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu Trần Thị Đang, vợ kế của vua Gia Long, tuyển triệu vào hầu Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, con vua Minh Mạng. Đến năm 15 tuổi, bà sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo. Năm sau, bà lại sinh cô công chúa thứ 2 là công chúa Nguyễn Phúc Uyên Ý. Ngày 22/9/1829, bà sinh người con thứ 3 là trai, đặt tên là Nguyễn Phúc Thì tức Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, chính là vua Tự Đức sau này. Năm 1841, Miên Tông lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiệu Trị, bà trở thành Cung tần, được giữ chức Thượng nghi để coi sóc lục thượng. Hai năm sau, bà được phong Thần phi. Qua đầu năm Thiệu Trị thứ 6, tức là năm 1846, bà được phong làm Giai phi, rồi Nhất giai phi. Đến năm 1847, vua Thiệu Trị mất, con bà là Hồng Nhậm được chọn nối nghiệp, tức vua Tự Đức. Lên ngôi vua, Tự Đức nhiều lần ngỏ ý định tấn tôn cho mẹ, nhưng bà nhất định chối từ. Mãi đến ngày 15 tháng 4 năm Tự Đức thứ 2, tức 7/5/1849, nhân dịp khánh thành cung Gia Thọ, bà mới thuận nhận Kim bảo và tôn hiệu là Hoàng Thái hậu. Tháng 6/1883, vua Tự Đức mất, để di chiếu tôn bà làm Từ Dụ Thái hoàng Thái hậu. Nhưng vì việc nước lắm rối ren nên mãi đến năm 1885, vua Hàm Nghi mới có thể làm lễ tấn tôn cho bà theo di chiếu. Cũng ngay năm đó, sau lễ tấn tôn trên, Kinh thành Huế thất thủ, bà cùng với hai bà vợ vua Tự Đức là Hoàng Thái hậu và Hoàng Thái phi, theo vua Hàm Nghi chạy ra đến Quảng Trị. Sau lời tâu xin của nhà vua, bà và hai người con dâu mới trở lại Huế. Năm 1887, nhà vua tấn tôn mỹ hiệu cho bà là Từ Dụ Bát huệ Thái hoàng Thái hậu. Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, nhân dịp mừng bà thọ 80 tuổi, bà được dâng tôn hiệu là Từ Dụ Bát huệ Khang thọ Thái thái hoàng Thái hậu. Hoàng Thái hậu Từ Dũ có tính tình đoan chính, nhàn nhã, cử chỉ khiêm cung lễ độ, ở trong cung ai cũng cảm mến và quý trọng đức độ. Khi vua Thiệu Trị rảnh việc, đọc sách đến nửa đêm chưa ngủ, bà vẫn thức hầu không biết mỏi mệt. Mỗi lần vua Tự Đức vào hầu, bà thường khuyên dạy và nhà vua ghi lại những lời nói ấy trong sách “Từ Huấn Lục”. Trong cuộc sống hằng ngày, bà rất tiết kiệm tiêu dùng và nghiêm khắc đối với sự lãng phí, xa hoa. Bà thẳng thắn phê phán tệ tham ô chức quyền trong triều chính và các địa hạt. Bà nói: “Từ xưa đến nay, quan lại chỉ một chữ tham mà chưa trừ được. Mọt nước hại dân cũng từ đó mà ra. Làm quan mấy năm vị nào cũng giầu có gấp bội. Của ấy không lấy của dân thì lấy ở đâu? Nên phải quyết trừ”. Rồi bà lại khuyên triều thần: “Một sợi tơ, một hột gạo cũng đều là máu mỡ của dân, cho nên lãng phí đã không ích gì, mà lại đáng tiếc lắm vậy, chi bằng cất vào kho để dùng vào việc nước”.
Từ Dũ hoàng hậu
Bà phê phán gắt gao kẻ dựa vào quyền thế gia tộc của bà để cầu vinh, hoặc che chở kẻ phạm pháp. Hoàng hậu Từ Dũ cũng bảo vua Tự Đức rằng: “Người trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan, phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc, chỉ lo là bất tài mà thôi. Ngoài ra,
 








Các ý kiến mới nhất