Tìm kiếm Giáo án
HỆ THỐNG SÔNG NGÒI TỈNH BẮC GIANG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hường (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:53' 07-11-2009
Dung lượng: 35.5 KB
Số lượt tải: 20
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hường (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:53' 07-11-2009
Dung lượng: 35.5 KB
Số lượt tải: 20
Số lượt thích:
0 người
HỆ THỐNG SÔNG NGÒI TỈNH BẮC GIANG
Bắc Giang có 3 con sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Đây là 3 con sông đầu nguồn, tập trung đổ nước vào Phả Lại, nơi tiếp giáp giữa 3 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương. Sông Phả Lại chảy xuôi một đoạn, đến Gia Bình của Bắc Ninh thì nhận thêm nước của sông Đuống, chia nước từ sông Hồng chảy sang, sau đó chia làm hai nhánh đổ ra biển. Nhánh chảy qua Hải Dương sang Thái Bình là sông Thái Bình. Nhánh chảy qua Hải Dương rồi đổ ra Hải Phòng là sông Kinh Thầy.
Tất cả các sông nói trên hợp thành một hệ thống, gọi là hệ thống sông Thái Bình. Ở Bắc Bộ có hai hệ thống sông lớn là: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình. Ngày xưa cha ông ta gọi hệ thống sông Thái Bình là sông Lục Đầu, vì nó có bốn đầu vào, hai đầu ra và gọi sông Đuống là sông Thiên Đức, sông Cầu là sông Nguyệt Đức, sông Thương là sông Nhật Đức, sông Lục Nam là sông Hợp Đức. Tên Hán tự các sông nói trên, chỉ để ghi trong sách của triều đình và của các nhà nho, còn dân vẫn gọi các con sông này theo tên nôm. Sông Cầu chảy qua Đáp Cầu (thủ phủ Bắc Ninh xưa) có chợ Đáp Cầu nổi tiếng nên gọi là sông Cầu. Sông Thương chảy qua làng Thương (Thuộc Phủ Lạng Thương – thủ phủ Bắc Giang xưa, nay là thành phố Bắc Giang) có chợ Thương nổi tiếng nên gọi là sông Thương. Sông Lục Nam chảy qua phố chợ Lục Nam nổi tiếng trong vùng nên gọi là sông Lục Nam.
Hệ thống sông Thái Bình cung cấp nước tưới và là cơ sở giao thông thuận lợi cho các tỉnh phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, hệ thống sông Thái Bình còn có vị trí quân sự rất quan trọng. Trong lịch sử, bọn giặc phong kiến phương Bắc thường lợi dụng hệ thống sông này để đánh vào Hà Nội và Bắc Giang được gọi là phên dậu phía Bắc của Kinh thành Thăng Long. Năm 938 quân Nam Hán định vào cửa Bạch Đằng theo sông Ngao (Quảng Ninh) sang sông Kinh Thầy lên Phả Lại, đã bị Ngô Quyền đánh tan ở cửa Bạch Đằng. Thế kỷ thứ XI, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến trên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chống quân Tống.Thời kỳ nhà Trần, quân Nguyên – Mông đưa quân bộ vào Lạng Sơn, vượt ải Xa Lý sang Bắc Giang để tiến về Hà Nội và cánh quân thủy đi theo sông Lục Đầu lên để hợp với quân bộ ở Phả Lại. Nhà Trần chặn đánh địch ở ải Xa Lý, ải Nội Bàng (đều thuộc Lục Ngạn, Bắc Giang) sau đó rút lui theo sông Lục Nam về Phả Lại, đồng thời tổ chức đánh tan quân thủy nên chúng đành thất bại.
Ba dòng sông của Bắc Giang đều là những sông có chiều dài trên 100 km và có diện tích lưu vực, lượng nước vào loại trung bình so với 2.360 dòng sông lớn, nhỏ của nước ta.
Sông Cầu dài 288 km, là dòng sông chính cung cấp 47% lượng nước cho hệ thống sông Thái Bình. Sông Cầu bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy qua Bắc Cạn, Thái Nguyên cho tới Phả Lại. Sông Cầu tạo thành ranh giới phía tây nam và phía nam của tỉnh Bắc Giang với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội và Bắc Ninh. Lưu vực ở thượng lưu và trung lưu sông Cầu là phía đông cánh cung sông Gâm, phía tây cánh cung Ngân Sơn (đều thuộc Bắc Cạn) và một phần phía tây của cánh cung Bắc Sơn. Thượng nguồn sông Cầu dòng hẹp, có độ dốc lớn nên thường sinh ra lũ quét. Về đến hạ lưu, sông Cầu còn được nhận thêm nước từ hồ Núi Cốc, sông Công (Thái Nguyên) và sông Cà Lồ (Vĩnh Phúc) chảy vào. Hạ lưu sông Cầu từ Thái Nguyên tới Phả Lại, dòng sông rộng, địa hình hai bên sông thấp, bằng phẳng nên nước chảy hiền hòa. Dòng chảy sông Cầu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9, muộn thì tháng 10, mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau và cạn nhất là các tháng 1-2-3. Mùa cạn, nước sông Cầu trong xanh và chảy chậm nên mới có câu: “Sông Cầu nước chảy lơ thơ”.
Hạ lưu sông Cầu chảy giữa đồng bằng phì nhiêu của các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, nên từ thời Hùng Vương dựng nước, bên đôi bờ sông Cầu đã có khá đông người Việt tụ cư sinh sống. Kết quả nhiều cuộc khảo cổ học, nhiều di tích lịch sử và truyền thuyết đã nói lên điều đó.
Thời kỳ thuộc Pháp, người Pháp đã cho xây dựng một đập nước ở Thái Nguyên để đưa nước tưới cho nhiều vùng ở bắc và nam sông Cầu. Ngày
Bắc Giang có 3 con sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Đây là 3 con sông đầu nguồn, tập trung đổ nước vào Phả Lại, nơi tiếp giáp giữa 3 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương. Sông Phả Lại chảy xuôi một đoạn, đến Gia Bình của Bắc Ninh thì nhận thêm nước của sông Đuống, chia nước từ sông Hồng chảy sang, sau đó chia làm hai nhánh đổ ra biển. Nhánh chảy qua Hải Dương sang Thái Bình là sông Thái Bình. Nhánh chảy qua Hải Dương rồi đổ ra Hải Phòng là sông Kinh Thầy.
Tất cả các sông nói trên hợp thành một hệ thống, gọi là hệ thống sông Thái Bình. Ở Bắc Bộ có hai hệ thống sông lớn là: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình. Ngày xưa cha ông ta gọi hệ thống sông Thái Bình là sông Lục Đầu, vì nó có bốn đầu vào, hai đầu ra và gọi sông Đuống là sông Thiên Đức, sông Cầu là sông Nguyệt Đức, sông Thương là sông Nhật Đức, sông Lục Nam là sông Hợp Đức. Tên Hán tự các sông nói trên, chỉ để ghi trong sách của triều đình và của các nhà nho, còn dân vẫn gọi các con sông này theo tên nôm. Sông Cầu chảy qua Đáp Cầu (thủ phủ Bắc Ninh xưa) có chợ Đáp Cầu nổi tiếng nên gọi là sông Cầu. Sông Thương chảy qua làng Thương (Thuộc Phủ Lạng Thương – thủ phủ Bắc Giang xưa, nay là thành phố Bắc Giang) có chợ Thương nổi tiếng nên gọi là sông Thương. Sông Lục Nam chảy qua phố chợ Lục Nam nổi tiếng trong vùng nên gọi là sông Lục Nam.
Hệ thống sông Thái Bình cung cấp nước tưới và là cơ sở giao thông thuận lợi cho các tỉnh phía Bắc của đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, hệ thống sông Thái Bình còn có vị trí quân sự rất quan trọng. Trong lịch sử, bọn giặc phong kiến phương Bắc thường lợi dụng hệ thống sông này để đánh vào Hà Nội và Bắc Giang được gọi là phên dậu phía Bắc của Kinh thành Thăng Long. Năm 938 quân Nam Hán định vào cửa Bạch Đằng theo sông Ngao (Quảng Ninh) sang sông Kinh Thầy lên Phả Lại, đã bị Ngô Quyền đánh tan ở cửa Bạch Đằng. Thế kỷ thứ XI, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến trên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chống quân Tống.Thời kỳ nhà Trần, quân Nguyên – Mông đưa quân bộ vào Lạng Sơn, vượt ải Xa Lý sang Bắc Giang để tiến về Hà Nội và cánh quân thủy đi theo sông Lục Đầu lên để hợp với quân bộ ở Phả Lại. Nhà Trần chặn đánh địch ở ải Xa Lý, ải Nội Bàng (đều thuộc Lục Ngạn, Bắc Giang) sau đó rút lui theo sông Lục Nam về Phả Lại, đồng thời tổ chức đánh tan quân thủy nên chúng đành thất bại.
Ba dòng sông của Bắc Giang đều là những sông có chiều dài trên 100 km và có diện tích lưu vực, lượng nước vào loại trung bình so với 2.360 dòng sông lớn, nhỏ của nước ta.
Sông Cầu dài 288 km, là dòng sông chính cung cấp 47% lượng nước cho hệ thống sông Thái Bình. Sông Cầu bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy qua Bắc Cạn, Thái Nguyên cho tới Phả Lại. Sông Cầu tạo thành ranh giới phía tây nam và phía nam của tỉnh Bắc Giang với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội và Bắc Ninh. Lưu vực ở thượng lưu và trung lưu sông Cầu là phía đông cánh cung sông Gâm, phía tây cánh cung Ngân Sơn (đều thuộc Bắc Cạn) và một phần phía tây của cánh cung Bắc Sơn. Thượng nguồn sông Cầu dòng hẹp, có độ dốc lớn nên thường sinh ra lũ quét. Về đến hạ lưu, sông Cầu còn được nhận thêm nước từ hồ Núi Cốc, sông Công (Thái Nguyên) và sông Cà Lồ (Vĩnh Phúc) chảy vào. Hạ lưu sông Cầu từ Thái Nguyên tới Phả Lại, dòng sông rộng, địa hình hai bên sông thấp, bằng phẳng nên nước chảy hiền hòa. Dòng chảy sông Cầu chia làm hai mùa rõ rệt, mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9, muộn thì tháng 10, mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau và cạn nhất là các tháng 1-2-3. Mùa cạn, nước sông Cầu trong xanh và chảy chậm nên mới có câu: “Sông Cầu nước chảy lơ thơ”.
Hạ lưu sông Cầu chảy giữa đồng bằng phì nhiêu của các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, nên từ thời Hùng Vương dựng nước, bên đôi bờ sông Cầu đã có khá đông người Việt tụ cư sinh sống. Kết quả nhiều cuộc khảo cổ học, nhiều di tích lịch sử và truyền thuyết đã nói lên điều đó.
Thời kỳ thuộc Pháp, người Pháp đã cho xây dựng một đập nước ở Thái Nguyên để đưa nước tưới cho nhiều vùng ở bắc và nam sông Cầu. Ngày
 








Các ý kiến mới nhất