Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 20. Hầu Trời

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Lê Hoàn
Ngày gửi: 22h:17' 04-06-2008
Dung lượng: 131.0 KB
Số lượt tải: 1377
Số lượt thích: 0 người
Hầu Trời
Tản Đà
A. Mục tiêu bài học:
Giúp HS:
- Hiểu được ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ của Tản Đà thể hiện qua cách nhà thơ hư cấu câu huyện hầu Trời.
- Thấy được những nét cách tân trong nghệ thuật thơ Tản Đà và mối quan hệ giữa chúng với quan niệm mới về nghề văn của ông.
B. Phương pháp và hình thức tiến hành tổ chức dạy học:
Khi hướng dẫn HS đọc hiểu, chỉ cần tập trung phân tích đoạn chữ in to ( từ câu 25 đến câu 98 ), còn các đoạn thơ khác chỉ đọc tham khảo. Với một số câu thơ, khổ thơ, HS chỉ cần nắm được đại ý của chúng là đủ, miễn sao cảm nhận được đúng hơi thở, giọng thơ chung.
C. Tiến trình tổ chức dạy học:
* Tổ chức kiểm tra bài cũ:
- Anh ( chị ) hãy trình bày ngắn gọn hoàn cảnh ra đời bài thơ Xuất dương lưu biệt ?
- Anh ( chị ) hãy đọc hai câu thơ mở đầu và hãy so sánh với những câu thơ nói về chí làm trai của các nhà nho thuở trước, tìm chỗ đồng điệu và khác biệt.
* Tiến trình bài mới:








Đọc phần tiểu dẫn trong SGK và cho biết những nét chính về Tản Đà ?






















































Anh ( chị ) hãy nêu vị trí của Tản Đà trong văn học dân tộc ? Đồng thời, nêu lên sức hấp dẫn của thơ ông và kể tên những tác phẩm chính của ông ?























Bài thơ Hầu Trời được ra đời trong thời gian nào và được in trong tập nào ?

Anh ( chị ) hãy chô biết ý nghĩa nhan đề bài thơ ?




Anh ( chị ) có nhận xét gì về đề tài bài thơ ?












Anh ( chị ) hãy nêu chủ đề bài thơ ?




Bài thơ được viết theo thể loại gì ?

Anh ( chị ) có nhận xét gì về âm điệu của bài thơ ?



Bài thơ có thể chia làm mấy phần ? Hãy nêu nội dung chính của từng phần.



















































Anh ( chị ) hãy trình bày diễn biến câu chuyện hầu Trời ? Đồng thời, hãy nhận xét về diễn biến đó.




























































































Anh ( chị ) hãy phân tích bốn câu thơ mở đầu bài thơ ? Từ đó, cho biết các vào chuyện hầu Trời của tác giả có gì đặc biệt ?

































































Tâm trạng của thi sĩ khi đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe có điều gì đặc biệt ? Qua đó, anh ( chị ) cảm nhận được điều gì về cá tính nhà thơ và về những niềm khao khát chân thành trong con người thi sĩ ? Trong buổi giao thời giữa văn học hiện đại, niềm khao khát ấy có ý nghĩa như thế nào ?
































Trước tâm trạng của thi sĩ như vậy thì Trời và chư tiên đã có thái độ như thế nào ?
























































































































Cách xưng danh của tác giả có gì đặc biệt ? Anh ( chị ) hãy phân tích để thấy rõ sự đặc biệt đó. Hãy nêu một số trường hợp xưng danh khác trong văn học trung đại ?

































































Tác giả đã trình bày tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn và thực hành thiên lương ở hạ giới như thế nào ?
























































































































































































































Nghệ thuật bài thơ có gì mới và hay ( chú ý về mặt thể loại, ngôn ngữ, cách biểu hiện cảm xúc,... ) ?
















































Anh ( chị ) hãy chốt lại nội dung chính của bài Hầu Trời ?









Cái mà người ta thường gọi là ngông của Tản Đà được thể hiện như thế nào trong bài thơ ? Hãy nêu những điểm gần gũi và khác biệt giữa cái ngông của Tản Đà với cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng ?



I. Tiểu dẫn:
1. Tác giả:
- Tản Đà ( 1889 - 1939 ) tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu, người làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây ( nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây ). Làng ông nằm ven sông Đà, gần núi Tản Viên. Nhà thơ đã lấy tên núi, tên sông đó ghép lại thành bút danh của mình.
- Ông sinh ra trong buổi giao thời, Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới manh nha, nên con người ông kể cả học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn người của hai thể kỉ.
- Ông xuất thân trong một gia đình quan lại phong kiến nhưng lại sống theo phương thức của lớp tiểu tư sản thành thị, học chữ Hán từ nhỏ nhưng lại sớm chuyển sang sáng tác bằng chữ quốc ngữ và rất ham học hỏi để tiến kịp thời đại. Vì vậy, ông là một con người hào hoa, phóng túng, không chịu khép mình trong khuôn khổ Nho giáo.
- Ông sáng tác văn chương chủ yếu theo những thể loại cũ nhưng nguồn cảm xúc lại rất mới mẻ.
- Tản Đà là nhà văn đầu tiên ở Việt Nam sống bằng nghề viết văn, làm báo.
- Cuộc đời ông vui ít, buồn nhiều, càng về cuối càng chật vật. Có điều đáng quý là trước sau Tản Đà vẫn giữ được mình trong sạch.
2. Sự nghiệp sáng tác:
- Ông viết thành công ở nhiều thể loại, nhưng làm nên một Tản Đà danh tiếng, trước hết là thơ.
- Tản Đà đặt cầu nối giữa hai thời đại văn học dân tộc: từ trung đại sang hiện đại.
- Thơ văn ông chinh phục độc giả bởi một điệu tâm hồn mới mẻ, với sự hiện diện của cái tôi lãng mạn bay bổng, vừa ngông nghênh phớt đời, vừa cảm thương ưu ái. Giữa lúc thơ phú nhà Nho tàn cuộc, Tản Đà có lối đi riêng - vừa tìm về với ngọn nguồn thơ ca dân gian, dân tộc, vừa có những nét sáng tạo độc đáo và tài hoa.
- Những tác phẩm chính: Còn chơi ( thơ, 1921 ), Giấc mộng lớn ( văn xuôi, 1928 ), Thiên thai ( tuồng ),...
3. Tác phẩm:
a. Giới thiệu bài thơ:
Bài thơ ra đời vào đầu những năm 20 của thể kỉ XX và được in trong tập Còn chơi ( 1921 ) của Tản Đà. Bài thơ thể hiện những dấu hiệu mới về hình thức trong thơ của tác giả.
b. Nhan đề bài thơ:
Bài thơ có nhan đề mới nghe qua có vẻ lạ, nhưng nếu biết tác giả là thi sĩ Tản Đà thì ta có thể hiểu được vì sao lại có cái nhan đề Hầu Trời ấy. Qua nhan đề Hầu Trời, dường như tác giả muốn thể hiện khát vọng muốn khẳng định chính mình giữa cuộc đời, và thể hiện cái ngông của mình.
c. Đề tài bài thơ:
Ở lớp 8, chúng ta được học bài thơ Muốn làm thằng cuội thì bài Hầu Trời này có thể xem là một sự tiếp nối cái mạch thơ lên Thiên đình, Tiên giới với cảm hứng lãng mạn bay bổng của cái tôi ngông nghênh, phóng túng, in đậm cá tính của Tản Đà.
Như vậy, đây là đề tài quen thuộc trong văn học trung đại, nhưng Tản Đà muốn mượn đề tài quen thuộc để thể hiện ý tưởng mới mẻ. Yếu tố mới là thể hiện cái tôi cá nhân đầy bản lĩnh và tự tin của nhà thơ. Phải chăng, hiện thực không cho phép tài năng của ông được thể hiện và ông không tìm được tri âm tri kỉ giữa chốn văn chương hạ giới rẻ như bèo nên khiến ông phải tìm lên Thiên đình để có thể được thỏa nguyện ước mong của mình.
d. Chủ đề bài thơ:
Bài thơ đã trình bày lí do cùng thời điểm lên đọc thơ hầu Trời để bộc lộ cái tôi tài hoa, phóng túng và khao khát được khẳng định mình giữa cuộc đời. Đồng thời, nhà thơ cũng trần tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn và thực hành thiên lương ở hạ giới, cùng phút lưu luyến tiễn biệt khi trở về.
e. Thể loại bài thơ:
Bài thơ viết theo thể Thất ngôn trường thiên, rất phù hợp với cảm xúc phóng túng, tự do.
f. Âm điệu bài thơ:
Âm điệu của bài thơ cũng có sự chuyển biến linh hoạt. Âm điệu gắn liền với mạch truyện:
- Vui, hào hứng và sôi nổi ( đoạn một và hai ).
- Sự xót xa có xen vào chút an ủi của Trời ( đoạn ba ).
- Ngậm ngùi, tiếc nuối ( đoạn bốn ).
II. Bố cục văn bản:
Bài thơ có thể chia làm 4 phần:
- Đoạn 1 ( từ đầu ( Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy ): lí do cùng thời điểm được gọi lên hầu Trời.
- Đoạn 2 ( tiếp theo ( Đày xuống hạ giới vì tội ngông ): cuộc đọc thơ đầy đắc ý cho Trời và chư tiên nghe giữa chốn thiên đình; và việc xưng danh của tác giả.
- Đoạn 3 (tiếp theo ( Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết ): trần tình với Trời về tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn và thực hành thiên lương ở hạ giới.
- Đoạn 4 ( còn lại ): cuộc chia tay đầy xúc động với Trời và chư tiên.
( Bài thơ có bố cục rất mạch lạc và rõ ràng. Mạch chính là kể chuyện theo trình tự thời gian, giúp người đọc dễ theo dõi. Xen vào kể chuyện là những chi tiết được hư cấu, tưởng tượng kích thích người đọc, người nghe.
III. Đọc hiểu văn bản:
1. Diễn biến câu chuyện hầu Trời:
Diễn biến câu chuyện hầu Trời được sắp xếp một cách rất logic:
- Nằm một mình ( buồn ( đun nước uống ( ngâm văn ( đi lại chơi trăng.
- Tiên xuống ( nêu lí do ( đưa lên Trời.
- Được đón tiếp trọng vọng ( được mời đọc thơ ( chư tiên xúm vào ca ngợi, tán thưởng ( Trời truyền hỏi danh tính.
- Kể tình cảnh và bày tỏ nỗi lòng ( Trời đả thông tư tưởng ( Trời sai đóng xe đưa về ( lạy tạ ra về.
( Chuyện như bịa đặt hoàn toàn mà như thật, lại rất vui, rất lạ và rất hóm hỉnh. Đó chính là nét mới trong nghệ thuật cấu tứ bài thơ dài của tác giả. Việc hư cấu nên cả một câu chuyện trong bài thơ này có ý nghĩa cách tân nhất định. Nó như muốn đưa thơ trữ tình dần thoát khỏi nhiệm vụ tỏ chí nghiêm trang, khắc khổ để tiện giãi bày cảm xúc phóng khoáng của con người cá nhân và xây dựng một quan hệ giao tiếp mới đối với độc giả thành thị khi đó.
2. Cách vào chuyện của tác giả:
- Ai cũng biết câu chuyện lên thiên đình hầu Trời của tác giả là câu chuyện hoàn toàn hư cấu, không có thực. Nhưng ngay khổ thơ mở đầu, tác giả đã tạo ra cho người đọc thấy đây là một câu chuyện có thật với một nghệ thuật độc đáo.
- Câu thơ mở đầu tiên đã tạo ra một không khí nửa hư nửa thực để gây được ở người đọc một mối nghi vấn nhằm gợi trí tò mò:
Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chuyện có vẻ như mộng mơ, như bịa đặt, chẳng biết có hay không, nhưng dường như lại là thật, thật hoàn toàn bởi tác giả đã bồi đắp ba câu thơ bằng những lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, nhắc đi nhắc lại bốn lần chữ thật với nhịp thơ dồn dập ngăn cách bằng những dấu cảm thán như để củng cố thêm niềm tin:
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể !
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.
Như vậy, ba câu thơ dường như muốn nói không còn điều gì phải nghi ngờ nữa. Cái bàng hoàng vì lạ lùng, đột ngột bị át đi bởi cái sướng lạ lùng vì được lên Trời, gặp tiên.
( Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả
 
Gửi ý kiến

Hãy thử nhiều lựa chọn khác