Tìm kiếm Giáo án
Góc nhìn sông Đà

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 16h:24' 20-03-2008
Dung lượng: 34.0 KB
Số lượt tải: 147
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 16h:24' 20-03-2008
Dung lượng: 34.0 KB
Số lượt tải: 147
Số lượt thích:
0 người
I – Phần Đặt vấn đề
Tuỳ bút là một thể văn cho phép tác giả viết một cách ngẫu hứng và bộc lộ những thăng hoa của cảm xúc.“Sông Đà” là tập tuỳ bút nổi tiếng của Nguyễn Tuân xuất bản năm 1960. Với mười lăm tuỳ bút và một bài thơ “phác thảo”, Nguyễn Tuân đã cho chúng ta những cảm nhận tinh tế, phong phú về thiên nhiên và con người Tây Bắc. “Người lái đò sông Đà” là một thiên tuỳ bút xuất sắc nhất trong tập “Sông Đà”. Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc hội tụ trong vẻ đẹp của dòng sông Đà. Trong lịch sử văn học dân tộc, chưa có dòng sông nào được miêu tả đầy đặn đến thế, hấp dẫn đến thế và có khả năng gợi mở đến không cùng. Thiên tuỳ bút vừa là một công trình khảo cứu công phu vừa là áng văn trữ tình giàu tính thẩm mỹ về con Sông Đà và những gì sinh sống ở trên và quanh con sông đó. Miêu tả, kể chuyện về một dòng sông, một vùng đất, cuộc sống của con người và muôn loài cây cỏ chim muông thuộc miền tây tổ quốc, nhà văn Nguyễn Tuân đã biểu hiện một trình độ hiểu biết cực kỳ sâu rộng và một tình yêu vô cùng tha thiết, bao la đối với thiên nhiên cũng như cuộc sống con người Việt Nam từ cội nguồn xa xưa, đến hiện tại ngày nay. Những góc độ tiếp cận và miêu tả đa dạng, phong phú của tác giả đã làm nên những giá trị đó của tác phẩm. Tuy nhiên từ trước đến nay hình tượng sông đà đã được nghiên cứu, tìm hiểu khá nhiều nhưng cách tiếp cận chưa được trọn vẹn, đầy đủ, chủ yếu dừng lại ở hai dặc điểm của dòng sông mà quên đi, hoặc lướt qua cái tôi tác giả trực tiếp biểu hiện, y như trong một áng thơ trữ tình. Chính vì thế trong phạm vi bài viết này xin được trình bày một cách khám phá, tiếp cận riêng tác phẩm tuỳ bút này là đặt mình vào Nguyễn Tuân để cảm xúc cùng ông về hình tượng sông Đà từ ba góc nhìn.
II – Phần nội dung
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo bởi cách cấu trúc câu trùng điệp, cách so sánh độc đáo, cách liên tưởng bất ngờ…Viết tuỳ bút sông Đà là dịp để ngôn ngữ Nguyễn Tuân thoải mái phô diễn sự giàu có, biến hoá và điêu luyện. Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà trở thành một hình tượng văn học hoàn chỉnh với hai đặc trưng tiêu biểu: Sông Đà hung bạo và sông Đà trữ tình. Nếu như ở đặc trưng thứ nhất, Nguyễn Tuân lựa chọn góc độ tiếp cận là nhập vai người lái đò trong cuộc chiến đấu gian lao “trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà”, thì ở đặc trưng thứ hai, tác giả lại trực tiếp làm một cuộc thưởng ngoạn sông Đà. Chính góc độ tiếp cận này đã giúp cho sông Đà trở nên có hồn hơn, cho phép tác giả thả sức múa bút và khiến người đọc có cảm giác vẻ đẹp của sông Đà là vô hạn. Hiệu quả của việc lựa chọn góc độ tiếp cận thể hiện ở cả ba phương diện: hình tượng nhân vật, hình tượng tác giả và người tiếp nhận, đã cho thấy sự tài hoa ở độ “bậc nhất không người kế cận” của ngòi bút Nguyễn Tuân.
Để hoàn thiện vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Tây Bắc, Nguyễn Tuân tìm được ba góc nhìn khác nhau. Khi thì “Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà” để phát hiện ra những vẻ đẹp lung linh, đa dạng không lặp lại của dòng sông. Khi thì “ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng” bất ngờ bước chân “đổ ra sông Đà” để rồi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp “gợi cảm” của nó. Và cuối cùng ngồi trên thuyền làm “ông khách sông Đà” để cảm nhận một cách tinh tế cái không khí “lặng tờ”, im vắng của dòng sông. Ba góc nhìn khác nhau đem đến ba vẻ đẹp tạo nên ấn tượng kì thú cho chúng ta- những người chưa biết sông Đà, được biết sông Đà và thấy yêu mến dòng sông vô cùng.
Khi ngồi trên tàu bay “tạt ngang qua Sông Đà”, Nguyễn Tuân cảm thấy thích thú trước vẻ đẹp của dáng hình con sông. Nhìn con sông ở mỗi độ cao khác nhau, tác giả lại thấy sông Đà xuất hiện với một nét đẹp riêng đầy ấn tượng. Khi máy bay ở tầm cao đầu tiên, nhà văn thấy con sông hiển hiện với hình ảnh “cái dây thừng ngoằn ngoèo” nhỏ bé, tưởng như rất lành hiền, hoá ra “lại chính là cái con sông hàng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà”. Sự ngạc nhiên, thích thú chính là cảm xúc của tác giả ở góc nhìn mới mẻ này. Hạ một chút độ cao, Nguyễn Tuân lại có cái cảm giác vừa quen vừa lạ. Có cảm giác ấy là bởi vì trước đây nhà văn mới chỉ “quen đọc bản đồ sông núi” nên khi “ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la” mới thấy quen thuộc làm sao với “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”. Và lần thứ ba- có thể ở độ cao năm nghìn mét, độ cao vừa phải để có thể cảm nhận rõ nét về dáng hình con sông, Nguyễn Tuân đã thả hồn bay bổng trong hình ảnh “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Hai mươi ba từ- bốn mươi hai âm tiết trong một câu văn chưa phải là dài, đủ để cho thấy sự say sưa, mê đắm của Nguyễn Tuân khi ngắm nhìn mái tóc mê hồn của nàng xuân Tây Bắc đó là dòng sông Đà.
ở góc nhìn này, Nguyễn Tuân còn lựa chọn những điểm nhìn khác và thay đổi cái nhìn đối với sông Đà. Đó là điểm nhìn qua “làn mây mùa xuân” và “qua đám mây mùa thu” và “nhìn xuống dòng nước Sông Đà”. Điểm nhìn phong phú cũng tạo nên những vẻ đẹp kì thú không lặp lại. Từ vẻ đẹp của dáng hình nay sông Đà tạo nét duyên riêng ở màu nước của dòng sông. Vào mùa xuân, dòng nước sông Đà xanh màu ngọc bích, một màu xanh ấn tượng, đẹp đẽ đến mức làm nảy sinh trong người du khách một mối liên tưởng, so sánh: “chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô”. Còn mùa thu, “nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ”, cái màu đỏ chỉ có trong mối liên tưởng của nhà văn, màu đỏ “như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Màu nước sông Đà độc đáo đến thế, đáng tự hào đến thế thì thử hỏi một người tha thiết yêu quê hương đất nước như Nguyễn Tuân không bực bội sao được khi từng biết đến sự cẩu thả, kém cỏi của lũ thực dân khi viết tên sông Đà trên bản đồ nước ta.
Đổi sang một góc nhìn khác, Nguyễn Tuân lại khám phá ra một vẻ đẹp hiếm lạ của sông Đà, đó là sự gợi cảm của con sông. Đã là sự gợi cảm thì “Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách”. Với người nghệ sĩ họ Nguyễn, sông Đà gợi lên niềm vui đặc biệt. Vui đến mức “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Còn so sánh nào diễn tả đạt hơn, sống động hơn niềm vui ngập tràn, phơi phới của Nguyễn Tuân khi trông thấy con sông? Vậy niềm vui ấy đến từ đâu? Đến khi người lữ hành bất ngờ bị bắt mắt bởi mặt nước loang loáng “như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Cái miếng sáng ấy loé lên một màu nắng rất cổ điển- “màu nắng tháng ba Đường thi” trong bài thơ Đường của Lí Bạch. Niềm vui cứ ngân lên khi mở ra trước mắt người lữ hành đang chồn chân, mỏi mắt sau một chuyến đi rừng dài ngày là một không gian thoáng đãng và rập rờn cánh chuồn cánh bướm: “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi…”! Cái cảm giác “thấy thèm chỗ thoáng” đã được thoả. Còn gì vui hơn khi được gặp một con sông hợp tình, hợp cảnh đến thế! Sông với người chẳng khác nào cố nhân xa lâu ngày nay mới gặp lại. Tình cảm ấy nó “đằm đằm ấm ấm”không dễ nhạt phai mặc dù người cố nhân ấy, Nguyễn Tuân biết thật “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. Bởi sông Đà là cố nhân nên có từ “sông” nào mà nhà văn không viết hoa? Rõ ràng, cái gợi cảm của sông Đà với Nguyễn Tuân là cái gợi cảm đằm sâu mang màu nâu trầm của một cõi lòng cổ điển!
Tìm thêm một góc độ tiếp cận mới đầy thi vị, Nguyễn Tuân tiếp tục khám phá vẻ đẹp sông Đà với niềm hứng khởi, say mê không hề vơi đi chút nào. Ngồi trên con thuyền thả trôi theo dòng nước, mái chèo buông cho khỏi động vỡ không khí của cảnh ven sông, Nguyễn Tuân đã lắng được cái vẻ “lặng tờ” cố hữu của sông Đà. Vẻ lặng tờ của sông Đà không phải là “cái áo khoác ngoài vay mượn”, mà là “áo da áo thịt” của con sông, mà người cảm được nó thấy “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”.
Đong được cái không khí ấy, Nguyễn Tuân thả hồn trôi theo những khung cảnh ven sông. Chỗ này là một nương ngô đang “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, dẫu gió sông thổi qua cũng không thể xào xạc. Chỗ kia “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp” trổ cái nhọn hoắt vào cái im vắng của không gian. “Mà tịnh không một bóng người”. Chỉ có “Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh” chưa dấu người qua nên còn “đẫm sương đêm”. Thấy “người thơ” đang “lừ lừ trôi trên một mũi đò”, con hươu thơ ngộ “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”, chăm chăm nhìn bằng đôi mắt
Tuỳ bút là một thể văn cho phép tác giả viết một cách ngẫu hứng và bộc lộ những thăng hoa của cảm xúc.“Sông Đà” là tập tuỳ bút nổi tiếng của Nguyễn Tuân xuất bản năm 1960. Với mười lăm tuỳ bút và một bài thơ “phác thảo”, Nguyễn Tuân đã cho chúng ta những cảm nhận tinh tế, phong phú về thiên nhiên và con người Tây Bắc. “Người lái đò sông Đà” là một thiên tuỳ bút xuất sắc nhất trong tập “Sông Đà”. Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc hội tụ trong vẻ đẹp của dòng sông Đà. Trong lịch sử văn học dân tộc, chưa có dòng sông nào được miêu tả đầy đặn đến thế, hấp dẫn đến thế và có khả năng gợi mở đến không cùng. Thiên tuỳ bút vừa là một công trình khảo cứu công phu vừa là áng văn trữ tình giàu tính thẩm mỹ về con Sông Đà và những gì sinh sống ở trên và quanh con sông đó. Miêu tả, kể chuyện về một dòng sông, một vùng đất, cuộc sống của con người và muôn loài cây cỏ chim muông thuộc miền tây tổ quốc, nhà văn Nguyễn Tuân đã biểu hiện một trình độ hiểu biết cực kỳ sâu rộng và một tình yêu vô cùng tha thiết, bao la đối với thiên nhiên cũng như cuộc sống con người Việt Nam từ cội nguồn xa xưa, đến hiện tại ngày nay. Những góc độ tiếp cận và miêu tả đa dạng, phong phú của tác giả đã làm nên những giá trị đó của tác phẩm. Tuy nhiên từ trước đến nay hình tượng sông đà đã được nghiên cứu, tìm hiểu khá nhiều nhưng cách tiếp cận chưa được trọn vẹn, đầy đủ, chủ yếu dừng lại ở hai dặc điểm của dòng sông mà quên đi, hoặc lướt qua cái tôi tác giả trực tiếp biểu hiện, y như trong một áng thơ trữ tình. Chính vì thế trong phạm vi bài viết này xin được trình bày một cách khám phá, tiếp cận riêng tác phẩm tuỳ bút này là đặt mình vào Nguyễn Tuân để cảm xúc cùng ông về hình tượng sông Đà từ ba góc nhìn.
II – Phần nội dung
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo bởi cách cấu trúc câu trùng điệp, cách so sánh độc đáo, cách liên tưởng bất ngờ…Viết tuỳ bút sông Đà là dịp để ngôn ngữ Nguyễn Tuân thoải mái phô diễn sự giàu có, biến hoá và điêu luyện. Qua ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà trở thành một hình tượng văn học hoàn chỉnh với hai đặc trưng tiêu biểu: Sông Đà hung bạo và sông Đà trữ tình. Nếu như ở đặc trưng thứ nhất, Nguyễn Tuân lựa chọn góc độ tiếp cận là nhập vai người lái đò trong cuộc chiến đấu gian lao “trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà”, thì ở đặc trưng thứ hai, tác giả lại trực tiếp làm một cuộc thưởng ngoạn sông Đà. Chính góc độ tiếp cận này đã giúp cho sông Đà trở nên có hồn hơn, cho phép tác giả thả sức múa bút và khiến người đọc có cảm giác vẻ đẹp của sông Đà là vô hạn. Hiệu quả của việc lựa chọn góc độ tiếp cận thể hiện ở cả ba phương diện: hình tượng nhân vật, hình tượng tác giả và người tiếp nhận, đã cho thấy sự tài hoa ở độ “bậc nhất không người kế cận” của ngòi bút Nguyễn Tuân.
Để hoàn thiện vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Tây Bắc, Nguyễn Tuân tìm được ba góc nhìn khác nhau. Khi thì “Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà” để phát hiện ra những vẻ đẹp lung linh, đa dạng không lặp lại của dòng sông. Khi thì “ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng” bất ngờ bước chân “đổ ra sông Đà” để rồi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp “gợi cảm” của nó. Và cuối cùng ngồi trên thuyền làm “ông khách sông Đà” để cảm nhận một cách tinh tế cái không khí “lặng tờ”, im vắng của dòng sông. Ba góc nhìn khác nhau đem đến ba vẻ đẹp tạo nên ấn tượng kì thú cho chúng ta- những người chưa biết sông Đà, được biết sông Đà và thấy yêu mến dòng sông vô cùng.
Khi ngồi trên tàu bay “tạt ngang qua Sông Đà”, Nguyễn Tuân cảm thấy thích thú trước vẻ đẹp của dáng hình con sông. Nhìn con sông ở mỗi độ cao khác nhau, tác giả lại thấy sông Đà xuất hiện với một nét đẹp riêng đầy ấn tượng. Khi máy bay ở tầm cao đầu tiên, nhà văn thấy con sông hiển hiện với hình ảnh “cái dây thừng ngoằn ngoèo” nhỏ bé, tưởng như rất lành hiền, hoá ra “lại chính là cái con sông hàng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà”. Sự ngạc nhiên, thích thú chính là cảm xúc của tác giả ở góc nhìn mới mẻ này. Hạ một chút độ cao, Nguyễn Tuân lại có cái cảm giác vừa quen vừa lạ. Có cảm giác ấy là bởi vì trước đây nhà văn mới chỉ “quen đọc bản đồ sông núi” nên khi “ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la” mới thấy quen thuộc làm sao với “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”. Và lần thứ ba- có thể ở độ cao năm nghìn mét, độ cao vừa phải để có thể cảm nhận rõ nét về dáng hình con sông, Nguyễn Tuân đã thả hồn bay bổng trong hình ảnh “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Hai mươi ba từ- bốn mươi hai âm tiết trong một câu văn chưa phải là dài, đủ để cho thấy sự say sưa, mê đắm của Nguyễn Tuân khi ngắm nhìn mái tóc mê hồn của nàng xuân Tây Bắc đó là dòng sông Đà.
ở góc nhìn này, Nguyễn Tuân còn lựa chọn những điểm nhìn khác và thay đổi cái nhìn đối với sông Đà. Đó là điểm nhìn qua “làn mây mùa xuân” và “qua đám mây mùa thu” và “nhìn xuống dòng nước Sông Đà”. Điểm nhìn phong phú cũng tạo nên những vẻ đẹp kì thú không lặp lại. Từ vẻ đẹp của dáng hình nay sông Đà tạo nét duyên riêng ở màu nước của dòng sông. Vào mùa xuân, dòng nước sông Đà xanh màu ngọc bích, một màu xanh ấn tượng, đẹp đẽ đến mức làm nảy sinh trong người du khách một mối liên tưởng, so sánh: “chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô”. Còn mùa thu, “nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ”, cái màu đỏ chỉ có trong mối liên tưởng của nhà văn, màu đỏ “như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”. Màu nước sông Đà độc đáo đến thế, đáng tự hào đến thế thì thử hỏi một người tha thiết yêu quê hương đất nước như Nguyễn Tuân không bực bội sao được khi từng biết đến sự cẩu thả, kém cỏi của lũ thực dân khi viết tên sông Đà trên bản đồ nước ta.
Đổi sang một góc nhìn khác, Nguyễn Tuân lại khám phá ra một vẻ đẹp hiếm lạ của sông Đà, đó là sự gợi cảm của con sông. Đã là sự gợi cảm thì “Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách”. Với người nghệ sĩ họ Nguyễn, sông Đà gợi lên niềm vui đặc biệt. Vui đến mức “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Còn so sánh nào diễn tả đạt hơn, sống động hơn niềm vui ngập tràn, phơi phới của Nguyễn Tuân khi trông thấy con sông? Vậy niềm vui ấy đến từ đâu? Đến khi người lữ hành bất ngờ bị bắt mắt bởi mặt nước loang loáng “như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Cái miếng sáng ấy loé lên một màu nắng rất cổ điển- “màu nắng tháng ba Đường thi” trong bài thơ Đường của Lí Bạch. Niềm vui cứ ngân lên khi mở ra trước mắt người lữ hành đang chồn chân, mỏi mắt sau một chuyến đi rừng dài ngày là một không gian thoáng đãng và rập rờn cánh chuồn cánh bướm: “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi…”! Cái cảm giác “thấy thèm chỗ thoáng” đã được thoả. Còn gì vui hơn khi được gặp một con sông hợp tình, hợp cảnh đến thế! Sông với người chẳng khác nào cố nhân xa lâu ngày nay mới gặp lại. Tình cảm ấy nó “đằm đằm ấm ấm”không dễ nhạt phai mặc dù người cố nhân ấy, Nguyễn Tuân biết thật “lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. Bởi sông Đà là cố nhân nên có từ “sông” nào mà nhà văn không viết hoa? Rõ ràng, cái gợi cảm của sông Đà với Nguyễn Tuân là cái gợi cảm đằm sâu mang màu nâu trầm của một cõi lòng cổ điển!
Tìm thêm một góc độ tiếp cận mới đầy thi vị, Nguyễn Tuân tiếp tục khám phá vẻ đẹp sông Đà với niềm hứng khởi, say mê không hề vơi đi chút nào. Ngồi trên con thuyền thả trôi theo dòng nước, mái chèo buông cho khỏi động vỡ không khí của cảnh ven sông, Nguyễn Tuân đã lắng được cái vẻ “lặng tờ” cố hữu của sông Đà. Vẻ lặng tờ của sông Đà không phải là “cái áo khoác ngoài vay mượn”, mà là “áo da áo thịt” của con sông, mà người cảm được nó thấy “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”.
Đong được cái không khí ấy, Nguyễn Tuân thả hồn trôi theo những khung cảnh ven sông. Chỗ này là một nương ngô đang “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, dẫu gió sông thổi qua cũng không thể xào xạc. Chỗ kia “Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp” trổ cái nhọn hoắt vào cái im vắng của không gian. “Mà tịnh không một bóng người”. Chỉ có “Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh” chưa dấu người qua nên còn “đẫm sương đêm”. Thấy “người thơ” đang “lừ lừ trôi trên một mũi đò”, con hươu thơ ngộ “ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”, chăm chăm nhìn bằng đôi mắt
 









Các ý kiến mới nhất