Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Giáo án cả năm

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lữ Hùng
Ngày gửi: 15h:21' 21-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 37
Số lượt thích: 0 người
TÂY TIẾN
Quang Dũng
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
- Quang Dũng (1921 - 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm. Quê ở Hà Tây (nay là
Hà Nội).
- Sau CMTT, ông tham gia vào quân đội. Ông là người nghệ sĩ đa tài: Viết văn, làm
thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. → Hồn thơ Quang Dũng phóng khoáng, hần hậu, lãng mạn và
tài hoa.
- Tác phẩm tiêu biểu: Mây đầu ô, Tuyển tập thơ văn Quang Dũng.
2. Bài thơ:
a. Đoàn quân Tây Tiến.
- Tây Tiến là tên đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947.
- Nhiệm vụ: Phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biện giới Việt - Lào và đánh tiêu
hao lực lượng quân đội Pháp.
- Địa bàn đóng quân và hoạt động rộng lớn: Bao gồm các tỉnh Lai Châu, Hoà
Bình, miền Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào).
- Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh
viên.
- Cuộc sống: gian khổ, vô cùng thiếu thốn, chết vì bệnh nhiều hơn chết trận. Tuy
vậy, họ sống lạc quan và dũng cảm.
b. Hoàn cảnh sáng tác:
- Quang Dũng là đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến (1947)
- Cuối năm 1948, ông được chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa được bao
lâu, tại làng Phù Lưu Chanh, QD viết bài thơ Nhớ Tây Tiến → sau đổi thành “Tây Tiến”
in trong tập “Mây đầu ô”.
c. Bố cục;
- Đoạn 1: Nhớ về thiên nhiên Tây Bắc với những cuộc hành quân gian khổ của đoàn
quân Tây Tiến.
- Đoạn 2: Nhớ kỉ niệm ấm áp tình quân dân.
- Đoạn 3: Bức chân dung người lính Tây Tiến.
- Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và Tây Bắc.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. Đoạn 1: Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian khổ
a. 2 câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và
không gian
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗi nhớ
có khi lắng xuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành tiếng gọi tha
thiết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi.
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt. Dòng sông ấy đã gắn bó
với đoàn quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh.
Vì thế, Quang Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến là còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc,
hơn thế nữa có thể đây còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm
đầy vơi trong lòng thi nhân.
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Đó
là nơi rừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,...

+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị
ngay từ những ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của
mình.
- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:
+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi: Tây
Tiến ơi!. Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng thái hụt hẫng cùng
với khát vọng trở về quá khứ thân thương mà hào hùng thuở nào.
+ Điệp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong
lòng thi nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi. Hai từ “nhớ” được đặt trong cùng một câu thơ
nhưng lại tách ra làm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc. Nỗi nhớ
dào dạt như những lớp sóng dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: “Nhớ về rừng núi/
nhớ chơi vơi”.
+ Nỗi nhớ của nhà thơ được miêu tả thật đặc sắc: “nhớ chơi vơ”i. Từ “chơi vơi” là
từ láy giàu sức gợi. Nỗi nhớ của Quang Dũng thật khó định hình, định lượng, khó diễn tả,
như gợi ra được cả sự xa xôi về thời gian, không gian, nỗi nhớ như có cả tầm cao, bồng
bềnh lan tỏa, không sao đong đếm được.
+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ “chơi vơi”
kết hợp với sự láy lại ba lần của vần ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở và dài có kết cấu
thanh bằng mang âm hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho nỗi nhớ như được ngân lên, nhớ
đến thiết tha, thường trực trong tâm hồn nhà thơ, cả không gian dường như cũng ngập tràn
trong nỗi nhớ của tác giả.
b. 6 câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên
chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến
Nỗi nhớ dắt nẻo nhà thơ trở về với những kỉ niệm khó quên gắn với thiên nhiên
miền Tây, làm hiện lên một không gian, cảnh vật miền Tây dữ dội, hiểm trở mà hùng vĩ
song cũng thật nên thơ, thi vị.
* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
- Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao, Mường
Lát, những địa danh này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát.
+ Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua,
từng gắn bó. Dường như chỉ cần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉ niệm của
quá khứ lại ào ạt chảy về trong tâm trí nhà thơ.
+ Những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưng cho một
không gian rất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn.
=> Những địa danh được nhà thơ nhắc đến không phải là những địa danh vô nghĩa trên bản
đồ mà đoàn quân Tây Tiến một thời đã đi qua mà nó đã tái hiện lại một thời kì lịch sử hào
hùng của dân tộc với biết bao khó khăn, gian khổ:
Những tên làng, tên núi, tên sông
Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.
* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:
- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như muốn
che lấp cả đoàn quân mỏi. Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người đọc trở về với cuộc
sống hiện thực khốc liệt của người lính. Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn
chìm đoàn quân.
- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải
là đêm sương khiến cho câu thơ thêm phần lãng mạn. Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo
nên sự huyền ảo, mơ hồ. Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh hoa về đã đem đến cho người đọc
nhiều suy ngẫm, có thể hiểu trong sự cảm nhận lãng mạn của người lính thì sương khói ở

Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ra trông như những bông hoa khói vậy. Cũng có thể, những
người lính Tây Tiến trên đường hành quân trở về Mường Lát họ mang theo những đóa hoa
rừng ngát hương thơm, hoa đang cùng bung nở trên chặng đường hành quân của người lính
Tây Tiến, là người bạn đồng hành của người lính. Đây là những bông hoa thực, hoa hiện
ra mờ ảo trong sương khói bồng bềnh.
=> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, gian khổ
mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua để ta hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh,
để thêm cảm phục, thêm yêu vẻ đẹp tâm hồn của những người lính trẻ mộng mơ. Những
hình ảnh ấy khiến cho đoạn thơ bớt đi sự dữ dằn của hiện thực, người đọc có cảm giác như
được xoa dịu, vơi đi những nhọc nhằn, vất vả mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng.
=> Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình
ảnh thơ mộng, đẹp đẽ kết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên
nhiên Tây Bắc vừa dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong
cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời.
* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao: khúc kkuỷu, thăm thẳm, heo hút đạt
giá trị biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp.
+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao
đã vội đổ dốc, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau → độ cao ngất trời.
+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu, cảm
giác như hút tầm mắt người, không biết đâu là giới hạn cuối cùng → Độ sâu hun hút.
+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở hai
vế gợi ra một địa hình hiểm trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu. Người đọc có cảm giác người
lính vừa vượt qua con dốc này lại thấy hiện ra những con dốc khác ngay trước mặt mình.
+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo ngữ
càng nhấn mạnh điều đó. Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi ra vị trí của
người lính Tây Tiến đứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi. Như vậy, dẫu câu thơ không
nhắc đến sự khó khăn nhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đường hành quân leo dốc,
vượt đèo mà người lính phải trải qua.
=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi
thành một bức phù điêu hùng vĩ về núi rừng Tây Bắc khiến người đọc liên tưởng đến chặng
đường hành quân của người chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Đoàn
Thị Điểm diễn Nôm):
Hình khe thế núi gần xa
Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời.
+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những
người lính Tây Tiến hành quân trong mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời.
+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa
của người lính Tây Tiến.
++ Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng
ngửi trời. Hình ảnh thơ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp
tâm hồn hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến. Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa
khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng trở nên có linh hồn sống động hơn. Người lính
đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo hóa. Câu thơ khiến người đọc liên tưởng đến hình
ảnh thơ mộng trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: Đầu súng trăng treo hay tâm hồn trẻ

trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của
Phạm Tiến Duật.
++ Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy
người lính, không nói núi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao. Chữ ngửi vẽ ra hình ảnh người
lính đang ở tư thế chót vót trên đỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm
trời. Điều đó cho thấy sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây
Tiến. Vẻ đẹp của con người trong tư thế sánh ngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh. Vẻ đẹp
của người lính Tây Tiến được tỏa sáng giữa đất trời Tây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn
học giai đoạn 1945 - 1975. Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của người lính trong văn học chống Pháp:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.
(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)
- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người. Tác giả
sử dụng nghệ thuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ ngàn thước với hai
động từ chỉ hướng lên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều
không gian Tây Bắc vừa có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm. Dốc đột ngột vút
lên thẳng đứng rồi lại đột ngột gãy gập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm.
- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:
+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ: Dốc
lên khúc khuỷu...ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc, rắn rỏi về địa
hình vùng cao Tây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô cùng gian nan mà
người lính Tây Tiến phải trải qua.
+ Thanh bằng được sử dụng trọn vẹn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông
mưa xa khơi đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu dàng, hiền hoà. Không gian được cảm
nhận qua điểm nhìn của người lính Tây Tiến khi người lính hành quân lên đến đỉnh núi
phóng tầm mắt ra xa, dưới kia là những ngôi nhà bồng bềnh trong biển mưa. Người đọc
không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏi bởi phải vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm
trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi vượt lên đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao
gian lao, vất vả, thử thách để có được cảm giác Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non (Hồ
Chí Minh).
=> Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúng
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âm nhạc và
hội họa nữa. Những câu thơ này thật xứng đáng là lời thơ Thi trung hữu họa, thi trung hữu
nhạc. Phải chăng vì thế mà Xuân Diệu cho rằng: Đọc thơ của Quang Dũng như ngậm nhạc
ở trong miệng. Trong những câu thơ này, Quang Dũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ
Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tả cảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội
để làm nổi bật lên hình ảnh người lính Tây Tiến trên bước đường hành quân và chiến đấu
đầy gian khổ, vất vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồn nhiên yêu đời, lãng mạn.
c. 6 câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân
gian khổ mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn
thân thiết, giữa những người đồng chí, đồng đội, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi.
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục. Đó là
những vất vả, gian lao mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân

gian khổ và quá trình chiến đấu với quân thù. Đặc biệt là chữ gục có nhiều cách hiểu: Có
thể đó là sự mệt mỏi khiến người lính ngủ gục trên súng mũ như muốn quên đi tất cả, có
thể đây là cách nói giảm, nói tránh diễn tả sự hi sinh của người lính vì Tổ quốc.
- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nói giảm,
nói tránh khi viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm từ: không bước
nữa, bỏ quên đời. Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Nhà thơ
Quang Dũng đã không ngần ngại nói đến cái chết mặc dù câu thơ không có từ nào nói đến
cái chết. Hiệu quả của nghệ thuật nói giảm nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi
được sự bình thản chứ không bi lụy. Tác giả không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời
thì mới thật ngang tàng, bất cần.Với cách nói này câu thơ có bi mà không có lụy, ngược lại
hết sức hùng tráng gợi ra chất phong trần, ngang tàng của người lính mang vẻ đẹp của
những tráng sĩ thuở xưa.
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét của thác,
bóng dáng của cọp trêu người.
+ Địa danh Mường Hịch: Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng địa danh
Mường Hịch đọc có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya. Hai chữ Hịch, cọp
với hai dấu nặng trĩu xuống nghe rờn rợn. Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến trường
người lính. Hai dấu chấm nặng như xoáy vào lòng đất gợi cảm giác ghê sợ, hãi hùng.
+ Sử dụng từ láy: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấn tượng mạnh
mẽ về thời gian diễn ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe
dọa khủng khiếp đối với người lính Tây Tiến. Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc
chiều tối, đêm sâu và thường xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà chiều
nào cũng thế, đêm nào cũng thế. Như vậy, người lính Tây Tiến không chỉ ngã xuống trước
họng súng của kẻ thù mà còn có thể bị ngã xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm.
- Tình quân dân thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi. Hai từ
này mang giọng điệu cảm thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt. Câu thơ có ba
thanh trắc ngắt quãng (nhớ…. Tiến…. khói) đều đặn tạo nên âm điệu câu thơ vút lên đẩy
nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất.
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi nếp dẻo ấm áp tình quân dân. Câu thơ
có hai cách hiểu.
++ Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu
người lính Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp
đầu mùa. Đặc biệt có bàn tay thơm thảo của em làm nên hương vị nồng ấm ấy làm vấn
vương lòng người chiến sĩ Tây Tiến. Hương nếp thơm hay đó chính là sự thơm thảo của
lòng người, của tình em nồng ấm? Điều này trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan
Viên đã từng viết:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
++ Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ mùa em là một sáng tạo
ngôn ngữ tài hoa của tác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương. Chữ
mùa gợi sự đầy đủ, ăm ắp sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ em gợi vẻ đẹp
xuân sắc của người thiếu nữ. Hai từ mùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê
của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãng mạn trước sản vật và con người Tây Bắc.

=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồi hộp,
xúc động khi được đón nhận tình cảm quân dân nồng ấm. Trong những năm tháng chiến
đấu gian khổ ấy, tình quân dân đã làm vơi đi những khó khăn mà người lính phải trải qua.
Đây sẽ mãi mãi là những kỉ niệm đẹp đẽ làm ấm lòng người lính trên chặng đường hành
quân gian lao, đầy thử thách.
- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa
ở cách xây dựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệ thuật tương phản,
nhân hóa, cách sử dụng từ ngữ, thể thơ thất ngôn trường thiên...
2. Nhớ những kỉ niệm quân dân ấm áp tình người.
a. Bốn câu thơ đầu: Đêm liên hoan lửa trại thắm thiết tình quân dân
- Trên chặng đường hành quân gian khổ người lính nghỉ chân ở bản làng của những
đồng bào dân tộc, đời sống tinh thần của họ được gửi gắm vào những đêm liên hoan văn
nghệ có đồng bào địa phương đến góp vui. Đó là thế giới tràn ngập ánh sáng, vũ điệu, âm
thanh: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
+ Hai chữ "doanh trại" chỉ là sự hoành tráng hóa cái nhìn của Quang Dũng
nâng hiện thực giản dị thành cái lớn lao vững mạnh gợi một không khí uy nghiêm hào hùng
trong những ngày tháng gian khổ. Bởi lẽ những người lính trong những ngày đầu cuộc
kháng chiến chống Pháp sinh hoạt rất thiếu thốn làm sao có thể có những doanh trại được.
Nhà thơ Nguyên Hồng cũng đã từng viết:
Chúng tôi đi
Sờn mép ba lô
Tháng năm bạn cùng thôn xóm

Chúng tôi đi mang đời lưu động
Nghỉ lại rất nhiều nơi không nhớ hết tên nhà
+ Đi cùng với hình ảnh doanh trại là "hội đuốc hoa". Nghĩa gốc của chữ
"đuốc hoa" là ngọn đèn thắp trong đêm tân hôn. Quang Dũng đã sáng tạo thành hội đuốc
hoa. H/ả này thật lãng mạn tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại vừa thiêng liêng.
Nhà thơ đã lấy sự đằm thắm trong tình yêu lứa đôi để ngợi ca sự đằm thắm trong tình nghĩa
quân dân cá nước. Đây là cảm xúc thường gặp trong thơ ca cách mạng. Ở bài Việt Bắc khi
nhớ về quê hương cách mạng Tố Hữu cũng đã từng viết:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương
+ Chữ "bừng" trong câu thơ đầu tiên diễn tả ánh sáng của những ngọn đuốc
đẩy lùi bóng tối của núi rừng. Mặt khác còn diễn tả niềm vui đó là âm thanh của tiếng cười
tiếng hát vang lên tưng bừng rộn rã.
- Câu thơ thứ hai khắc họa vẻ đẹp của con người: Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Hai chữ “kìa em” diễn tả sự vui sướng ngạc nhiên đó là tiếng reo vui khi
bắt gặp nét đẹp thi vị của cuộc sống. Câu thơ có hai cách hiểu:
++ Theo nhà thơ Trần Lê Văn: Cô em mà QD nhắc tới ở đây không
phải là ai khác mà đó chính là những người lính Tây Tiến họ hóa trang làm những cô gái
để diễn kịch . Đây là nét dí dỏm tinh nghịch của những người lính Tây Tiến
++ Theo ngôn từ diễn đạt trong câu thơ thì em có thể hiểu là những
cô gái miền sơn cước.
→ Dẫu hiểu theo cách nào thì cũng thấy nét thi vị của cuộc sống đời thường giữa
bối cảnh chiến tranh khốc liệt. Dường như những hình ảnh tười tắn trẻ trung của con người
đã xua tan cái khắc nghiệt trên chặng đượng hành quân của người lính.
- Câu thơ thứ 3 gợi vẻ đẹp âm thanh và vũ điệu: Khèn lên man điệu nàng e ấp
Người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan đắm mình mơ màng trong tiếng khèn với
những man điệu của tiếng khèn - loại nhạc cụ độc đáo của vùng núi cao Tây Bắc. Nhà thơ

diễn tả tiếng khèn bằng hai từ "man điệu" vừa gợi tả âm thanh vừa gợi tả vũ điệu mang
đậm màu sắc của núi rừng Tây Bắc
- Câu thơ thú tư có sự lưu giữ kỉ niệm: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ. Câu thơ có
7 chữ thì có tới 6 thanh bằng tiếng nhạc thơ vang lên nhẹ nhàng diễn tả tâm hồn người lính
bay bổng phiêu du tới những vùng đất xa xôi, đến tận Viên Chăn – thủ đô của nước bạn
Lào hướng về một ngày mai thanh bình vang trong khúc hát khải hoàn.
Tóm lại, chỉ với 4 câu thơ QD dã thể hiện tâm hồn lãng mạn của người lính Tây
Tiến khi được sống trong tình quân dân thắm thiết. Có thể nói đây là một xúc cảm thường
gặp trong thơ ca cách mạng. Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về
Xôn xao làng bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Có điều QD đã lấy cái lãng mạn hào hoa, lấy sự mặn nồng của tình yêu lứa đôi nhiệt
huyết của tuổi trẻ để tô đậm tình quân dân. Vì thế thơ QD mang vẻ đẹp riêng đầy xúc cảm.
- Chỉ với 4 câu thơ nhưng QD đã vẽ được bức tranh vừa phong phú về màu sắc vừa
đa dạng về âm thanh. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của QD với vẻ đẹp thi vị khác thường
của con người văn hóa vùng cao Tây Bắc. Đồng thời cho thấy sự lạc quan yêu đời của
người lính Tây Tiến.
b. Bốn câu thơ sau: Bức tranh Châu Mộc mĩ lệ huyền ảo
- Với người lính Tây Tiến mỗi vùng đất đi qua đều thấm đẫm bao kỉ niệm. Nỗi nhớ
đã gợi về miền đất Châu Mộc. Châu Mộc là một địa danh ở Sơn La nơi có cánh đồng cỏ
bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luông cao ngất trời. Quang Dũng cũng như người
lính Tây Tiến đã từng gắn bó với miền đất Châu Mộc. Năm tháng trôi qua cảnh và người
nơi miền đất ấy trở thành nỗi nhớ da diết.
- Vẻ đẹp của bức tranh thơ được QD vẽ bằng những nét điển hình:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
+ Từ "người" được QD sử dụng rất tài tình ở đây nó mang nghĩa vừa cụ thể
vừa phiếm chỉ, vừa là tác giả vừa là những người đồng đội đã từng sống chết có nhau ở
binh đoàn Tây tiến.
+ Từ "ấy" không xác định được thời gian nhưng lại gợi về thời khắc khó quên
một đi không trở lại trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng .
+ Thời gian của bức tranh thơ là một buổi chiều sương giăng mắc, không khí
huyền thoại khiến cho con người và cảnh vật mờ đi hư ảo như một bức tranh thủy mặc cổ
điển khiến cho người đọc nhớ đến tứ thơ cũng rất thi vị của Chế Lan Viên trong Tiếng hát
con tàu:
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương.
Không gian của bức tranh thơ là cảnh sông nước mênh mông với bến bờ hoang dại
nguyên thủy đượm màu cổ tích.
+ Trên nền không gian và thời gian ấy là hình ảnh "hồn lau nẻo bến bờ" hình
ảnh hoa lau gợi nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao hoa lau mọc khắp núi đồi.
- Bằng nghệ thuật nhân hóa "hồn lau", QD đã diễn tả được thần thái của cảnh vật
thiên nhiên Tây Bắc như có linh hồn phảng phất trong gió trong mây trở thành kí ức không
thể phai nhòa của người lính Tây Tiến.
- Trong dòng hoài niệm da diết, thi nhân nhớ về dáng người mờ xa trên thuyền độc
mộc
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

+ Độc mộc là loại thuyền dài và hẹp làm bằng thân của một cây gỗ to khoét
thủng thích hợp với vùng núi cao. Hình ảnh dáng người trên độc mộc có thể hiểu là người
lính Tây Tiến nhưng cũng có thể hiểu là hình ảnh những con người Tây Bắc, những người
thiếu nữ Tây Bắc dân tộc Thái, Mường…với vẻ đẹp mềm mại duyên dáng mà cũng rất đỗi
khỏe khoắn.
+ Câu thơ “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” là một câu thơ đa nghĩa
++ Nghĩa thực: Những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng
nước lũ
++ Nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh thơ có sự hô ứng với câu thơ trước dáng
người trên độc mộc như những bông hoa đong đưa trên dòng nước lũ
+ Nhà thơ dùng hai chữ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” vì nếu "đung
đưa" chỉ là đơn thuần chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lí còn "đong đưa" vừa
tả cảnh vừa tả tình bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình. Chữ “trôi”
gợi sự nhẹ nhành thanh thoát. Thiên nhiên và con người gần gũi, hài hòa và sống động.
+ Câu thơ trên xuất hiện hai câu hỏi tu từ: người đi "có thấy", "có nhớ" →
hỏi mà không đợi câu trả lời bởi đó là dòng độc thoại nội tâm của tác giả đang chìm đắm
trong nỗi nhớ thương da diết.
- Đoạn thơ không chỉ có sự kết hợp giữa chất chất thơ và chất họa mà còn có cả chất
nhạc- nhạc điệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây đúng
như nhận xét của Xuân Diệu "Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm nhạc trong
miệng".
3. Bức chân dung tập thể của người lính Tây Tiến
a. Vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng qua dáng vẻ bên ngoài và cuộc sống người lính Tây
Tiến
- Bút pháp bi tráng của QD không né tránh cái bi thương mà nhìn thẳng vào những
gian khổ hi sinh của người lính bằng nét bút rất lạ
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Ở phần đầu bài thơ, QD đã dùng hai chữ "đoàn quân": "Sài Khao sương lấp đoàn
quân mỏi" đến đây QD chuyển thành "đoàn binh". Hai chữ "đoàn binh" kết hợp với nghệ
thuật đảo cấu trúc cú pháp đưa hai chữ "Tây Tiến" lên đầu dòng thơ tạo nên một giọng
điệu khỏe khoắn gợi khí thế xung trận mạnh mẽ.
- Những cơn sốt rét rừng được nói đến khá nhiều trong thơ ca kháng chiến chống
Pháp với những giọng điệu đa dạng.
+ Tố Hữu nói về anh vệ quốc quân – giọng thơ thương mến
Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu đến thế
+ Chính Hữu cũng nói về sốt rét bằng giọng thơ mộc mạc :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
+ QD nói về sốt rét nhưng với giọng thơ khác dữ dội hơn với hai chi tiết
"Không mọc tóc”, “xanh màu lá" chỉ cái khốc liệt. Người lính bị những cơn sốt rét rừng
làm cho xanh mặt, trọc đầu. Hình ảnh đoàn quân hiện lên thật kì dị.
- Nếu cái bi là một sự thật thì cái "tráng" cái "hùng" cũng là một sự thật mạnh mẽ.
Cụm từ "không mọc tóc" là một cách nói đặc biệt. QD đã chuyển thế bị động thành chủ
động cứ làm như người lính không cần mọc tóc bằng một cách nói đầy vẻ bất cần gợi khẩu
khí kiêu hùng ngang tàng rất lính. Da "xanh màu lá" chứ không phải xanh xao, đó là màu

xanh của áo lính hay màu xanh của lá rừng ngụy trang. Hình ảnh thơ gợi sức mạnh của
đoàn quân Tây Tiến hòa trong những cánh rừng thiêng bạt ngàn.
- QD có tài tạo hình ảnh thơ thật gân guốc "dữ oai hùm" khí phách cuả người lính
đã đè bẹp bệnh tật các chàng trai da xanh xao vì sốt rét nhưng vẫn mang cái oai linh của
các trang hổ tướng một thời. Ngoại hình của người lính trong thơ QD khác với ngoại hình
của người lính trong thơ Chính Hữu: Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
b. Vẻ đẹp bi tráng qua tâm hồn hào hoa lãng mạn của người lính
- Giữa cái gân guốc của hiện thực chiến tranh khốc liệt ý thơ của QD bay lên một
giấc mơ lãng mạn
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- Nói về giấc mơ, nỗi nhớ của người lính đó là cảm xúc quen thuộc trong thơ ca
kháng chiến. Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu ra đi từ đồng ruộng họ nhớ về
giếng nước, gốc đa, ruộng nương còn người lính trong Tây Tiến phần đông là thanh niên
Hà Nội nên nỗi mộng mơ của họ cũng thật khác lạ, thanh lịch, hào hoa.
- Câu thơ "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới" thể hiện nỗi mộng mơ không xác thực
về đối tượng và địa điểm gửi mộng.
+ Hai chữ “mắt trừng” miêu tả hình ảnh đôi mắt mở to dữ dội ngùn ngụt ý chí và
lòng căm thù. Đôi mắt ấy bộc lộ toàn bộ nội lực của người lính diến tả tận cùng cái oai
phong lẫm liệt và cả cái đằm thắm trong trái tim của người lính.
+ Vì thế có thể hiểu người lính Tây Tiến gửi mộng qua biên giới tới những người
đồng chí nước bạn Lào. Đó là giấc mộng hòa bình cho quê hương đất nước.
- Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện nỗi nhớ có hình hài của người
lính
+ Người lính Tây Tiến mơ về thành đô hoa lệ nơi họ từ biệt ra đi . "Dáng kiều thơm"
ở câu thơ trước hết gợi bóng dáng của kinh thành Hà Nội vàng son, thanh lịch:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
+ Mặt khác từ dáng kiều là cách nói mĩ lệ hóa của văn học cổ QD sử dụng để nói
về người thiếu nữ Hà Thành xinh đẹp. QD bổ sung thêm chứ "thơm" khiến cái đẹp tỏa
hương ngào ngạt gợi sự e ấp nâng niu.
+ Như vậy người lính có đôi mắt trừng như lửa cháy hờn căm và phẫn nộ để thiêu
đốt kẻ thù nhưng lại biết mơ về những cô gái Hà Thành thanh lịch kiều diễm. Điều này cho
thấy những vẻ đẹp tâm hồn của người lính.
c. Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua tư thế lên đường, quyết tâm hy sinh vì lý tưởng
- Đi liền với cái mộng mơ là cái chết nhưng chỉ có điều sự hi sinh của người lính lại
được nói bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc bi tráng
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Từ "rải rác" kết hợp với "mồ viễn xứ" cho thấy đây không phải là một cái
chết mà nhiều cái chết. Người lính Tây Tiến ngã xuống nơi biên ải xa xôi, những nấm mồ
nằm hoang lạnh gợi ta nhớ đên cái hoang vu bi thương trong Chinh phụ ngâm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
+ Nỗi bi thương được vơi đi bớt phần nào khi QD sử dụng nhiều từ Hán Việt
điều này tạo nên màu sắc trang nghiêm thành kính. Những nấm mồ hoang trở thành bất tử
vĩnh hằng bởi sự hi sinh của người lính là cao cả thiêng liêng họ ngã xuống vì quê hương
đất nước.
- Câu thơ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh khắc họa tư thế lên đường của người
lính với lí tưởng Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: hai chữ "đời xanh" chỉ tuổi thanh xuân

mơn mởn tràn đầy sức sống. Không có cái gì quí và đẹp bằng tuổi trẻ vậy mà hai chữ
"chẳng tiếc" lại ném xuống dòng thơ thật dứt khoát. Ở đây, người lính đã coi vận mệnh của
Tổ quốc lớn hơn sinh mệnh của chính mình. Đây là lí tưởng cao đẹp của con người VN
mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng.
- Với triết lí và lẽ sống cao đẹp đó người lính Tây Tiến cho đên giây phút cuối cùng
trở về với đất mẹ vẫn sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cao cả:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: "tử sĩ nằm xuống không đủ manh
chiếu để liệm…họ được chôn cất trong chiếc áo của mình" (lời Quang Dũng) cái hay của
câu thơ ở chỗ hiện thực bi thương dược Quang Dũng tái hiện bằng đôi mắt lãng mạn vừa
yêu thương vừa trân trọng thành kính. Nhà thơ phủ lên thi thể của đồng đội hình ảnh áo
bào, đây là một hình ảnh ước lệ gợi âm hưởng "sa trường gửi thây" gợi cái chết của tráng
sĩ thuở xưa. Bởi thế giây phút tiễn đưa đồng đội về cõi bất tử được thiêng liêng hóa bằng
hình ảnh áo bào đầy trang trọng cổ kính.
+ Cụm từ "anh về đất" giảm nhẹ sự mất mát đau thương. Đất là quê mẹ, là
Tổ quốc thiêng liêng, diễn tả thái độ đón nhận cái chết của những người lính. Họ về với
đất mẹ để hóa thân vào sông núi, sống mãi với đất trời:
Ôi đất nước sau bốn n...
 
Gửi ý kiến