Giáo án cả năm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thu Hà
Ngày gửi: 21h:07' 24-09-2019
Dung lượng: 93.5 KB
Số lượt tải: 88
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thu Hà
Ngày gửi: 21h:07' 24-09-2019
Dung lượng: 93.5 KB
Số lượt tải: 88
Số lượt thích:
0 người
Kinh tế tri thức và toàn cầu hóa
(Kinh tế) - Kinh tế tri thức xuất hiện như một thời đại kinh tế mới, với một nguyên lý sáng tạo của cải hoàn toàn khác với các thời đại kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp trước đó. Nó dựa trên sự dẫn dắt của nguồn lực trí tuệ và khả năng kết nối sâu, rộng trên không gian toàn cầu. Điều đó khiến cho toàn cầu hóa trở thành một quá trình khó đảo ngược, diễn tiến nhanh, sâu, rộng và vận hành trên cơ sở của chính nó - một nền kinh tế tri thức, mang bản chất toàn cầu. Trong bối cảnh của một thời đại như vậy, một nước đang phát triển như Việt Nam, dù có điểm xuất phát thấp, cũng sẽ bị đặt một cách tự nhiên vào “trường” tương tác của nền kinh tế tri thức và buộc phải xem xét lại các khía cạnh khác nhau của tư duy phát triển. Để tiến bước theo yêu cầu của thời đại, việc đổi mới thể chế nhằm tăng cường năng lực hội nhập thực sự vào nền kinh tế thế giới là không tránh khỏi.
1. Mở đầu
Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Nó đã từng xuất hiện như một làn sóng lôi cuốn và kết nối các nguồn lực kinh tế của các quốc gia khác nhau ngay từ cuối thế kỷ thứ XIX. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa hiện nay đã mang một diện mạo khác hẳn trước. Nó dần trở thành một thuộc tính bên trong của kinh tế tri thức, hơn là một quá trình tồn tại song song với kinh tế tri thức. Nhờ vậy, nó góp phần định hình kinh tế tri thức không đơn giản chỉ như là một bước phát triển mới của lực lượng sản xuất mà như là một thời đại kinh tế mới, một cung cách sáng tạo của cải mới, chứa đựng những đảo lộn vô cùng to lớn trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội loài người. Từ đó, kinh tế tri thức có khả năng lôi cuốn mọi quốc gia vào quỹ đạo của nó, buộc chúng phải thích ứng bằng cách thay đổi cách thức và con đường phát triển của mình. Bàn luận về những vấn đề đó, bài báo này muốn rút ra một vài hàm ý có ý nghĩa đối với sự lựa chọn phát triển của Việt Nam.
2. Thời đại kinh tế tri thức
Một cách tổng quát, có thể coi tổng sản lượng mà một quốc gia có thể tạo ra trong một khoảng thời gian nào đó phụ thuộc vào các nguồn lực đầu vào mà quốc gia đó có thể huy động và khai thác. Nó có thể diễn đạt dưới dạng một hàm sản xuất của xã hội: Q = f (L, K, NR, T...), trong đó, Q là tổng sản lượng đầu ra, L là số lượng lao động cơ bắp, K: lượng vốn hiện vật, NR: lượng tài nguyên thiên nhiên, T: tri thức - công nghệ. Trong hàm sản xuất xã hội tổng quát này, tri thức là một nguồn lực của quá trình tạo ra của cải bên cạnh các nguồn lực khác: lao động (cơ bắp), vốn hiện vật, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác.
Năng lực sản xuất của xã hội phụ thuộc vào tổng lượng các nguồn lực nói trên. Các nguồn lực có khả năng thay thế cho nhau cũng như bổ sung cho nhau. Các nguồn lực tự nhiên thường có giới hạn: diện tích đất đai dần dần bị con người khai thác hết và về cơ bản không còn khả năng mở rộng; trữ lượng các khoáng sản giảm dần, đặc biệt theo đà khai thác nhanh như hiện nay - việc tìm kiếm và phát hiện ra các mỏ khoáng sản mới vẫn có khả năng duy trì song cơ hội ngày càng hiếm. Dân số thế giới vẫn tăng lên song động thái là rõ ràng: ở các nước phát triển, dân số hầu như không tăng, còn ở các nước đang phát triển, sự gia tăng dân số đã vượt quá giới hạn cần thiết - trong trường hợp này, kiểm soát, hạn chế sự gia tăng dân số thậm chí còn có ý nghĩa tích cực hơn đối với phát triển. Chỉ có vốn và tri thức là có khả năng tích lũy và tăng lên không ngừng. Tuy nhiên, khác với tri thức, vốn luôn bị hao mòn đi trong quá trình sử dụng. Vì thế, người ta luôn phải dùng một bộ phận nguồn lực để tái tạo, bù đắp lượng vốn bị hao mòn trong quá trình sản xuất trước khi thực sự gia tăng quỹ vốn. Tri thức là một nguồn lực đặc biệt, khác hẳn các nguồn lực khác: không bị cạn kiệt như nhiều loại tài nguyên thiên nhiên; không phải là một lượng tương đối cố định như đất đai; không bị hao mòn trong tiêu dùng như vốn; thậm chí tri thức mới có khả năng được tạo ra ngay trong quá trình tiêu dùng hay sử dụng các tri thức
(Kinh tế) - Kinh tế tri thức xuất hiện như một thời đại kinh tế mới, với một nguyên lý sáng tạo của cải hoàn toàn khác với các thời đại kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp trước đó. Nó dựa trên sự dẫn dắt của nguồn lực trí tuệ và khả năng kết nối sâu, rộng trên không gian toàn cầu. Điều đó khiến cho toàn cầu hóa trở thành một quá trình khó đảo ngược, diễn tiến nhanh, sâu, rộng và vận hành trên cơ sở của chính nó - một nền kinh tế tri thức, mang bản chất toàn cầu. Trong bối cảnh của một thời đại như vậy, một nước đang phát triển như Việt Nam, dù có điểm xuất phát thấp, cũng sẽ bị đặt một cách tự nhiên vào “trường” tương tác của nền kinh tế tri thức và buộc phải xem xét lại các khía cạnh khác nhau của tư duy phát triển. Để tiến bước theo yêu cầu của thời đại, việc đổi mới thể chế nhằm tăng cường năng lực hội nhập thực sự vào nền kinh tế thế giới là không tránh khỏi.
1. Mở đầu
Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Nó đã từng xuất hiện như một làn sóng lôi cuốn và kết nối các nguồn lực kinh tế của các quốc gia khác nhau ngay từ cuối thế kỷ thứ XIX. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa hiện nay đã mang một diện mạo khác hẳn trước. Nó dần trở thành một thuộc tính bên trong của kinh tế tri thức, hơn là một quá trình tồn tại song song với kinh tế tri thức. Nhờ vậy, nó góp phần định hình kinh tế tri thức không đơn giản chỉ như là một bước phát triển mới của lực lượng sản xuất mà như là một thời đại kinh tế mới, một cung cách sáng tạo của cải mới, chứa đựng những đảo lộn vô cùng to lớn trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội loài người. Từ đó, kinh tế tri thức có khả năng lôi cuốn mọi quốc gia vào quỹ đạo của nó, buộc chúng phải thích ứng bằng cách thay đổi cách thức và con đường phát triển của mình. Bàn luận về những vấn đề đó, bài báo này muốn rút ra một vài hàm ý có ý nghĩa đối với sự lựa chọn phát triển của Việt Nam.
2. Thời đại kinh tế tri thức
Một cách tổng quát, có thể coi tổng sản lượng mà một quốc gia có thể tạo ra trong một khoảng thời gian nào đó phụ thuộc vào các nguồn lực đầu vào mà quốc gia đó có thể huy động và khai thác. Nó có thể diễn đạt dưới dạng một hàm sản xuất của xã hội: Q = f (L, K, NR, T...), trong đó, Q là tổng sản lượng đầu ra, L là số lượng lao động cơ bắp, K: lượng vốn hiện vật, NR: lượng tài nguyên thiên nhiên, T: tri thức - công nghệ. Trong hàm sản xuất xã hội tổng quát này, tri thức là một nguồn lực của quá trình tạo ra của cải bên cạnh các nguồn lực khác: lao động (cơ bắp), vốn hiện vật, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác.
Năng lực sản xuất của xã hội phụ thuộc vào tổng lượng các nguồn lực nói trên. Các nguồn lực có khả năng thay thế cho nhau cũng như bổ sung cho nhau. Các nguồn lực tự nhiên thường có giới hạn: diện tích đất đai dần dần bị con người khai thác hết và về cơ bản không còn khả năng mở rộng; trữ lượng các khoáng sản giảm dần, đặc biệt theo đà khai thác nhanh như hiện nay - việc tìm kiếm và phát hiện ra các mỏ khoáng sản mới vẫn có khả năng duy trì song cơ hội ngày càng hiếm. Dân số thế giới vẫn tăng lên song động thái là rõ ràng: ở các nước phát triển, dân số hầu như không tăng, còn ở các nước đang phát triển, sự gia tăng dân số đã vượt quá giới hạn cần thiết - trong trường hợp này, kiểm soát, hạn chế sự gia tăng dân số thậm chí còn có ý nghĩa tích cực hơn đối với phát triển. Chỉ có vốn và tri thức là có khả năng tích lũy và tăng lên không ngừng. Tuy nhiên, khác với tri thức, vốn luôn bị hao mòn đi trong quá trình sử dụng. Vì thế, người ta luôn phải dùng một bộ phận nguồn lực để tái tạo, bù đắp lượng vốn bị hao mòn trong quá trình sản xuất trước khi thực sự gia tăng quỹ vốn. Tri thức là một nguồn lực đặc biệt, khác hẳn các nguồn lực khác: không bị cạn kiệt như nhiều loại tài nguyên thiên nhiên; không phải là một lượng tương đối cố định như đất đai; không bị hao mòn trong tiêu dùng như vốn; thậm chí tri thức mới có khả năng được tạo ra ngay trong quá trình tiêu dùng hay sử dụng các tri thức
 








Các ý kiến mới nhất