Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Giải pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 tại lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi thôn Lồ, trường mầm non Lao Chải

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Cù Thị Phương Thảo
Người gửi: Thảo Thảo
Ngày gửi: 09h:03' 26-10-2026
Dung lượng: 40.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng công nhận sáng kiến Trường Mầm non Lao Chải
Tôi ghi tên dưới đây:
Nơi
ST
T

1

Họ và tên

Ngày
tháng năm
sinh

Cù Thị Phương
21/12/1993
Thảo

công tác
(Hoặc nơi
thường trú)
Trường MN
Lao Chải

Chức
danh

Trình
độ
chuyên
môn

Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến

Giáo
viên

ĐHSP

100%

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Giải pháp
chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 tại lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi
thôn Lồ, trường mầm non Lao Chải”
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 9/2025
- Mô tả bản chất sáng kiến:
+ Về nội dung của sáng kiến: Nội dung nghiên cứu nhằm thực hiện tốt việc
chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 tại lớp trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thôn Lồ, trường
mầm non Lao Chải
+ Tình trạng giải pháp đã biết:
Tại đơn vị trường tôi đã thực hiện các biện pháp như: Dạy trẻ mọi lúc mọi
nơi, nhắc nhở trẻ thường xuyên, tích hợp các hoạt động học, hoạt động vui chơi,
hoạt động ngoài trời.... Tuy nhiên trẻ vẫn chưa thật sự hứng thú với các hoạt động,
trẻ vẫn chưa thực hiện tốt được một số kĩ năng như: kỹ năng phát âm, đọc từ, kỹ
năng tập tô, kỹ năng giao tiếp,..... Cơ hội cho trẻ được tham quan, trải nghiệm tại
thực tế còn hạn chế, bản thân đã có kỹ năng dạy trẻ tập tô, viết tuy nhiên chưa hiệu
quả. Việc phối hợp với phụ huynh chưa đạt hiệu quả cao.
* Ưu điểm của giải pháp cũ:
Trong quá trình thực hiện áp dụng các giải pháp như: Dạy trẻ mọi lúc mọi
nơi, nhắc nhở trẻ thường xuyên, tích hợp các hoạt động học, hoạt động vui chơi,
hoạt động ngoài trời.... đã tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, học hành, giải quyết vấn
đề, trải nghiệm tìm tòi, khám phá... nhằm giúp trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ,

2
tư duy, phát triển các kĩ năng thực hành, giao tiếp ưng xử... một số trẻ bước đầu có
những tâm lý tốt để bước vào lớp 1.
* Nhược điểm của giải pháp cũ:
Phần lớn trẻ ở đây đều là con em có cha mẹ làm nông nghiệp, đồng bào dân
tộc thiểu số, kinh tế còn nhiều khó khăn. Vì vậy, việc quan tâm đến công tác chuẩn
bị hành trang cho trẻ vào lớp 1 còn hạn chế và chưa được thường xuyên.
Bản thân đã có kỹ năng dạy trẻ một số kỹ năng như phát âm, đọc, viết... tuy
nhiên chưa hiểu sâu về giáo dục tiền tiểu học nên hiệu quả chưa cao.
Một số trẻ còn nhút nhát chưa mạnh dạn trong giao tiếp với cô giáo và bạn
bè trong quá trình học
+ Những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
của giải pháp đã biết: Tôi đã sử sụng một số các giải pháp như:
Giải pháp 1: Đổi mới các hình thức phát triển toàn diện, chú trọng giáo
dục kỹ năng sống thực tế cho trẻ 5 - 6 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số
a) Trong lĩnh vực phát triển thể lực và thể chất: Một cơ thể khỏe mạnh là
tiền đề vật chất quan trọng giúp trẻ phát triển năng lực hoạt động trí tuệ bền bỉ ở
trường Tiểu học, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách toàn
diện. Nhận thức được việc chuẩn bị về mặt thể lực cho trẻ không đơn thuần là sự
chuẩn bị về lượng (chiều cao, trọng lượng cơ thể) mà còn là sự chuẩn bị về chất
(năng lực hoạt động, khả năng chống mệt mỏi của hệ thần kinh, cơ bắp, độ khéo
léo của bàn tay và tính nhanh nhạy của các giác quan), tôi đã chủ động triển khai
các biện pháp sau:
+ Xây dựng chế độ sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe khoa học: Thực hiện
nghiêm túc lịch sinh hoạt theo Chương trình giáo dục mầm non, đảm bảo trẻ có
chế độ ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi điều độ, khoa học, phù hợp với đặc điểm phát
triển riêng của từng cá nhân. Đồng thời, tôi phối hợp chặt chẽ với Trạm y tế xã tổ
chức khám sức khỏe định kỳ, cân nặng, đo chiều cao, lập biểu đồ tăng trưởng
nhằm tư vấn kịp thời cho phụ huynh và điều chỉnh chế độ chăm sóc hợp lý.
+ Dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ thông qua các chủ đề (đặc biệt là chủ đề
"Bản thân"): Tận dụng mọi cơ hội để dạy trẻ mọi lúc mọi nơi. Tôi hướng dẫn để
trẻ hiểu được chức năng, sự cần thiết của việc chăm sóc giữ gìn vệ sinh cơ thể;
nhận biết bốn nhóm thực phẩm và lợi ích của chúng đối với sức khỏe; biết giá trị
của việc ăn uống đầy đủ chất và sự cần thiết của việc rèn luyện thể dục hàng ngày.
+ Hình thành tính độc lập qua hoạt động thực tế: Tôi hướng dẫn trẻ tự
thực hiện các thao tác: Tự xâu quai giày, tự đi dép, biết lau chùi sạch sẽ sau khi đi
vệ sinh, tự cài cúc áo, tự gấp và xếp quần áo gọn gàng sau khi thay đồ. Tại lớp, tôi
phân công trẻ làm các công việc vừa sức như: Xếp thìa, bê đồ ăn phụ cô, kê đệm
ngủ... Thông qua chuỗi hành động này, trẻ không chỉ rèn nếp sống tự lập, không
phụ thuộc ỷ lại vào người khác mà còn học được quy luật toán học thông qua phép
đếm tương ứng 1:1.

3
+ Đa dạng hóa các hoạt động rèn luyện hình thể: Chú trọng rèn luyện thể
chất hợp lý cho trẻ thông qua việc tổ chức tốt các nội dung phát triển vận động
trong giờ học thể dục, giờ tập thể dục buổi sáng, lồng ghép các trò chơi vận động
và trò chơi dân gian bản địa nhằm tăng độ dẻo dai, khéo léo của các giác quan và
khả năng chống mệt mỏi cơ bắp.
b) Trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và nhận thức: Ngôn ngữ vừa là
phương tiện, vừa là điều kiện để con người giao tiếp và tư duy. Trong hoạt động
học tập, ngôn ngữ chính là công cụ để lĩnh hội tri thức và biểu đạt khả năng trí tuệ.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi vừa thúc đẩy trí tuệ phát triển, vừa là công cụ
để trẻ tư duy độc lập. Do đó, việc chuẩn bị cho trẻ sử dụng thành thạo tiếng phổ
thông (tiếng Việt) trong sinh hoạt hàng ngày là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
trẻ bước vào lớp 1 một cách tự tin, vững vàng. Ngay từ đầu năm học, tôi đã xây
dựng kế hoạch rèn luyện ngôn ngữ liên tục ở mọi lúc, mọi nơi:
+ Phát triển ngôn ngữ mạch lạc qua tác phẩm văn học: Thông qua trò
chuyện giao tiếp hàng ngày và các hoạt động học tập, nhất là hoạt động làm quen
văn học (đọc thơ, đồng dao, kể chuyện), tôi cung cấp cho trẻ vốn từ ngữ phong
phú về thế giới xung quanh. Thay vì truyền thụ một chiều, tôi áp dụng phương
pháp đàm thoại mở, uốn nắn kịp thời cách phát âm cho trẻ.
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen câu chuyện "Sơn Tinh, Thủy Tinh", tôi mạnh
dạn đưa ra hệ thống câu hỏi gợi mở để trẻ hiểu nội dung và ghi nhớ sâu sắc các
nhân vật cho trẻ như:
- Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
- Sơn Tinh và Thủy Tinh có những tài gì?
- Qua câu chuyện cho các con biết thêm về điều gì?
Sau khi trẻ nắm vững nội dung, tôi hướng dẫn và khuyến khích trẻ tự kể lại
câu chuyện theo ngôn ngữ của mình, đồng thời tập cho trẻ kỹ năng kể chuyện sáng
tạo qua tranh nhằm phát triển tư duy ngôn ngữ nói mạch lạc, giúp trẻ diễn đạt rõ
ràng nguyện vọng của bản thân.
+ Kích thích hứng thú hoạt động trí óc và biểu tượng toán học: Tận
dụng mọi tình huống xảy ra hàng ngày để trẻ tự giải quyết, giúp trẻ có sự hiểu biết
cơ bản về bản thân, gia đình, xã hội. Tôi ứng dụng trực quan thông qua mô hình
"Bảng thời tiết" và "Lịch góc lớp". Trong các giờ học toán, tôi rèn luyện cho trẻ
các kỹ năng cơ bản, làm quen với các thuật ngữ toán học như "nhiều hơn", "ít
hơn", nhận biết các con số, biểu tượng về thời gian, không gian thông qua các trò
chơi ứng dụng sinh động (như trò chơi "Tìm đúng nhà",...).
c) Trong lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội: Đa số trẻ khi
chuyển từ môi trường mầm non sang cấp tiểu học đều có tâm lý lo sợ, bỡ ngỡ và e
ngại trước một không gian mới lạ lẫm. Do đó, việc chuẩn bị tâm lý thoải mái, sẵn
sàng là vô cùng cần thiết. Một tâm lý vững vàng sẽ giúp trẻ xóa tan âu lo, vui vẻ

4
hòa nhập và háo hức học tập với thầy cô giáo mới. Tôi đã thiết lập chuỗi biện pháp
cụ thể như sau:
+ Giáo dục ý thức về bản thân: Tôi thường xuyên đặt các câu hỏi mở để
kích thích trẻ tự tin biểu lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình thông qua tranh ảnh, hình
vẽ, bài thơ, câu chuyện phù hợp.
+ Mô hình hóa hoạt động tự lực và ham học: Khuyến khích trẻ tự tổ chức
các trò chơi, đặc biệt là trò chơi phân vai theo chủ đề và duy trì nghiêm túc thói
quen tự phục vụ. Tôi chủ động thiết kế những hoạt động thú vị, vui nhộn và vừa
sức (như: Chơi xếp hình, nấu ăn, gieo hạt và quan sát sự lớn lên của cây...) giúp
trẻ tự lựa chọn, tham gia tích cực để phát triển tính tự tin, tự lực và óc sáng tạo.
+ Xây dựng tính kỷ luật và nề nếp tiền tiểu học: Giáo dục trẻ ý thức chấp
hành nội quy, quy định ở trường, lớp học, nếp sống nơi công cộng, và chấp hành
luật an toàn giao thông. Rèn luyện thái độ cư xử chuẩn mực đối với người thân
trong gia đình, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, hòa đồng với bạn bè, cô giáo trong
trường mầm non. Đồng thời, lồng ghép cung cấp cho trẻ những hiểu biết, hình ảnh
cơ bản nhất về ngôi trường Tiểu học tương lai.
Sự phát triển toàn diện về mặt tình cảm và kỹ năng xã hội là tiền đề quan
trọng giúp trẻ rèn luyện khả năng tập trung, biết chấp hành các quy định chung và
thực hiện theo sự chỉ dẫn của cô giáo – đây là yếu tố cốt lõi giúp trẻ học tập tốt,
chủ động, độc lập và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đến cùng khi bước
vào trường Tiểu học sau này.
Giải pháp 2: Cho trẻ làm quen với chữ viết và rèn luyện kỹ năng cầm
bút, sử dụng sách cùng tư thế ngồi đọc, viết đúng quy chuẩn
a) Chuẩn bị cho việc học đọc (Nhận diện mặt chữ và định hình văn hóa
đọc sách): Mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ cái là giúp trẻ nhận biết
được mặt chữ và cách phát âm chính xác từng chữ cái. Trên cơ sở đó, trẻ dễ dàng
thích ứng với việc tập đọc, tập viết khi bước vào lớp 1. Xác định đây là nhiệm vụ
trọng tâm trong công tác chuẩn bị hành trang cho trẻ chuyển cấp, ngay từ đầu năm
học, tôi đã chủ động xây dựng kế hoạch chi tiết, lựa chọn các hình thức linh hoạt,
phù hợp với tâm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi như: Tổ chức các trò chơi chữ cái sinh
động, kể chuyện sáng tạo theo tranh và hướng dẫn trẻ khám phá thế giới sách.
+ Ứng dụng môi trường chữ viết trực quan: Tôi hướng dẫn trẻ làm quen
với cách đọc các từ, câu đơn giản một cách tự nhiên nhất. Cụ thể, tôi hướng dẫn trẻ
nhận biết và đọc tên của mình trên bảng danh sách lớp; gọi tên và nhận diện chữ
ghi tên một số đồ dùng cá nhân quen thuộc, đọc chữ cái ở tên các góc lớp.... Tôi
chủ động thiết kế và dán các bảng chữ ghi tên các đồ vật thường dùng trong lớp
học (như: vở bài tập, giấy, góc sách...), đồng thời rèn luyện cho những trẻ có khả
năng tốt kỹ năng nhận biết và tự viết đúng tên của bản thân.
+ Đổi mới hình thức đọc sách qua phương pháp "Ngồi cùng hướng":
Tôi duy trì hoạt động đọc sách cho trẻ nghe một cách thường xuyên. Khi thực

5
hiện, tôi hướng dẫn trẻ ngồi cùng hướng với cô để trẻ vừa được nghe lời kể, vừa dễ
dàng quan sát cách cô lật từng trang sách. Quá trình đọc, tôi kết hợp dùng ngón tay
chỉ dẫn từ trái sang phải, từ trên xuống dưới theo từng dòng chữ. Biện pháp này
giúp trẻ tích lũy kiến thức từ nội dung sách, hiểu được cách sử dụng sách và nắm
vững nguyên tắc đọc cơ bản, đồng thời giáo dục trẻ ý thức giữ gìn, bảo vệ sách cẩn
thận. Thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với sách, trẻ được tự do khám phá các ký
hiệu, mẫu chữ khác nhau, từ đó kích thích sự tò mò, ham học hỏi và mong muốn
tìm hiểu ý nghĩa của các từ, chữ cái.
b) Chuẩn bị cho việc học viết (Rèn luyện hệ cơ tay nhỏ và kỹ thuật tiền
tiểu học):
+ Lồng ghép kỹ năng viết vào hoạt động giáo dục mọi lúc, mọi nơi: Tôi
tổ chức đa dạng các hoạt động như tập tô, tập vẽ... nhằm giúp trẻ làm quen sâu sắc
với các nét cơ bản của chữ viết tiếng Việt (nét thẳng, nét xiên, nét móc, nét cong...)
và biết cách điều khiển hướng tay, đưa nét để tạo thành hình chữ viết hoàn chỉnh.
+ Phát triển cơ tay nhỏ qua hệ thống trò chơi vận động tinh: Để rèn
luyện sự khéo léo của các ngón tay và sự phối hợp nhịp nhàng giữa mắt và tay, tôi
tổ chức cho trẻ tham gia thường xuyên các trò chơi luyện ngón tay linh hoạt như:
Tập cài và buộc cúc áo, xâu và xếp hột hạt theo nét, chơi lăn bóng, chuyền bóng
bằng các đầu ngón tay, ném trúng đích... Những hoạt động này tạo lực giữ cần
thiết cho các cơ nhỏ ở tay trẻ trước khi cầm bút viết.
+ Tích hợp đạo cụ giấy, bút vào hoạt động tạo hình: Chú trọng tổ chức
các hoạt động tạo hình phong phú như vẽ tranh, nặn, xé dán đồ vật, in hình... Đặc
biệt, tôi tăng cường các hoạt động có sử dụng trực tiếp bút và giấy như hướng dẫn
trẻ tự làm sách tranh mini, vẽ hoàn thiện các bức tranh theo chủ đề để trẻ tăng tần
suất tiếp xúc, làm chủ các nông cụ học tập.
+ Chuẩn bị nề nếp và kỹ năng học tập quy chuẩn: Việc tạo điều kiện để
rèn luyện một số kỹ năng cơ bản của hoạt động học tập cho trẻ là vấn đề tôi luôn
đặt lên hàng đầu. Tôi thường xuyên rèn nếp cho trẻ từ cách tự sắp xếp bàn ghế
ngay ngắn, kỹ năng phối hợp làm việc theo nhóm, cho đến tư thế ngồi viết và cách
cầm bút đúng quy định. Đây đều là những kỹ năng nền tảng và cốt lõi nhất giúp trẻ
tự tin, không bị bỡ ngỡ khi bước vào môi trường tiểu học.
+ Nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân: Nhằm tối ưu hóa hiệu quả
thực hiện và mang lại những giá trị giáo dục chuẩn xác nhất cho hành trang vào
lớp 1 của trẻ, bản thân tôi đã chủ động tham gia khóa học chuyên sâu tại Trung
tâm nghiên cứu và phát triển chữ viết Việt Nam về việc “Bồi dưỡng kỹ năng,
phương pháp viết chữ đẹp”. Việc tiếp thu các phương pháp sư phạm bài bản,
khoa học từ khóa học này đã giúp tôi có cơ sở chuyên môn vững chắc để uốn nắn,
hướng dẫn trẻ cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) và điều
chỉnh tư thế ngồi viết (thẳng lưng, ngực không tì vào bàn) một cách chuẩn xác, hạn
chế tối đa các tật học đường cho trẻ ngay từ bậc học mầm non.

6
Giải pháp 3: Thiết lập hệ thống kỹ năng cốt lõi giúp trẻ làm chủ hành
vi, xây dựng tính kỷ luật và thích ứng với môi trường học tập mới: Để trẻ xóa
bỏ hoàn toàn tâm lý e ngại và chuẩn bị sẵn sàng các năng lực cốt lõi thích ứng với
việc chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ "vui chơi" sang "học tập", tôi tập trung xây
dựng và rèn luyện 4 nhóm kỹ năng nền tảng sau:
+ Rèn luyện kỹ năng tự lập trong sinh hoạt và học tập: Tôi chủ động trao
quyền và hướng dẫn trẻ tự thực hiện các nếp tự phục vụ cá nhân như: Tự chuẩn bị,
sắp xếp đồ dùng học tập ngay ngắn, tự quản lý trang phục, ba lô cá nhân và tự đi
vệ sinh đúng nơi quy định Tại lớp học, tôi tổ chức các nhóm phân công trực nhật
luân phiên để hướng dẫn trẻ hỗ trợ cô giáo thực hiện việc dọn dẹp đồ chơi, sắp xếp
học liệu vào đúng ngăn kệ và tự giác thu dọn bát, dĩa gọn gàng sau khi ăn xong.
Song song đó, tôi phối hợp với gia đình để hướng dẫn trẻ tự làm một số việc nhà
vừa sức, giúp trẻ hình thành tính độc lập, không ỷ lại vào người lớn.
+ Phát triển kỹ năng giao tiếp và ứng xử văn minh: Tôi đan lồng việc
giáo dục kỹ năng giao tiếp thông qua các hoạt động giao lưu ngoài lớp học như
tham quan, trải nghiệm, chơi một số trò chơi dân gian... và thông qua hoạt động
tương tác nhóm trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục. Biện pháp này
giúp trẻ hình thành kỹ năng chủ động kết bạn, biết lắng nghe và tự tin trò chuyện
với các bạn, thầy cô giáo cũng như mọi người xung quanh. Đồng thời, tôi uốn nắn,
chuẩn bị cho trẻ các hành vi ứng xử, xưng hô lễ phép, phù hợp với từng mối quan
hệ xã hội (đối với thầy cô, bạn bè, bố mẹ, anh chị em).
+ Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế tại trường Tiểu học: Việc giúp
trẻ hiểu rõ về ngôi trường tương lai là vô cùng cần thiết. Tôi đã chủ động phối hợp
với Ban giám hiệu nhà trường và trường Tiểu học Lao Chải tổ chức cho trẻ 5 - 6
tuổi tham quan thực tế. Trẻ được trực tiếp quan sát môi trường học tập mới, làm
quen với các hình thức hoạt động, nề nếp sinh hoạt và không gian vui chơi ở
trường tiểu học. Hoạt động trải nghiệm trực quan này giúp giải tỏa hoàn toàn tâm
lý lo sợ, bỡ ngỡ, khơi dậy lòng ham học và chuẩn bị tốt các kỹ năng thích ứng cho
hoạt động học tập của trẻ sau này.
Bồi dưỡng kỹ năng thể hiện bản thân và xây dựng tính kỷ luật: Trong
mọi hoạt động giáo dục tại lớp, tôi luôn chủ động đặt câu hỏi mở và tạo không
gian an toàn để trẻ mạnh dạn thể hiện quan điểm, suy nghĩ riêng của bản thân; dạy
trẻ biết cách phát tín hiệu và nói rõ ra nhu cầu hay mong muốn của mình khi cần
sự hỗ trợ của cô giáo hoặc bạn bè. Trẻ cũng được tự lựa chọn hình thức, cách thức
phù hợp khi tham gia các hoạt động giáo dục nhằm kích thích tính tự tin, tự lực và
óc sáng tạo. Đồng thời, tôi từng bước đưa trẻ vào các hoạt động có nề nếp, thực
hiện nghiêm túc nguyên tắc "giờ nào việc nấy", giúp trẻ hiểu và tự giác chấp hành
các quy tắc, quy định của tập thể, của nhà trường smà tất cả mọi người đều phải
thực hiện khi bước vào trường học.
Giải pháp 4: Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, số hóa học liệu và
xây dựng mạng lưới phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường và Gia đình nhằm
chuẩn bị tâm thế toàn diện cho trẻ

7
Xác định phụ huynh là người đồng hành có vai trò quyết định đến sự tự tin
và khả năng thích ứng của trẻ khi chuyển cấp, tôi đã chủ động thay đổi phương
thức phối hợp từ "thông báo một chiều" sang "tương tác, đồng hành đa chiều"
thông qua các biện pháp cụ thể sau:
+ Xây dựng kế hoạch và thống nhất quan điểm giáo dục tiền tiểu học
đúng đắn: Ngay từ đầu năm học, tôi chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp chi
tiết với phụ huynh trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ chuẩn bị vào lớp 1. Trong
các cuộc họp cha mẹ học sinh, tôi tiến hành trao đổi, thảo luận công khai và đi đến
thống nhất với gia đình về mục tiêu, nội dung, phương pháp, biện pháp cũng như
các hình thức chuẩn bị cho trẻ.
+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh: Tôi chủ
động phân tích, giải thích cho phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng cốt lõi của việc
chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho trẻ 5 – 6 tuổi trước khi bước vào lớp 1. Tôi giúp phụ
huynh thay đổi tư duy, hiểu rằng sự chuẩn bị này không phải là tập trung nhồi nhét
các kỹ năng học tập mang tính học thuật thuần túy (như ép trẻ học đọc, học viết
hay làm toán trước chương trình) – điều dễ gây phản tác dụng và áp lực tâm lý cho
trẻ. Thay vào đó, sự chuẩn bị đúng đắn phải tập trung phát triển đồng bộ các chức
năng tâm lý và nền tảng thể chất để đảm bảo cho việc học lâu dài của trẻ, bao gồm
7 mặt cốt lõi: Thể chất, dinh dưỡng, nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc, quan hệ xã hội
và động cơ học tập.
+ Đổi mới hình thức tương tác và kết nối thông tin: Bên cạnh việc trao
đổi trực tiếp trong giờ đón – trả trẻ, tôi thường xuyên chia sẻ các tài liệu hướng
dẫn, các khoảnh khắc thực hành kỹ năng của trẻ tại lớp để phụ huynh nắm bắt qua
nhóm zalo. Từ đó, hướng dẫn cha mẹ cách đồng hành, đồng nhất biện pháp giáo
dục tại nhà, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ cùng cha mẹ tích cực tham gia vào các
hoạt động trải nghiệm thực tế do nhà trường tổ chức.
+ Ứng dụng nền tảng số để lưu trữ và chia sẻ học liệu cốt lõi: Nhằm tối
ưu hóa công tác tuyên truyền và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao giải
pháp, tôi đã chủ động số hóa một số giáo án thực hành để đăng tải công khai trên
tài khoản cá nhân tại Thư viện trực tuyến Violet. Kênh lưu trữ trực tuyến này đóng
vai trò như một kho tài nguyên mở ổn định của cá nhân. Định hướng này không
chỉ giúp phụ huynh học sinh có thể chủ động truy cập, tham khảo bất cứ lúc nào để
đồng nhất cách hướng dẫn trẻ tại nhà, mà còn là địa chỉ số tin cậy giúp các đồng
nghiệp dễ dàng tiếp cận, tải về tham khảo trong quá trình giảng dạy của mình.
Qua việc sử dụng các giải pháp trên tôi nhận thấy: Trẻ có nhiều cơ hội được
thực hành, trải nghiệm qua đó giúp trẻ có một tâm thế tốt để bước vào lớp 1. Tạo
cơ hội cho trẻ phát triển một cách toàn diện. Tôi đã làm chủ được phương pháp đổi
mới, biết cách linh hoạt và sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục tiền
tiểu học. Đặc biệt, việc tự chủ động tham gia và hoàn thành khóa học bồi dưỡng
chuyên sâu về kỹ năng, phương pháp viết chữ đẹp tại Trung tâm nghiên cứu và
phát triển chữ viết đã giúp tôi nâng cao vượt bậc trình độ chuyên môn, có thêm

8
điểm tựa tri thức khoa học để hướng dẫn và uốn nắn học sinh một cách chuẩn xác
nhất. Bước đầu xây dựng được một tài khoản cá nhân trên trang Thư viện trực
tuyến Violet với nhiều lượt tương tác và lượt tải bài tham khảo của các đồng
nghiệp. Tạo sự gắn kết giữa cô với trẻ, cô với gia đình trẻ, trẻ cùng cha mẹ tham
gia các hoạt động trải nghiệm thực tế tại trường.
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Các giải pháp đưa ra được thực hiện có hiệu quả tại lớp Mẫu giáo 5 - 6 tuổi
thôn Lồ và có thể thực hiện ở tất cả các lớp cùng độ tuổi trong toàn trường Mầm
non Lao Chải ngoài ra có thể nhân rộng ra các trường học vùng cao, trẻ dân tộc
thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Những thông tin cần được bảo mật: Không có
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Khi áp dụng sáng kiến có rất nhiều điều kiện để sáng kiến có thể đạt hiệu
quả như: Sự ủng hộ, đồng tình của Ban giám hiệu nhà trường, đồng nghiệp, phụ
huynh học sinh. Tự học hỏi, trau dồi kiến thức chuyên môn, luôn là tấm gương tốt
trong mọi hoạt động cho trẻ noi theo. Linh hoạt, sáng tạo trong việc đổi mới các
hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Lợi ích
thu
được

Trước khi áp dụng giải pháp

Hiệu
- Tốn thời gian, công sức của giáo
quả, lợi
viên chuẩn bị nhiều đồ dùng.
ích kinh
tế
Hiệu
quả, lợi
ích về
mặt xã
hội

Sau khi áp dụng giải pháp
- Khi thực hiện các giải pháp này
không mất nhiều thời gian, kinh phí.
Bởi tất cả các biện pháp đều được
lồng ghép thực hiện trong khi tổ
chức các hoạt động nuôi dưỡng,
chăm sóc giáo dục cho trẻ.
1. Đối với giáo viên: Bản thân được
nâng cao vượt bậc về năng lực
chuyên môn, đổi mới phương pháp
giảng dạy. Tiếp thu và làm chủ được
các kiến thức, kỹ năng sư phạm
chuyên sâu về giáo dục tiền tiểu học.

1. Đối với giáo viên: Bản thân đã
có kỹ năng dạy trẻ một số nội dung
cơ bản như phát âm, đọc, viết... tuy
nhiên chưa hiểu sâu về phương
pháp giáo dục tiền tiểu học chuyên
sâu nên hiệu quả tương tác chưa
cao.
2. Đối với phụ huynh: Việc phối 2. Đối với phụ huynh: Nhận thức
hợp giữa giáo viên và gia đình chưa của cha mẹ học sinh về việc chuẩn
được duy trì thường xuyên; phụ
bị tâm thế cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1
huynh chưa nhận thức đầy đủ tầm được nâng cao rõ rệt. Phụ huynh chủ
quan trọng của việc chuẩn bị tâm động, tích cực phối hợp và đồng
thế chuyển cấp nên hiệu quả đồng hành khăng khít cùng nhà trường để

9
hành còn hạn chế.

giáo dục trẻ tại nhà.

3. Đối với trẻ em: Một số trẻ còn 3. Đối với trẻ em: Trẻ trở nên mạnh
nhút nhát, thiếu tự tin, rụt rè trong dạn, tự tin, vô cùng hứng thú tham
giao tiếp với cô giáo và bạn bè
gia vào các hoạt động. Quy tụ được
trong quá trình học; tỷ lệ hứng thú một tâm thế vững vàng, chủ động và
và đạt các kỹ năng tiền tiểu học còn nề nếp kỷ luật tốt để sẵn sàng bước
thấp.
vào lớp 1 đạt hiệu quả cao nhất.
Kết quả thu được trước và sau khi áp dụng các giải pháp, qua khảo sát trẻ tại
l
 
Gửi ý kiến