Tìm kiếm Giáo án
gdgfg

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Trí Viễn
Ngày gửi: 18h:18' 01-05-2008
Dung lượng: 46.5 KB
Số lượt tải: 22
Nguồn:
Người gửi: Hồ Trí Viễn
Ngày gửi: 18h:18' 01-05-2008
Dung lượng: 46.5 KB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích:
0 người
Thiết nghĩ các môn học tự nhiên đều được đầu tư các dụng cụ thí nghiệm đắt tiền, vậy tại sao lại không đầu tư cho môn Lịch sử?
Việc dạy và học Lịch sử hiện nay đang là một vấn đề nóng bỏng được xã hội đặc biệt quan tâm. Những lỗ hỏng lớn về kiến thức lịch sử của giới trẻ đang rung lên những hồi chuông cảnh báo nguy cơ lịch sử vẻ vang của một dân tộc sẽ bị chôn vùi trong làn sóng kinh tế thị trường. Vậy đâu là giải pháp cho công trình san lấp ấy?
Xây dựng mô hình minh họa
Việc dạy và học Lịch sử ở các trường phổ thông lâu nay vẫn theo phương pháp truyền thống. Chỉ là những bài giảng suông với hàng loạt những sự kiện và con số khô khan được nhồi nhét vào đầu học sinh. Chính điều này gây nên sự chán nản và đối phó trong việc học sử. Giáo dục nước ta đang cần một phương pháp đổi mới theo hướng cải tiến bài giảng bằng những mô hình minh họa theo thiết kế và dàn dựng trong các viện bảo tàng, điều đó sẽ tạo nên một không khí thoải mái, hấp dẫn học sinh.
Thiết nghĩ các môn học tự nhiên đều được đầu tư các dụng cụ thí nghiệm đắt tiền, vậy tại sao lại không đầu tư cho môn Lịch sử? Trong khi đó, một mô hình lịch sử còn đơn giản và rẻ hơn nhiều so với một kính hiển vi hay một máy phát điện.
Ngoại khóa với các cựu chiến binh
Bên cạnh những giờ học trên lớp, ngoại khóa là điều cần thiết để giải tỏa những căng thẳng và bổ sung thêm nhiều kiến thức cho học sinh. Những câu chuyện, những kỉ niệm chân thực về một thời lửa đạn được các nhân chứng sống kể lại sẽ thu hút học sinh đến với lịch sử. Họ sẽ hứng thú để cảm nhận về quá khứ hào hùng của cha ông. Bên cạnh đó là những tiết mục văn nghệ ,những vở kịch, những bài hát mang đậm tính lịch sử. Tất cả sẽ thấm dần vào nhận thức của học sinh chứ không phải là nhồi nhét một cách thụ động, tiêu cực.
Cải tạo, nâng cao kiến thức lịch sử bằng điện ảnh
Ai cũng công nhận một thực tế rằng: phim cổ trang Trung Quốc được sản xuất với một khối lượng lớn và đang được công chiếu ở hầu khắp các quốc gia (trong đó có Việt Nam). Những bộ phim mang màu sắc lịch sử này đang góp phần giáo dục cho giới trẻ Trung Quốc những kiến thức về nền văn hóa lâu đời của dân tộc. Và nó cũng góp phần quảng bá nền văn hóa Trung Hoa ra trường quốc tế, đó cũng là lời giải thích cho vấn đề tại sao giới trẻ Việt Nam lại biết nhiều về lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử nước nhà. Một cậu bé lớp 5 có thể nắm rất rõ những triều vua nhà Thanh, những trận đánh lịch sử trong Tam Quốc…nhưng không biết gì về vua Quang Trung và những trận đánh thần tốc của người anh hùng áo vải. Truyền hình Việt Nam đang thưa dần những bộ phim về thời chiến, thay vào đó là sự lên ngôi của những bộ phim về thời kinh tế thị trường mở cửa. Được biết, ngành điện ảnh Việt Nam sẽ xây dựng nhiều khu phim trường lớn và hy vọng những bộ phim về lịch sử cổ trang Việt Nam sẽ xuất hiện nhiều hơn trên truyền hình để góp phần giáo dục lịch sử cho toàn xã hội.
Lịch sử là cái hồn của dân tộc, là nguồn cội của sự phát triển đi lên, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Một dân tộc phát triển là một dân tộc biết gìn giữ và phát huy những truyền thống lịch sử, nhiệm vụ ấy đang đặt nặng trên” đôi vai” ngành giáo dục nước nhà.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, công cuộc dựng nước và giữ nước đã hun đúc cho dân tộc ta những phẩm chất cao đẹp và những truyền thống vô cùng quý báu. Trong đó, yêu nước trở thành tình cảm thiêng liêng, là chuẩn mực đạo lý cao nhất và đứng đầu trong thang giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc, là động lực nội sinh to lớn tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã trải qua một chặng đường lịch sử với nhiều thử thách, hy sinh nhưng cũng đầy khí phách anh hùng, dũng cảm. Những thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau phát huy những phẩm chất anh hùng sáng ngời của dân tộc viết nên những trang sử vàng chói lọi... Chúng ta có quyền tự hào về những trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... và phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị đó tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng. Lịch sử Việt Nam đã thể hiện sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính. Vì vậy, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên cần phải có những hiểu biết sâu sắc về lịch sử dân tộc Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc: Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là: 1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và mong muốn của Người là mục tiêu giành độc lập, tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, làm cho nhân dân "ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Để thực hiện mục tiêu đó cần thực hiện sự giải phóng triệt để: Đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Chính vì mục tiêu cao cả đó, Người đi tìm đường cứu nước và đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động trên toàn thế giới. 2. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Người đã chỉ ra rằng: "Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Người đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Những tư tưởng quan trọng này xuất phát từ một đòi hỏi thực tiễn bức xúc: Phải chống chủ nghĩa thực dân, phải gắn liền cách mạng thuộc địa với cách mạng ở chính quốc. Con đường để giữ vững độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no cho dân tộc là con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ di sản lý luận Hồ Chí Minh. 3. Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh đã đưa vai trò của nhân dân lên tầm cao mới: Nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là người chủ thực sự của đất nước; coi nhân tố con người là nguồn lực cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch để kháng chiến, kiến quốc. Người thường nói: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong. Sức mạnh của nhân dân được nhân lên gấp bội khi thực hiện được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".. 4. Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN. Dân chủ là mục tiêu, là động lực của cách mạng XHCN. Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, trong nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Nhà nước là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Do đó, Hồ Chí Minh coi trọng việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, của dân, do dân, vì dân. Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, có tính dân tộc và nhân dân sâu sắc do Đảng lãnh đạo, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực; đội ngũ cán bộ Nhà nước phải có đức, có tài, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là công bộc của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ. Để xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ phải kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Coi tham ô, lãng phí, quan liêu là ba thứ "giặc nội xâm" rất nguy hiểm. 5. Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi bạo lực cách mạng là sức mạnh tổng hợp của nhân dân, bao gồm các hình thức: Chính trị, quân sự và sự kết hợp giữa chính trị và quân sự. Trong quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh việc chăm lo xây dựng lực lượng chính trị, phải chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thực hành chiến tranh nhân dân với sức mạnh tổng hợp. Người nhấn mạnh: Quân sự phải phục tùng chính trị, lấy chính trị làm gốc. Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, quân đội ta là đội quân chính trị, đội quân chiến đấu, đội quân công tác. Lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. 6. Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Suốt đời Hồ Chí Minh phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ rõ: Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì! Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân". 7. Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Hồ Chí Minh luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và mọi người dân về phẩm chất đạo đức cách mạng. Người đặt lên hàng đầu tư cách "Người cách mệnh" và bản thân Người cũng là một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người coi đạo đức như là gốc của cây, là nguồn của các dòng sông. Người cộng sản mà không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Cốt lõi của đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì CNXH. 8. Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ các
Việc dạy và học Lịch sử hiện nay đang là một vấn đề nóng bỏng được xã hội đặc biệt quan tâm. Những lỗ hỏng lớn về kiến thức lịch sử của giới trẻ đang rung lên những hồi chuông cảnh báo nguy cơ lịch sử vẻ vang của một dân tộc sẽ bị chôn vùi trong làn sóng kinh tế thị trường. Vậy đâu là giải pháp cho công trình san lấp ấy?
Xây dựng mô hình minh họa
Việc dạy và học Lịch sử ở các trường phổ thông lâu nay vẫn theo phương pháp truyền thống. Chỉ là những bài giảng suông với hàng loạt những sự kiện và con số khô khan được nhồi nhét vào đầu học sinh. Chính điều này gây nên sự chán nản và đối phó trong việc học sử. Giáo dục nước ta đang cần một phương pháp đổi mới theo hướng cải tiến bài giảng bằng những mô hình minh họa theo thiết kế và dàn dựng trong các viện bảo tàng, điều đó sẽ tạo nên một không khí thoải mái, hấp dẫn học sinh.
Thiết nghĩ các môn học tự nhiên đều được đầu tư các dụng cụ thí nghiệm đắt tiền, vậy tại sao lại không đầu tư cho môn Lịch sử? Trong khi đó, một mô hình lịch sử còn đơn giản và rẻ hơn nhiều so với một kính hiển vi hay một máy phát điện.
Ngoại khóa với các cựu chiến binh
Bên cạnh những giờ học trên lớp, ngoại khóa là điều cần thiết để giải tỏa những căng thẳng và bổ sung thêm nhiều kiến thức cho học sinh. Những câu chuyện, những kỉ niệm chân thực về một thời lửa đạn được các nhân chứng sống kể lại sẽ thu hút học sinh đến với lịch sử. Họ sẽ hứng thú để cảm nhận về quá khứ hào hùng của cha ông. Bên cạnh đó là những tiết mục văn nghệ ,những vở kịch, những bài hát mang đậm tính lịch sử. Tất cả sẽ thấm dần vào nhận thức của học sinh chứ không phải là nhồi nhét một cách thụ động, tiêu cực.
Cải tạo, nâng cao kiến thức lịch sử bằng điện ảnh
Ai cũng công nhận một thực tế rằng: phim cổ trang Trung Quốc được sản xuất với một khối lượng lớn và đang được công chiếu ở hầu khắp các quốc gia (trong đó có Việt Nam). Những bộ phim mang màu sắc lịch sử này đang góp phần giáo dục cho giới trẻ Trung Quốc những kiến thức về nền văn hóa lâu đời của dân tộc. Và nó cũng góp phần quảng bá nền văn hóa Trung Hoa ra trường quốc tế, đó cũng là lời giải thích cho vấn đề tại sao giới trẻ Việt Nam lại biết nhiều về lịch sử Trung Quốc hơn là lịch sử nước nhà. Một cậu bé lớp 5 có thể nắm rất rõ những triều vua nhà Thanh, những trận đánh lịch sử trong Tam Quốc…nhưng không biết gì về vua Quang Trung và những trận đánh thần tốc của người anh hùng áo vải. Truyền hình Việt Nam đang thưa dần những bộ phim về thời chiến, thay vào đó là sự lên ngôi của những bộ phim về thời kinh tế thị trường mở cửa. Được biết, ngành điện ảnh Việt Nam sẽ xây dựng nhiều khu phim trường lớn và hy vọng những bộ phim về lịch sử cổ trang Việt Nam sẽ xuất hiện nhiều hơn trên truyền hình để góp phần giáo dục lịch sử cho toàn xã hội.
Lịch sử là cái hồn của dân tộc, là nguồn cội của sự phát triển đi lên, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Một dân tộc phát triển là một dân tộc biết gìn giữ và phát huy những truyền thống lịch sử, nhiệm vụ ấy đang đặt nặng trên” đôi vai” ngành giáo dục nước nhà.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, công cuộc dựng nước và giữ nước đã hun đúc cho dân tộc ta những phẩm chất cao đẹp và những truyền thống vô cùng quý báu. Trong đó, yêu nước trở thành tình cảm thiêng liêng, là chuẩn mực đạo lý cao nhất và đứng đầu trong thang giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc, là động lực nội sinh to lớn tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã trải qua một chặng đường lịch sử với nhiều thử thách, hy sinh nhưng cũng đầy khí phách anh hùng, dũng cảm. Những thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau phát huy những phẩm chất anh hùng sáng ngời của dân tộc viết nên những trang sử vàng chói lọi... Chúng ta có quyền tự hào về những trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... và phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị đó tiêu biểu cho một dân tộc anh hùng. Lịch sử Việt Nam đã thể hiện sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính. Vì vậy, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên cần phải có những hiểu biết sâu sắc về lịch sử dân tộc Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc: Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là: 1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và mong muốn của Người là mục tiêu giành độc lập, tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, làm cho nhân dân "ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Để thực hiện mục tiêu đó cần thực hiện sự giải phóng triệt để: Đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Chính vì mục tiêu cao cả đó, Người đi tìm đường cứu nước và đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động trên toàn thế giới. 2. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Người đã chỉ ra rằng: "Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Người đã giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Những tư tưởng quan trọng này xuất phát từ một đòi hỏi thực tiễn bức xúc: Phải chống chủ nghĩa thực dân, phải gắn liền cách mạng thuộc địa với cách mạng ở chính quốc. Con đường để giữ vững độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no cho dân tộc là con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ di sản lý luận Hồ Chí Minh. 3. Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Hồ Chí Minh đã đưa vai trò của nhân dân lên tầm cao mới: Nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là người chủ thực sự của đất nước; coi nhân tố con người là nguồn lực cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch để kháng chiến, kiến quốc. Người thường nói: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó vạn lần dân liệu cũng xong. Sức mạnh của nhân dân được nhân lên gấp bội khi thực hiện được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".. 4. Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN. Dân chủ là mục tiêu, là động lực của cách mạng XHCN. Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, trong nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Nhà nước là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Do đó, Hồ Chí Minh coi trọng việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, của dân, do dân, vì dân. Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, có tính dân tộc và nhân dân sâu sắc do Đảng lãnh đạo, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực; đội ngũ cán bộ Nhà nước phải có đức, có tài, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là công bộc của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ. Để xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ phải kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Coi tham ô, lãng phí, quan liêu là ba thứ "giặc nội xâm" rất nguy hiểm. 5. Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi bạo lực cách mạng là sức mạnh tổng hợp của nhân dân, bao gồm các hình thức: Chính trị, quân sự và sự kết hợp giữa chính trị và quân sự. Trong quá trình đấu tranh giành và giữ chính quyền, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh việc chăm lo xây dựng lực lượng chính trị, phải chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thực hành chiến tranh nhân dân với sức mạnh tổng hợp. Người nhấn mạnh: Quân sự phải phục tùng chính trị, lấy chính trị làm gốc. Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, quân đội ta là đội quân chính trị, đội quân chiến đấu, đội quân công tác. Lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. 6. Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Suốt đời Hồ Chí Minh phấn đấu cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ rõ: Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì! Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân". 7. Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Hồ Chí Minh luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và mọi người dân về phẩm chất đạo đức cách mạng. Người đặt lên hàng đầu tư cách "Người cách mệnh" và bản thân Người cũng là một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người coi đạo đức như là gốc của cây, là nguồn của các dòng sông. Người cộng sản mà không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Cốt lõi của đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì CNXH. 8. Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ các
 








Các ý kiến mới nhất