Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đời thừa (Nam Cao)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:33' 19-05-2008
Dung lượng: 72.0 KB
Số lượt tải: 447
Số lượt thích: 0 người
đời thừa của nam cao
I – Một số khái niệm liên quan đến tác phẩm:
1. Khái niệm “cái bi”: Để hiểu được truyện ngắn Đời thừa chúng ta phải đi từ khái niệm về cái bi trong văn học. ở ngoài đời cái bi bao giờ cũng gắn liền với cái thảm. Nó là hiện tượng tan vỡ, chết chóc, bất hạnh chỉ gợi cho chúng ta những xúc cảm đau thương. Còn trong mỹ học, thì khi nào cái đáng có, cái lẽ ra phải có lại không thể có được trong cuộc sống thì lúc ấy xuất hiện cái bi mỹ học.
2. “Bi kịch tinh thần” được hiểu là tình trạng của những con người có hoài bão, có lý tưởng chân chính nhưng bị hoàn cảnh trói buộc không sao thực hiện được điều đó. ở một tầng sâu hơn, “Bi kịch tinh thần” được hiểu là việc nhân vật tự ý thức được tình trạng của mình, cố tìm lối thoát nhưng không tìm được, sống triền miên trong những dằn vặt, dày vò đau đớn về tinh thần.
II. Về tác phẩm
1. Đề tài chủ đề:
Trong VH 30 – 45 đề tài người trí thức TTS khá quen thuộc. Nhưng chỉ đến NC, với ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt, sắc sảo… hình ảnh nhân vật trí thức TTS mới hiện lên thật cụ thể và sinh động qua những tấn bi kịch tinh thần, cùng với những cuộc đấu tranh tư tưởng đầy căng thẳng nhưng bế tắc.
Đời thừa là truyện về một nhà văn nghèo bất đắc chí. Đề tài nhà văn nghèo bất đắc chí không thật mới: đương thời, đã có mực mài nước mắt (Lan Khai), Nợ văn (Lãng Tử), nhiều trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân, nhiều văn thơ của Tản Đà, Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân… hai câu thơ quen thuộc của Xuân Diệu: “Nỗi đời căy đắng giơ nanh vuốt - Cơm áo không đùa với khách thơ”…Tất cả đều đã nói thấm thía về cảnh nghèo túng đáng thương của người cầm bút.
Đời thừa cũng như một số sáng tác của Nam Cao gần gũi với nó về đề tài, giọng điệu, tư tưởng: Trăng sáng, Nước mắt, Sống mòn…đã ghi lại hình ảnh chân thực hình ảnh buồn thảm của người tri thức tiểu tư sản nghèo.Tuy không đến nỗi quá đen tối, “tối như mực” lắm khi “đen quánh lại”- chữ dùng của Nguyễn Tuân-như cuộc sống của quần chúng lao động thường xuyên đói rét thê thảm, nhưng cuộc sống của những người “lao đông áo trắng’, những “vô sản đeo cổ cồn” đó cũng toàn một mầu xám nhức nhối: “Không tối đen mà xam xám nhờ nhờ” (Xuân Diệu). Vì nghèo túng triền miên, vì “chết mòn” về tinh thần.
Trong bức tranh chung về cuộc sống người tiểu tư sản nghèo, Nam Cao đã góp vào những nét bút rất mực chân thực và sắc sảo, làm cho hình ảnh vừa bi vừa hài của lớp người này trở nên đầy ám ảnh.
Trong mảng sáng tác về đề tài tiểu tu sản của Nam cao, Đời thừa có một vị trí đặc biệt. Cũng như tiểu thuyết Sống mòn, Đời thừa là sự tổng hợp ngòi bút của Nam Cao trong đề tài tiểu tư sản, là tác phẩm đã thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng nghệ thuật cơ bản của nhà văn. Có điều, trong khuôn khổ truyện ngắn, sự tổng hợp ấy không trải ra trên bề rộng mà chủ yéu tập trung đi vào bề sâu.
Giá trị của Đời thừa không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người trí thức tiểu tư sản nghèo. Khác với các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,Vũ Trọng Phụng, truyện của Nam Cao thuộc loại có nhiều lớp nghiã, tư tưởng truyện không phải luôn trùng khít với nội dung cuộc sống được phản ảnh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thực tình cảnh nhếch nhác của người trí thức nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của họ, qua đó, đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc.
2. ý nghĩa tiêu đề: “Đời thừa” theo nghĩa hẹp là bi kịch của một cuộc đời vô nghĩa không ai cần đến. Nghĩa rộng: “Đời thừa” là bi kịch của người khao khát được sống 1 cách mê say, sống 1 cách cao đẹp, nhưng do hoàn cảnh khách quan nào đấy họ lại phải sống 1 cách hoàn toàn vô nghĩa, làm 1 công việc mà theo họ là hoàn toàn vô vị. Hay nói như chính cách nói của NC họ phải sống 1 cuộc “Đời thừa.”
Bên cạnh ý nghĩa chính nói trên, qua TP Đời thừa, NC còn muốn gửi gắm những quan niệm của ông về nghề viết văn, về lao động của người sáng tác, lương tâm và trách nhiệm của họ đối với nghề nghiệp.
III – Phân tích nhân vật Hộ
Về phương pháp: Đọc truyện ta thấy tính cách của NV Hộ phát triển trên 2 phương diện: tính cách của 1 nghệ sĩ và tính cách của 1 người chồng người cha.
Để làm rõ bi kịch tinh thần của NV Hộ, chúng ta phải làm 2 thao tác: Một là phân tích tính cách của 1 nghệ sĩ để nhìn thấy ( cái đáng có, cái lẽ ra phải có ) sau đó mới phân tính cách của 1 người chồng người cha để đánh giá cho hết ( cái không thể có được trong cuộc sống). Độ chênh lệch càng lớn thì cái bi càng rõ.
Phân tích bi kịch của người nghệ sĩ trong con người Hộ.
Nâng lên:
Hộ là 1 người say mê nghệ thuật, rất “mê văn”. Đối với H thì NT là tất cả ngoài ra không có gì đáng phải quan tâm nữa. H chấp nhận sông nghèo khổ miễn là được phụng sự nghệ thuật. Anh bảo với vợ : “Tôi mê văn quá nên mới khổ. ấy thế mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi chưa chắc tôi đã đổi.Tôi cho rằng mỗi khi được đọc một đoạn văn như đoạn này mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm”. Như vậy, ở Hộ, văn chương là một niềm vui to lớn, không có lạc thú nào sánh được.
Nhưng Hộ không chỉ say mê thưởng thức văn chương, mà anh còn ôm ấp một “hoài bão lớn” về nghề văn.Văn chương không chỉ là sở thích, lạc thú trong đời mà còn là sự nghiệp, là lý tưởng sống của anh: “đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở, hắn đọc,ngẫm nghĩ,tìm tòi,nhận xét và suy tưởng không biét chán…Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa”. Cũng như nhân vật Điền trong Trăng sáng “sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm nổi mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn. Đói rét không có nghiã lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp”. H say xưa sáng tạo và khao khát đến 1 ngày nào đó sẽ viết được 1 TP hay, TP ấy chứa đựng những lẽ sống lớn lao cao cả. “Nó ca ngợi lòng bác ái, sự công bình”. H còn mơ tưởng đến cái ngày TP của mình sẽ đoạt giải nobel. ở đây chúng ta không nên hiểu H là người háo danh thích phô trương. Điều đó chỉ cho thấy H khao khát sống 1 cách ý nghĩa, muốn đem lại những điều tốt đẹp cho cuộc đời. H không chịu sống tầm thường tẻ nhạt.
Chuyện Hộ “mê văn”, có “hoài bão lớn” về văn chương và khao khát tên tuổi chói sáng, là một hiện tượng phổ biến, có ý nghĩa điển hình.
- Ngoài lòng say mê NT, có hoài bão, có lý tưởng, Hộ còn là 1 nhà văn có 1 quan niệm hết sức đúng đắn về nghề viết văn của mình. Theo H “ văn chương không cần đến những người thợ khéo tay chỉ làm theo những khuôn mẫu có sãn. Văn chương chỉ dung nạp những người biết cảm hứng, biết khơi những nguồn chưa 1 ai khơi …”.
(Quan niệm này của NV Hộ còn được NC nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở “Những chuyện không muốn viết”)
- NC cũng tuyên bố “nghề văn kỵ nhất cái thói thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”. H coi nghề văn là 1 thứ lao động rất nghiêm túc, rất khó nhọc, người viết không thể nào cẩu thả được. Theo H sự cẩu thả trong bất kỳ 1 nghề nào cũng là đáng trách, nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.
Hạ xuống
Nếu như ở đời này người ta muốn gì cũng làm được thì có lẽ cuộc sống sẽ tốt đẹp biết bao nhiêu. H khao khát được là 1 nhà văn chân chính, được viết như quan niệm của mình, được chăm chút cho NT, cho câu chữ. Lúc chỉ có 1 mình thì H sống thế nào cũng xong, dồn hết tâm lực vào việc viết sách, nhưng éo le thay H lại không thể làm được như thế.
“Hoài bão lớn” mà Hộ quyết đạt tới bằng một ý chí phi thường đã không thể thực hiện được .Hộ gặp Từ giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang”đau đớn không bờ bến” : bị một gã sở Khanh bỏ rơi với đứa bé mới đẻ…Hộ đã “cúi xuống nỗi đau khổ của Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ”.
Trước số phận đau khổ của con người, anh không còn có thể coi “nghệ thuật là tất cả”mà đã hành động như một con người chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phá hỏng sự nghiệp của anh. Từ khi”ghép cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo”. Hộ không thể “khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” như trước đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền. Và “những bận rộn tẹp nhẹp ,vô nghĩa lý” nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn”. Nhưng không phải chỉ thì giờ.
Vì phải kiếm tiền – trong điều kiện, khả năng của Hộ, cách kiếm tiền duy nhất là sáng tác – Hộ không thể viết thận trọng, nghiêm túc theo yêu cầu của nghệ thuật chân chính. Anh “phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng (…) phải viết những bài báo để người ta đọc
 
Gửi ý kiến