ĐÔI NÉT VỀ NGUYỄN KHUYẾN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: HOÀNG VIỆT HOÀI
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:17' 09-02-2009
Dung lượng: 84.0 KB
Số lượt tải: 60
Nguồn: HOÀNG VIỆT HOÀI
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:17' 09-02-2009
Dung lượng: 84.0 KB
Số lượt tải: 60
Số lượt thích:
0 người
Đôi nét về Nguyễn Khuyến
Trong Văn Học Việt Nam, những nhà thơ lớn đều là những nhà thơ dân tộc. Nhưng nơi Nguyễn Khuyến, chữ "dân tộc" thật gần gũi, thích hợp, và sáng chói hơn cả. Dù ông không có bản văn hùng tráng như ``Bình Ngô Đại Cáo `` của Nguyễn Trãi, những bài thơ trau chuốt như Bà Huyện Thanh Quan, hay nhiều bài thơ đạo lý răn đời như Nguyễn bỉnh Khiêm.Nhưng nơi Nguyễn Khuyến, có một tấm lòng lai láng với cảnh vật non sông, chan chứa sự thông cảm với dân lành, đề cao tình bạn rạng ngời, và nhất là một lòng yêu nước sâu sa. Chúng ta sẽ cùng nhìn lại cuộc đời và thi phẩm của ông, để thấy rõ tài năng và tâm hồn một nhà thơ xuất sắc của dân tộc.
I. NHÀ THƠ CỦA NÔNG THÔN
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, thọ 74 tuổi . Trừ thời gian làm quan và lên Hà Nội dạy học, ông đã sống ở quê nhà hơn 40 năm. Do đó, ông thật hiểu biết từ bụi tre, ao cá, ruộng vườn. đến làng xóm, dân tình, phong tục.Dưới ngòi bút của ông, nông thôn Việt nam trở thành thật đẹp, thật gần, với những hình ảnh rõ ràng, sinh động:
Trâu già góc bụi phì hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
Với những tiếng thật Việt Nam
Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Đặc biệt là khi tả cảnh thu, rõ ràng là mùa thu của quê hương . Nguyễn Khuyến trở thành thi sĩ của mùa thu với ba bài thơ bất hủ: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh . Tuy rằng trước kia cũng có những nhà thơ tả cảnh thu, nhưng có vẻ như mượn cảnh sắc Trung Hoa và đầy khuôn sáo như thơ thời Hồng Đức
Lác đác ngô đồng mấy lá bay
Tin thu heo hắt lọt hơi may. (Hồng Đức quốc âm thi tập)
So với những câu thơ của Nguyễn Khuyến, thật không tạo ấn tượng bằng:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo (Thu điếu)
Ngay cả khi tả cảnh ngôi chùa cũ kỹ cùng với một nhà sư đơn độc, ông cũng dùng những hình ảnh thật đẹp: Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư cụ nằm chung với khói mây (Nhớ cảnh Chùa Đọi)
Nhưng đó là hình ảnh "sương khói" rất ít gặp nơi thơ Nguyễn Khuyến, còn phần nhiều là những hình ảnh quen thuộc, chất phác, gắn liền với dân quê như: con trâu, con gà, ngõ trúc, đường làng, khúc sông, bãi chợ, vườn cà, cây cải, ao cá, bờ tre.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khác vắng teo. (Thu điếu)
Tuy nhiên, cái làm cho Nguyễn Khuyến thực sự là nhà thơ của nông thôn, không phải chỉ là những bài thơ tả cảnh, mà là tình cảm của ông đối với những người chân lấm tay bùn. Ông thật thông cảm với đời sống cực nhọc của dân, một nắng hai sương, lại thêm cảnh vỡ đê lụt lội, nghèo túng, làm ăn thất bát, nợ nần ``lãi mẹ đẻ lãi con ". Có thể nói rằng: với Nguyễn Khuyến, thơ văn Việt Nam "lội xuống ruộng đồng " và cảm thông sâu sắc với đời sống dân quê, để nghe:
Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng rước xuân sang (Khai bút )
Vui với tiếng trống xuân đấy, nhưng rồi cũng để thấy:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đàng chiêm, mùa mất mùa (chốn quê)
Ông đã cùng sống với cảnh khổ của dân
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua ( Chốn quêû)
Và ngậm ngùi với dân: Quai mễ Thanh Liêm đã lở rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi (Nước lụt Hà Nam)
Hai chữ "Vùng ta" của Nguyễn Khuyến thật gần gũi, chí tình ; như chính ông với quê hương, làng nước.
Tuy nghèo khổ, lam lũ, nhưng tình cảm con người với nhau ở thôn quê thật thân thiện:
Chú Đáo bên làng lên với tớ
Ông từ xóm chợ lại cùng ta. (Lên lão)
Và: Cổng reo trẻ đón, ông về đó
Gậy chống già chào: bác đấy a? (Hoàn gia tác )
Nguyễn Khuyến sống chan hoà với nông dân, người ta kể: khi ông đi dạo trong làng, gặp những cụ già, ông đã dừng lại mở cơi trầu, mời họ ăn và chuyện trò thật đằm thắm. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Khuyến có 1 tâm hồn thật bình dân. Và Văn học sử cho ta thấy: chưa có 1 quan lớn tổng đốc nào lại đi làm câu đối, câu
Trong Văn Học Việt Nam, những nhà thơ lớn đều là những nhà thơ dân tộc. Nhưng nơi Nguyễn Khuyến, chữ "dân tộc" thật gần gũi, thích hợp, và sáng chói hơn cả. Dù ông không có bản văn hùng tráng như ``Bình Ngô Đại Cáo `` của Nguyễn Trãi, những bài thơ trau chuốt như Bà Huyện Thanh Quan, hay nhiều bài thơ đạo lý răn đời như Nguyễn bỉnh Khiêm.Nhưng nơi Nguyễn Khuyến, có một tấm lòng lai láng với cảnh vật non sông, chan chứa sự thông cảm với dân lành, đề cao tình bạn rạng ngời, và nhất là một lòng yêu nước sâu sa. Chúng ta sẽ cùng nhìn lại cuộc đời và thi phẩm của ông, để thấy rõ tài năng và tâm hồn một nhà thơ xuất sắc của dân tộc.
I. NHÀ THƠ CỦA NÔNG THÔN
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, thọ 74 tuổi . Trừ thời gian làm quan và lên Hà Nội dạy học, ông đã sống ở quê nhà hơn 40 năm. Do đó, ông thật hiểu biết từ bụi tre, ao cá, ruộng vườn. đến làng xóm, dân tình, phong tục.Dưới ngòi bút của ông, nông thôn Việt nam trở thành thật đẹp, thật gần, với những hình ảnh rõ ràng, sinh động:
Trâu già góc bụi phì hơi nắng
Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người
Với những tiếng thật Việt Nam
Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Đặc biệt là khi tả cảnh thu, rõ ràng là mùa thu của quê hương . Nguyễn Khuyến trở thành thi sĩ của mùa thu với ba bài thơ bất hủ: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh . Tuy rằng trước kia cũng có những nhà thơ tả cảnh thu, nhưng có vẻ như mượn cảnh sắc Trung Hoa và đầy khuôn sáo như thơ thời Hồng Đức
Lác đác ngô đồng mấy lá bay
Tin thu heo hắt lọt hơi may. (Hồng Đức quốc âm thi tập)
So với những câu thơ của Nguyễn Khuyến, thật không tạo ấn tượng bằng:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo (Thu điếu)
Ngay cả khi tả cảnh ngôi chùa cũ kỹ cùng với một nhà sư đơn độc, ông cũng dùng những hình ảnh thật đẹp: Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư cụ nằm chung với khói mây (Nhớ cảnh Chùa Đọi)
Nhưng đó là hình ảnh "sương khói" rất ít gặp nơi thơ Nguyễn Khuyến, còn phần nhiều là những hình ảnh quen thuộc, chất phác, gắn liền với dân quê như: con trâu, con gà, ngõ trúc, đường làng, khúc sông, bãi chợ, vườn cà, cây cải, ao cá, bờ tre.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khác vắng teo. (Thu điếu)
Tuy nhiên, cái làm cho Nguyễn Khuyến thực sự là nhà thơ của nông thôn, không phải chỉ là những bài thơ tả cảnh, mà là tình cảm của ông đối với những người chân lấm tay bùn. Ông thật thông cảm với đời sống cực nhọc của dân, một nắng hai sương, lại thêm cảnh vỡ đê lụt lội, nghèo túng, làm ăn thất bát, nợ nần ``lãi mẹ đẻ lãi con ". Có thể nói rằng: với Nguyễn Khuyến, thơ văn Việt Nam "lội xuống ruộng đồng " và cảm thông sâu sắc với đời sống dân quê, để nghe:
Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng rước xuân sang (Khai bút )
Vui với tiếng trống xuân đấy, nhưng rồi cũng để thấy:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đàng chiêm, mùa mất mùa (chốn quê)
Ông đã cùng sống với cảnh khổ của dân
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua ( Chốn quêû)
Và ngậm ngùi với dân: Quai mễ Thanh Liêm đã lở rồi
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi (Nước lụt Hà Nam)
Hai chữ "Vùng ta" của Nguyễn Khuyến thật gần gũi, chí tình ; như chính ông với quê hương, làng nước.
Tuy nghèo khổ, lam lũ, nhưng tình cảm con người với nhau ở thôn quê thật thân thiện:
Chú Đáo bên làng lên với tớ
Ông từ xóm chợ lại cùng ta. (Lên lão)
Và: Cổng reo trẻ đón, ông về đó
Gậy chống già chào: bác đấy a? (Hoàn gia tác )
Nguyễn Khuyến sống chan hoà với nông dân, người ta kể: khi ông đi dạo trong làng, gặp những cụ già, ông đã dừng lại mở cơi trầu, mời họ ăn và chuyện trò thật đằm thắm. Điều đó chứng tỏ Nguyễn Khuyến có 1 tâm hồn thật bình dân. Và Văn học sử cho ta thấy: chưa có 1 quan lớn tổng đốc nào lại đi làm câu đối, câu
 









Các ý kiến mới nhất