ĐẶT VẤN ĐỀ VÀO BÀI MÔN LỊCH SỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Liên
Ngày gửi: 15h:40' 28-07-2008
Dung lượng: 43.0 KB
Số lượt tải: 266
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Liên
Ngày gửi: 15h:40' 28-07-2008
Dung lượng: 43.0 KB
Số lượt tải: 266
Số lượt thích:
0 người
I- Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Dạy học bao gồm 1 quá trình có bắt đầu và kết thúc. Bắt đầu như thế nào, vào bài mới bằng cách nào là hay và hiệu quả nhất? Chúng ta đôi khi nghĩ rằng chuyện mở đầu 1 tiết dạy hay là cách vào bài thật đơn giản và lắm lúc không cần thiết đặt nặng vấn đề này. Giống như cách chúng ta nói chuyện trước đám đông, người nghe có hứng thú để nghe tiếp câu chuyện hay không tùy thuộc vào cách bắt đầu câu chuyện lôi cuốn như thế nào. Mở đầu bài học cũng vậy, HS có thể sẽ mang tâm lý chờ đợi một sự bất ngờ, lôi cuốn nhưng nếu chúng ta mở đầu tiết học với một thái độ hờ hững, một tinh thần mệt mỏi, một lý luận thiếu logic hay một cách đặt vấn đề nhạt nhẽo sẽ làm cho tinh thần HS bị "xẹp" xuống như là một trái bóng đang dần bơm căng phồng lên. Mở bài như thế nào để không cầu kì, không dài dòng mà lại hiệu quả, kích thích sự tò mò cũng như tạo sự hưng phấn cho HS trong thời gian đầu của tiết học là điều khá quan trọng. Dĩ nhiên trong suốt tiết học, phần nào cũng quan trọng cả nhưng điều chúng ta muốn nhấn mạnh đến ở đây là "điểm khởi đầu". Cho nên việc lựa chọn đề tài này mang ý nghĩa hết sức thiết thực và quan trọng như bất cứ một phương pháp giảng dạy nào khác.
2. Cơ sở lý luận:
Lâu nay, chúng ta vẫn thường dùng một khái niệm để vào bài, đó là cụm từ "giới thiệu bài". Cụm từ này để cho biết một số đặc điểm để người ta nhận biết, trên cơ sở những nét chấm phá rất chung này, chúng ta - trong quá trình giảng bài, sẽ xâu chuỗi lại những vấn đề, những sự kiện lại để thành một bài học, sự kiện hoàn chỉnh.
Khái niệm "đặt vấn đề" chính là nêu ra một điều cần giải quuyết. Như vậy đặt vấn đề chính là cần phải giải quyết một vấn đề nào đó được đặt ra ngay từ đầu của tiết học. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh đến một điều, là làm thế nào để đưa ra cách đặt vấn đề vừa hay vừa hiệu quả và tạo được tác dụng tốt bước đầu cho HS từ đó tạo được cho HS tâm lý ngạc nhiên, thú vị và có ý thức hơn trong việc cùng nhau giải quyết vấn đề mà GV đã đặt ra.
3. Cơ sở thực tiễn:
Đặt vấn đề vào bài có rất nhiều cách khác nhau. Tùy theo đặc trưng của từng bộ môn mà mỗi GV áp dụng một cách cụ thể. Những bộ môn khoa học tự nhiên có thể có nhiều cách đặt vấn đề vào bài phong phú, đa dạng. GV có thể dùng ngay hình ảnh trực quan để đặt vấn đề vào bài một cách sinh động. Điều này sẽ tạo cho HS cảm nhận đầy đủ nhất ở các giác quan nhìn, nghe, thấy, hoặc thậm chí là sờ. Còn ở những bộ môn thuộc về KHXH mà nhất là lịch sử thì cách đặt vấn đề vào bài ít phong phú và thường dễ rơi vào tình trạng nhàm chán. Vì vậy, trong bài viết này tôi cố gắng đưa ra những cách đặt vấn đề vào bài theo sự vận dụng của mình trong những năm giảng dạy. Tất nhiên đây chỉ là những ý kiến mang tính chất cá nhân mà thôi. Trong thời gian tới hy vọng sẽ được học thêm nhiều cách đặt vấn đề hay hơn nữa để tiết dạy ngày càng phong phú và lôi cuốn HS hơn.
II- NHỮNG CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ VÀO BÀI:
1. Nêu khái quát toàn bộ những nội dung sẽ học trong tiết học đó. Với cách này, GV tạo cho HS một khung sườn nhưng chưa gắn vào đó các chi tiết để hoàn thiện một vấn đề. Cách này GV sẽ tạo cho HS tâm lý xâu chuỗi lại những sự kiện nhỏ để kết đính vào với những nội dung lớn mà GV đã khái quát. Bước đầu, HS trong quá trình tìm hiểu bài mới, HS sẽ dựa trên bộ khung này để xâu chuỗi các chi tiết nhỏ lại với nhau để cuối cùng sẽ cho ra một sự kiện hoàn chỉnh.
Ví dụ: Khi dạy bài bài 10 tiết 17 "Trung Quốc cuối TK XIX - đầu TK XX" (lịch sử 8). Để đặt vấn đề vào bài bằng cách này như: "Là một đất nước rộng lớn, đông dân nhất thế giới nhưng cuối TK XIX, TQ cũng bị các nước TB phương Tây xâu xé, xâm lược. Nhân dân TQ đã nổi dậy đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau. Đó là những nội dung chính mà chúng ta cùng tìm hiểu trong tiết học hôm nay".
Như vậy HS sẽ biết được TQ cuối TK XIX cũng bị các nước TB phương Tây xâm lược, xâu xé. Nhưng vì sao lại xâu xé? Và phong trào đấu tranh của nhân dân TQ sẽ đấu tranh bằnh những hình thức nào? Trên cơ sở đó, trong quá trình tìm hiểu bài mới HS sẽ gắn những chi tiết vào những nội dung chính để từ đó hiểu được vấn đề cần tìm hiểu.
2. Đặt vấn đề vào bài bằng cách đặt ra câu hỏi. Câu hỏi này GV để ngõ và lưu ý với HS cuối giờ sẽ cùng nhau để tìm ra câu trả lời. Ví dụ khi dạy bài 12 tiết 19 "Nhật Bản giữa TK XIX đầu TK XX" (Lịch sử 8), GV có thế vận dụng cách này như sau: "Các em hãy theo dõi bài học để cuối giờ giải đáp câu hỏi: Vì sao vào cuối TK XIX - đầu TK XX, trong khi hầu hết các nước châu Á trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước TB phương Tây thì Nhật Bản vẫn giữ được độc lập và còn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, trở thành một Đế quốc hùng mạnh?"
Với cách đặt câu hỏi này. HS sẽ cố gắng để tìm ra câu trả lời trong suốt quá trình tìm hiểu bài mới. Và chính GV cũng có thể áp dụng cách này để kiểm tra bài ngay tại lớp và lấy điểm cho HS nào trả lời được câu hỏi đó ở cuối giờ học.
3. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nhắc lại kiến thức cũ của tiết học hôm trước để dẫn dắt vào nội dung sẽ tìm hiểu trong tiết học hôm nay.
Ví dụ như khi dạy bài 18 tiết 20 "Trưng Vương và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán" (Lịch sử 6) ta có thể vận dụng cách này như sau: "Ở tiết 17, chúng ta đã tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã lật đổ ách đô hộ của nhà Hán. Sau khi giành được thắng lợi, Hai Bà Trưng đã tiến hành những công việc để xây dựng lại chính quyền. Và hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu những việc làm này sẽ có tầm quan trọng như thế nào trong buổi đầu đấu tranh để giành độc lập."
Học sinh sẽ nhớ ngay đến bài đã được học để tạo thành một sợi dây liên hệ với bài hôm nay.
4. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nêu qui luật tất yếu đã được kiểm chứng qua lịch sử.
Ví dụ như khi dạy bài 1 tiết 1 "Những cuộc CM tư sản đầu tiên" (Lịch sử 8), GV có thể vận dụng cách này như sau: "Lịch sử đã chứng minh, một chế độ xã hội hay một triều đại phong kiến đều diễn ra theo qui luật có sự mở đầu, có cao trào và thoái trào. Sự thoái trào của hình thức này sẽ bắt đầu cho một hình thức khác tiến bộ hơn. Ở đây, chúng ta thấy trong lòng chế độ phong kiến ở châu Aâu suy yếu đã nảy sinh một nền sản xuất mới. Chính những biến đổi mới mẻ này vào cuối thời kì trung đại đã làm bùng nổ các cuộc CM tư sản. CM tư sản đã mở đầu cho một hình thái kinh tế mới tiến bộ hơn chế độ phong kiến đó là chế độ TBCN. Vậy đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển không ngừng của lịch sử. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu quá trình này trong tiết học hôm nay".
Như vậy, học sinh sẽ biết được qui luật tất yếu của lịch sử phát triển từ thấp lên cao và lịch sử thế giới đến thời kì cận đại với một hình thái kinh tế xã hội cao hơn chế độ phong kiến là chế độ tư bản chủ nghĩa.
5. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nêu lên nguyên nhân và từ nguyên nhân này tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả chắc chắn xảy ra.
Ví dụ như khi dạy bài 21 tiết 32 "Chiến tranh thế giới thứ hai" (Lịch sử 8) gv có thể vận dụng cách này như sau: "Chính từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm cho các nước TB phương Tây chia rẽ thành hai khối đối địch nhau gay gắt, từ nguyên nhân này đã dẫn đến hậu quả vô cùng thảm khốc của nhân loại trong TK XX, đó là cả nhân loại phải hứng chịu gánh nặng khủng khiếp từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Có thể nói chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra bắt nguồn từ chính sự tham vọng và ích kỉ của những nước TB phương Tây. Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn nội dung này trong tiết học hôm nay".
Trong quá trình học bài mới, HS sẽ nhận rõ về cuộc CTTG2 bắt nguồn từ đâu và từ nguyên nhân đó đã dẫn đến hậu quả như thế nào.
6. Đặt vấn đề vào bài bằng cách đưa ra câu nói của một nhân vật lịch sử.
Ví dụ khi dạy Bài 24 tiết 37 Phần II "Cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1858 đến năm 1873" (Lịch sử 8) ta có thể vận dụng cách này như sau: "Nguyễn Trung Trực trước khi bị giặc Pháp hành hình, ông đã khảng khái nói "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây". Câu nói này là một minh chứng cho tinh thần kiên cường bất khuất của nhân dân ta khi chống ngoại xâm. Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta cũng vậy. Điều này thể hiện rất rõ qua câu nói trên của Nguyễn Trung Trực. Đó cũng chính là tinh thần đấu tranh đến cùng của nhân dân ta chống Pháp và cũng là nội dung của tiết học hôm nay".
Như vậy, khi vận dụng cách này, từ một câu nói HS sẽ cảm nhận đầy đủ tinh thần yêu nước của các thế hệ đi trước và từ đó nâng cao lòng tự hào và tấm lòng biết ơn những vị anh hùng dân tộc đã xả thân vì nghĩa lớn.
7. Cách đặt vấn đề vào bài bằng c
1. Lý do chọn đề tài:
Dạy học bao gồm 1 quá trình có bắt đầu và kết thúc. Bắt đầu như thế nào, vào bài mới bằng cách nào là hay và hiệu quả nhất? Chúng ta đôi khi nghĩ rằng chuyện mở đầu 1 tiết dạy hay là cách vào bài thật đơn giản và lắm lúc không cần thiết đặt nặng vấn đề này. Giống như cách chúng ta nói chuyện trước đám đông, người nghe có hứng thú để nghe tiếp câu chuyện hay không tùy thuộc vào cách bắt đầu câu chuyện lôi cuốn như thế nào. Mở đầu bài học cũng vậy, HS có thể sẽ mang tâm lý chờ đợi một sự bất ngờ, lôi cuốn nhưng nếu chúng ta mở đầu tiết học với một thái độ hờ hững, một tinh thần mệt mỏi, một lý luận thiếu logic hay một cách đặt vấn đề nhạt nhẽo sẽ làm cho tinh thần HS bị "xẹp" xuống như là một trái bóng đang dần bơm căng phồng lên. Mở bài như thế nào để không cầu kì, không dài dòng mà lại hiệu quả, kích thích sự tò mò cũng như tạo sự hưng phấn cho HS trong thời gian đầu của tiết học là điều khá quan trọng. Dĩ nhiên trong suốt tiết học, phần nào cũng quan trọng cả nhưng điều chúng ta muốn nhấn mạnh đến ở đây là "điểm khởi đầu". Cho nên việc lựa chọn đề tài này mang ý nghĩa hết sức thiết thực và quan trọng như bất cứ một phương pháp giảng dạy nào khác.
2. Cơ sở lý luận:
Lâu nay, chúng ta vẫn thường dùng một khái niệm để vào bài, đó là cụm từ "giới thiệu bài". Cụm từ này để cho biết một số đặc điểm để người ta nhận biết, trên cơ sở những nét chấm phá rất chung này, chúng ta - trong quá trình giảng bài, sẽ xâu chuỗi lại những vấn đề, những sự kiện lại để thành một bài học, sự kiện hoàn chỉnh.
Khái niệm "đặt vấn đề" chính là nêu ra một điều cần giải quuyết. Như vậy đặt vấn đề chính là cần phải giải quyết một vấn đề nào đó được đặt ra ngay từ đầu của tiết học. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh đến một điều, là làm thế nào để đưa ra cách đặt vấn đề vừa hay vừa hiệu quả và tạo được tác dụng tốt bước đầu cho HS từ đó tạo được cho HS tâm lý ngạc nhiên, thú vị và có ý thức hơn trong việc cùng nhau giải quyết vấn đề mà GV đã đặt ra.
3. Cơ sở thực tiễn:
Đặt vấn đề vào bài có rất nhiều cách khác nhau. Tùy theo đặc trưng của từng bộ môn mà mỗi GV áp dụng một cách cụ thể. Những bộ môn khoa học tự nhiên có thể có nhiều cách đặt vấn đề vào bài phong phú, đa dạng. GV có thể dùng ngay hình ảnh trực quan để đặt vấn đề vào bài một cách sinh động. Điều này sẽ tạo cho HS cảm nhận đầy đủ nhất ở các giác quan nhìn, nghe, thấy, hoặc thậm chí là sờ. Còn ở những bộ môn thuộc về KHXH mà nhất là lịch sử thì cách đặt vấn đề vào bài ít phong phú và thường dễ rơi vào tình trạng nhàm chán. Vì vậy, trong bài viết này tôi cố gắng đưa ra những cách đặt vấn đề vào bài theo sự vận dụng của mình trong những năm giảng dạy. Tất nhiên đây chỉ là những ý kiến mang tính chất cá nhân mà thôi. Trong thời gian tới hy vọng sẽ được học thêm nhiều cách đặt vấn đề hay hơn nữa để tiết dạy ngày càng phong phú và lôi cuốn HS hơn.
II- NHỮNG CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ VÀO BÀI:
1. Nêu khái quát toàn bộ những nội dung sẽ học trong tiết học đó. Với cách này, GV tạo cho HS một khung sườn nhưng chưa gắn vào đó các chi tiết để hoàn thiện một vấn đề. Cách này GV sẽ tạo cho HS tâm lý xâu chuỗi lại những sự kiện nhỏ để kết đính vào với những nội dung lớn mà GV đã khái quát. Bước đầu, HS trong quá trình tìm hiểu bài mới, HS sẽ dựa trên bộ khung này để xâu chuỗi các chi tiết nhỏ lại với nhau để cuối cùng sẽ cho ra một sự kiện hoàn chỉnh.
Ví dụ: Khi dạy bài bài 10 tiết 17 "Trung Quốc cuối TK XIX - đầu TK XX" (lịch sử 8). Để đặt vấn đề vào bài bằng cách này như: "Là một đất nước rộng lớn, đông dân nhất thế giới nhưng cuối TK XIX, TQ cũng bị các nước TB phương Tây xâu xé, xâm lược. Nhân dân TQ đã nổi dậy đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau. Đó là những nội dung chính mà chúng ta cùng tìm hiểu trong tiết học hôm nay".
Như vậy HS sẽ biết được TQ cuối TK XIX cũng bị các nước TB phương Tây xâm lược, xâu xé. Nhưng vì sao lại xâu xé? Và phong trào đấu tranh của nhân dân TQ sẽ đấu tranh bằnh những hình thức nào? Trên cơ sở đó, trong quá trình tìm hiểu bài mới HS sẽ gắn những chi tiết vào những nội dung chính để từ đó hiểu được vấn đề cần tìm hiểu.
2. Đặt vấn đề vào bài bằng cách đặt ra câu hỏi. Câu hỏi này GV để ngõ và lưu ý với HS cuối giờ sẽ cùng nhau để tìm ra câu trả lời. Ví dụ khi dạy bài 12 tiết 19 "Nhật Bản giữa TK XIX đầu TK XX" (Lịch sử 8), GV có thế vận dụng cách này như sau: "Các em hãy theo dõi bài học để cuối giờ giải đáp câu hỏi: Vì sao vào cuối TK XIX - đầu TK XX, trong khi hầu hết các nước châu Á trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước TB phương Tây thì Nhật Bản vẫn giữ được độc lập và còn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, trở thành một Đế quốc hùng mạnh?"
Với cách đặt câu hỏi này. HS sẽ cố gắng để tìm ra câu trả lời trong suốt quá trình tìm hiểu bài mới. Và chính GV cũng có thể áp dụng cách này để kiểm tra bài ngay tại lớp và lấy điểm cho HS nào trả lời được câu hỏi đó ở cuối giờ học.
3. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nhắc lại kiến thức cũ của tiết học hôm trước để dẫn dắt vào nội dung sẽ tìm hiểu trong tiết học hôm nay.
Ví dụ như khi dạy bài 18 tiết 20 "Trưng Vương và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán" (Lịch sử 6) ta có thể vận dụng cách này như sau: "Ở tiết 17, chúng ta đã tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã lật đổ ách đô hộ của nhà Hán. Sau khi giành được thắng lợi, Hai Bà Trưng đã tiến hành những công việc để xây dựng lại chính quyền. Và hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu những việc làm này sẽ có tầm quan trọng như thế nào trong buổi đầu đấu tranh để giành độc lập."
Học sinh sẽ nhớ ngay đến bài đã được học để tạo thành một sợi dây liên hệ với bài hôm nay.
4. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nêu qui luật tất yếu đã được kiểm chứng qua lịch sử.
Ví dụ như khi dạy bài 1 tiết 1 "Những cuộc CM tư sản đầu tiên" (Lịch sử 8), GV có thể vận dụng cách này như sau: "Lịch sử đã chứng minh, một chế độ xã hội hay một triều đại phong kiến đều diễn ra theo qui luật có sự mở đầu, có cao trào và thoái trào. Sự thoái trào của hình thức này sẽ bắt đầu cho một hình thức khác tiến bộ hơn. Ở đây, chúng ta thấy trong lòng chế độ phong kiến ở châu Aâu suy yếu đã nảy sinh một nền sản xuất mới. Chính những biến đổi mới mẻ này vào cuối thời kì trung đại đã làm bùng nổ các cuộc CM tư sản. CM tư sản đã mở đầu cho một hình thái kinh tế mới tiến bộ hơn chế độ phong kiến đó là chế độ TBCN. Vậy đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển không ngừng của lịch sử. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu quá trình này trong tiết học hôm nay".
Như vậy, học sinh sẽ biết được qui luật tất yếu của lịch sử phát triển từ thấp lên cao và lịch sử thế giới đến thời kì cận đại với một hình thái kinh tế xã hội cao hơn chế độ phong kiến là chế độ tư bản chủ nghĩa.
5. Đặt vấn đề vào bài bằng cách nêu lên nguyên nhân và từ nguyên nhân này tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả chắc chắn xảy ra.
Ví dụ như khi dạy bài 21 tiết 32 "Chiến tranh thế giới thứ hai" (Lịch sử 8) gv có thể vận dụng cách này như sau: "Chính từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm cho các nước TB phương Tây chia rẽ thành hai khối đối địch nhau gay gắt, từ nguyên nhân này đã dẫn đến hậu quả vô cùng thảm khốc của nhân loại trong TK XX, đó là cả nhân loại phải hứng chịu gánh nặng khủng khiếp từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Có thể nói chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra bắt nguồn từ chính sự tham vọng và ích kỉ của những nước TB phương Tây. Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn nội dung này trong tiết học hôm nay".
Trong quá trình học bài mới, HS sẽ nhận rõ về cuộc CTTG2 bắt nguồn từ đâu và từ nguyên nhân đó đã dẫn đến hậu quả như thế nào.
6. Đặt vấn đề vào bài bằng cách đưa ra câu nói của một nhân vật lịch sử.
Ví dụ khi dạy Bài 24 tiết 37 Phần II "Cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1858 đến năm 1873" (Lịch sử 8) ta có thể vận dụng cách này như sau: "Nguyễn Trung Trực trước khi bị giặc Pháp hành hình, ông đã khảng khái nói "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây". Câu nói này là một minh chứng cho tinh thần kiên cường bất khuất của nhân dân ta khi chống ngoại xâm. Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta cũng vậy. Điều này thể hiện rất rõ qua câu nói trên của Nguyễn Trung Trực. Đó cũng chính là tinh thần đấu tranh đến cùng của nhân dân ta chống Pháp và cũng là nội dung của tiết học hôm nay".
Như vậy, khi vận dụng cách này, từ một câu nói HS sẽ cảm nhận đầy đủ tinh thần yêu nước của các thế hệ đi trước và từ đó nâng cao lòng tự hào và tấm lòng biết ơn những vị anh hùng dân tộc đã xả thân vì nghĩa lớn.
7. Cách đặt vấn đề vào bài bằng c
 








Các ý kiến mới nhất