cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Đỗ Phủ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Kiếm Thiên Vương
Ngày gửi: 20h:51' 02-04-2009
Dung lượng: 207.5 KB
Số lượt tải: 43
Nguồn:
Người gửi: Kiếm Thiên Vương
Ngày gửi: 20h:51' 02-04-2009
Dung lượng: 207.5 KB
Số lượt tải: 43
Số lượt thích:
0 người
iểu sử tác giả Đỗ Phủ (712-770) tự là Tử Mỹ, cũng còn được gọi là "Đỗ Thập di", "Đỗ Công bộ", "Đỗ Thiếu Lăng". Ông sinh ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, thi tiến sĩ không đỗ. Lận đận mãi được giữ một số chức quan nhỏ nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Ông sống cuộc đời nghèo khổ. Trong loạn An Sử ông cùng gia đình lưu lạc khốn khổ khắp nơi và trút hơi thở cuối cùng trong một con thuyền rách nát trên dòng sông Tương. Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, danh nhân văn hóa thế giới. Thơ ông phản ánh sâu sắc hiện thực, tràn đầy tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước; phong cách thơ trầm uất, bi tráng. Do nhân cách cao thượng, nghệ thuật trác việt nên Đỗ Phủ được gọi là Thi Thánh.
Đăng cao Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai, Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi. Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Bất tận trường giang cổn cổn lai. Vạn lý bi thu thường tác khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài. Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi. Dịch Thơ: Lên cao Gió gấp trời cao vượn nỉ non, Bến trong cát trắng, lượn chim cồn. Rào rào lá trút rừng cây thẳm, Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn. Thu quạnh nghìn khơi lòng khách năo, Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn. Gian nan khổ hận đầu thêm bạc, Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn. Bản dịch của Nam Trân
Đăng lâu Hoa cận cao lâu thương khách tâm Vạn phương đa nạn thử đăng lâm Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa Ngọc Lũy phù vân biến cổ câm (kim) Bắc cực triều đình chung bất cãi Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm Khả liên Hậu Chủ hoàn từ miếu Nhật mộ liêu vi Lương phụ ngâm Dịch Nghĩa: Lên lầu Bài này Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm 764, lúc vừa về Thành Đô, nói đến việc Quách Tử Nghi đánh bại giặc Thổ Phồn, thu phục lại Trường An. Những đóa hoa nở trên lầu cao, làm cho lòng khách đau thương. Trong lúc muôn phương nhiều nạn, ta lên lầu này. Sắc xuân đến với trời đất sông Cẩm giang. Trên núi Ngọc Lũy, đám mây nổi biến đổi đời xưa, đời nay. Sau cơn biến loạn, triều đình miền bắc vẫn không thay đổi. Vậy thì bọn giặc cướp ở Tây Sơn kia chớ nên vào xâm lấn. Thương thay Hậu Chúa (1)mà còn có đến miếu. Buổi chiều tà, ta hãy làm bài Lương phụ ngâm. (2) ----------------------- (1) Hậu Chủ: tức Hậu chúa Lưu Thiện, con của Lưu Bị. Ngoài cửa Cẩm Quan tại Thành Đô, có miếu thờ Thục Tiên chúa (Lưu Bị), phía tây có miếu thờ Vũ hầu Gia Cát Lượng, phía đông có miếu thời Hậu chúa. Nhân việc cảm khái Lưu Thiện tín nhiệm Hoàng Hạo làm mất nước, ám chỉ vua Đường Túc Tông tin dùng Lý Phụ Quốc. (2) Lương phụ ngâm: Theo sách Thục chí, Gia Cát Lượng khi cày ruộng có làm ra bài Lương phụ ngâm. Dịch Thơ: Lên lầu Hoa sát thềm cao dạ khách đau Muôn phương lâm nạn bước lên lầu Kìa sông xuân trải liền trời đất Nọ núi mây vờn rối trước sau Nước cũ uy linh khôn đỗi xóa Giặc càn lẫn nấp chớ tham cầu Đáng thương Hậu Chủ thăm đền miếu Lương phụ chiều ngâm luống gợi sầu Bản dịch của Trần Huy Bích
Đăng Nhạc Dương lâu Tích văn Động Đình thủy Kim thướng Nhạc Dương lâu Ngô Sở đông nam sách Càn khôn nhất dạ phù Thân bằng vô nhất tự Lão bệnh hữu cô chu Nhung mã quan san bắc Bằng hiên thế tứ lưu Dịch Nghĩa: Lên lầu Nhạc Dương Xưa nghe nói nước hồ Động Đình Nay được lên lầu Nhạc Dương Đất Ngô, đất Sở (2) chia tách ở hai phía đông nam Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)! Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh Quan san phía bắc đang nhộn binh đao (3) Tựa hiên, ròng ròng nước mắt , nước mũi! Chú thích: (1) Lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương (2) Nay là địa phận các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, Giang Tây, Hồ Bắc và Hồ Nam (3) Chỉ việc Thổ Phồn vào xâm lược
Đăng cao Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai, Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi. Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ, Bất tận trường giang cổn cổn lai. Vạn lý bi thu thường tác khách, Bách niên đa bệnh độc đăng đài. Gian nan khổ hận phồn sương mấn, Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi. Dịch Thơ: Lên cao Gió gấp trời cao vượn nỉ non, Bến trong cát trắng, lượn chim cồn. Rào rào lá trút rừng cây thẳm, Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn. Thu quạnh nghìn khơi lòng khách năo, Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn. Gian nan khổ hận đầu thêm bạc, Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn. Bản dịch của Nam Trân
Đăng lâu Hoa cận cao lâu thương khách tâm Vạn phương đa nạn thử đăng lâm Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa Ngọc Lũy phù vân biến cổ câm (kim) Bắc cực triều đình chung bất cãi Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm Khả liên Hậu Chủ hoàn từ miếu Nhật mộ liêu vi Lương phụ ngâm Dịch Nghĩa: Lên lầu Bài này Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm 764, lúc vừa về Thành Đô, nói đến việc Quách Tử Nghi đánh bại giặc Thổ Phồn, thu phục lại Trường An. Những đóa hoa nở trên lầu cao, làm cho lòng khách đau thương. Trong lúc muôn phương nhiều nạn, ta lên lầu này. Sắc xuân đến với trời đất sông Cẩm giang. Trên núi Ngọc Lũy, đám mây nổi biến đổi đời xưa, đời nay. Sau cơn biến loạn, triều đình miền bắc vẫn không thay đổi. Vậy thì bọn giặc cướp ở Tây Sơn kia chớ nên vào xâm lấn. Thương thay Hậu Chúa (1)mà còn có đến miếu. Buổi chiều tà, ta hãy làm bài Lương phụ ngâm. (2) ----------------------- (1) Hậu Chủ: tức Hậu chúa Lưu Thiện, con của Lưu Bị. Ngoài cửa Cẩm Quan tại Thành Đô, có miếu thờ Thục Tiên chúa (Lưu Bị), phía tây có miếu thờ Vũ hầu Gia Cát Lượng, phía đông có miếu thời Hậu chúa. Nhân việc cảm khái Lưu Thiện tín nhiệm Hoàng Hạo làm mất nước, ám chỉ vua Đường Túc Tông tin dùng Lý Phụ Quốc. (2) Lương phụ ngâm: Theo sách Thục chí, Gia Cát Lượng khi cày ruộng có làm ra bài Lương phụ ngâm. Dịch Thơ: Lên lầu Hoa sát thềm cao dạ khách đau Muôn phương lâm nạn bước lên lầu Kìa sông xuân trải liền trời đất Nọ núi mây vờn rối trước sau Nước cũ uy linh khôn đỗi xóa Giặc càn lẫn nấp chớ tham cầu Đáng thương Hậu Chủ thăm đền miếu Lương phụ chiều ngâm luống gợi sầu Bản dịch của Trần Huy Bích
Đăng Nhạc Dương lâu Tích văn Động Đình thủy Kim thướng Nhạc Dương lâu Ngô Sở đông nam sách Càn khôn nhất dạ phù Thân bằng vô nhất tự Lão bệnh hữu cô chu Nhung mã quan san bắc Bằng hiên thế tứ lưu Dịch Nghĩa: Lên lầu Nhạc Dương Xưa nghe nói nước hồ Động Đình Nay được lên lầu Nhạc Dương Đất Ngô, đất Sở (2) chia tách ở hai phía đông nam Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)! Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh Quan san phía bắc đang nhộn binh đao (3) Tựa hiên, ròng ròng nước mắt , nước mũi! Chú thích: (1) Lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương (2) Nay là địa phận các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, Giang Tây, Hồ Bắc và Hồ Nam (3) Chỉ việc Thổ Phồn vào xâm lược
 








Các ý kiến mới nhất