CUỘC ĐÀM PHÁN PARI VỀ VIỆT NAM (1968-1973)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:19' 28-02-2024
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:19' 28-02-2024
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
ThS. CÙ THỊ THÚY LAN
Biên tập nội dung:
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
NGUYỄN THỊ THÀNH GIANG
TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
ĐƯỜNG HỒNG MAI
Trình bày bìa:
BÙI THỊ TÁM
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/2-301/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4998-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020.
Mã số ISBN: 978-604-57-5655-3.
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Thành Lê
Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam (1968-1973)/
Nguyễn Thành Lê. - H. : Chính trị Quốc gia, 2018. - 318tr. ;
24cm
1. Lịch sử 2. 1968-1973 3. Hiệp định Pari 4. Hòa bình
5. Việt Nam
959.7043 - dc23
CTF0318p-CIP
2
Héi ®ång biªn tËp - xuÊt b¶n
NguyÔn duy hïng
NguyÔn v¨n träng
NguyÔn vò thanh h¶o
D¬ng nhËt huy
NguyÔn thÞ h¬ng
Vâ thÞ tó oanh
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cách đây 50 năm, sau những thắng lợi vang dội của
quân dân ta và những thất bại liên tiếp của Mỹ - ngụy, cuộc
đàm phán để bàn về giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh
Việt Nam giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hợp chúng
quốc Hoa Kỳ đã được tổ chức tại Pari (Pháp).
Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam kéo dài gần năm năm
thực sự là cuộc đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch
tính trên mặt trận ngoại giao của chúng ta và cuối cùng đã đi
đến thắng lợi, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung
của dân tộc.
Xoay quanh cuộc đàm phán lịch sử này có biết bao nhiêu
sự kiện, bao nhiêu diễn biến phức tạp... mà đến nay chưa có
cuốn sách nào đề cập một cách có hệ thống, đầy đủ.
Nhằm đáp ứng mong mỏi của bạn đọc quan tâm đến quá
trình diễn biến của cuộc đàm phán, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Cuộc đàm phán Pari về
Việt Nam (1968-1973) của đồng chí Nguyễn Thành Lê, người
đã có vinh dự là nhân chứng lịch sử, thành viên kiêm phát
ngôn báo chí của Đoàn đàm phán đại diện Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tại Hội nghị Pari. Trong lần xuất bản này, chúng
5
tôi có bổ sung thêm hai bài của tác giả cuốn sách viết về cuộc
đàm phán Pari, đăng trên báo Nhân dân để bạn đọc có thêm
tài liệu tham khảo.
Có thể nội dung cuốn sách chưa phản ánh được đầy đủ
mọi khía cạnh, diễn biến phức tạp của cuộc đàm phán, nhưng
chúng tôi hy vọng nó sẽ cung cấp thêm một số thông tin và tư
liệu bổ ích để bạn đọc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 01 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoạt động
ngoại giao của ta phong phú, đa dạng. Nhà nước ta đã cử
đại biểu dự nhiều hội nghị quốc tế như Hội nghị Đà Lạt,
Hội nghị Phôngtennơblô, Hội nghị Giơnevơ (1954) về Đông
Dương, Hội nghị Giơnevơ (1961-1962) về Lào, Cuộc đàm
phán Pari về Việt Nam (1968-1973), v.v..
Hình như chưa một hội nghị nào kể trên được thuật
lại từ đầu chí cuối và in thành sách. Những người quan
tâm đến hoạt động đối ngoại cho đó là một thiệt thòi lớn.
Nhiều bạn đọc gặp anh chị em đã tham gia đàm
phán Pari, thúc giục viết sách. Đã có những đáp ứng bước
đầu. Tuy nhiên viết chi tiết, đầy đủ về cuộc đàm phán, đòi
hỏi nhiều điều kiện, nhiều công phu, nhiều thời giờ.
Cuốn sách nhỏ này chỉ mới là một phác thảo, chắc
chắn còn nhiều khuyết điểm, nhược điểm. Rất mong được
sự góp ý kiến của bạn đọc.
Chúng tôi chân thành cảm tạ nhiều đồng chí đã tận
tình giúp đỡ chúng tôi về nhiều mặt trong việc viết cuốn
sách nhỏ này.
NGƯỜI VIẾT
7
8
Phần thứ nhất
CUỘC ĐẤU TRANH TẠI BÀN ĐÀM PHÁN
ĐÒI MỸ CHẤM DỨT NÉM BOM
VÀ CÁC HÀNH ĐỘNG CHỐNG
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
(Từ ngày 10-5-1968 đến 31-10-1968)
9
10
Chương I
BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ
DẪN ĐẾN CUỘC ĐÀM PHÁN Ở PARI
Ngay từ cuối những năm 1940, Mỹ đã can thiệp
vào Việt Nam và cả Đông Dương bằng cách chi viện
ngày càng nhiều cho thực dân Pháp trong cuộc chiến
tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954). Mỹ đã
lập ra phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ đông tới mấy
trăm người để giúp thực dân Pháp. Vào những năm
1952-1953, Mỹ đài thọ tới 80% chi phí chiến tranh của
Pháp ở Đông Dương.
Sáu đời Tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã dính líu ngày
càng sâu vào Việt Nam (kể từ H. Tơruman đến G. Pho).
Mỹ đã phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954
về Đông Dương, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
Mỹ đã lần lượt tiến hành nhiều chiến lược như chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “Chiến tranh cục bộ”...
chống Việt Nam.
Cùng với các phương tiện chiến tranh hiện đại và
những khoản tiền khổng lồ đổ vào miền Nam Việt Nam,
11
từ đầu những năm 1960, Mỹ đã không ngừng đưa quân
Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Năm 1961, số nhân viên
quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam là 700 người, năm 1962 lên
tới 3.400 người, đến cuối năm 1964 lên đến 23.000 người.
Tháng 7-1965, số nhân viên này là 75.000 người, cuối
năm 1965: 184.000 người, năm 1966: 383.500 người,
giữa năm 1967: 420.000 người, tháng 6-1968 lên tới
525.000 người. Tiếp theo sự kiện Vịnh Bắc Bộ do Mỹ
dàn dựng (tháng 8-1964), Mỹ đã leo thang chiến tranh
bằng cách tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc
Việt Nam, chủ yếu bằng không quân và hải quân.
Tiến hành chiến tranh phá hoại, ném bom miền
Bắc Việt Nam, chính quyền Mỹ nuôi ảo tưởng có thể
khuất phục được nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh
của bom đạn và bạo tàn. Theo báo cáo của Oétmolen,
chính quyền Mỹ hy vọng có thể rút quân vào cuối
năm 1965. Nhưng càng đánh, Mỹ càng sa lầy, nội bộ Mỹ
càng mâu thuẫn.
Báo cáo của Taylo, Đại sứ Mỹ bên cạnh chính
quyền ngụy Sài Gòn gửi Tổng thống Giônxơn đầu
năm 1965 viết: “Hiện nay chúng ta đã bị cuốn vào một
quá trình thất bại và chúng ta phải mạo hiểm tiến
hành một sự thay đổi. Bây giờ mà không tiến hành
những hoạt động tích cực thì phải chấp nhận sự thất
bại trong một tương lai tương đối gần”1.
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Nxb. Buchet Chastel, Pari, 1972, tr. 157.
12
Tháng 7-1965, Mắc Namara (McNamara) đã đề ra
ba phương án sau khi đi khảo sát ở miền Nam Việt Nam:
1. Rút khỏi Việt Nam.
2. Duy trì cơ bản hiện trạng.
3. Tăng cường can thiệp, tăng quân, tránh thất
bại, cố đi tới một giải pháp thuận lợi về lâu về dài.
Trong hồi ký của mình, Giônxơn đã thổ lộ rằng
nhiều lúc cảm thấy ngán ngẩm về cuộc chiến tranh này.
Chiến tranh xâm lược Việt Nam càng kéo dài, càng leo
thang thì tổn thất của Mỹ về người và của càng lớn,
phong trào chống chiến tranh ở Mỹ phát triển ngày
càng sâu rộng, nội bộ chính quyền Mỹ ngày càng mâu
thuẫn, lục đục. Tháng 7-1965, G. Bôn - Thứ trưởng
Ngoại giao Mỹ - nói với Giônxơn: “Tôi nhìn thấy một
cuộc du hành nguy hiểm, tôi rất lo trong điều kiện như
vậy làm sao có thể thắng được đối phương”1.
Clípphót lúc đó là Chủ tịch Ủy ban tư vấn thông
tin về nước ngoài, về sau làm Bộ trưởng Quốc phòng,
nói: “Tôi không tin rằng chúng ta có thể thắng được ở
miền Nam Việt Nam”2.
Thượng nghị sĩ Menphin bày tỏ sự hoài nghi và
chống đối. Nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ nhận
định cuộc chiến tranh của Mỹ tiến hành ở Việt Nam là
cuộc chiến tranh nguy hiểm, tốn kém và mất lòng dân.
Mặc dù sự chống đối trong nhân dân Mỹ và chính giới
___________
1, 2. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 184, 186.
13
Mỹ ngày càng tăng, Giônxơn và tập đoàn hiếu chiến ở
Mỹ vẫn lao sâu vào cuộc chiến. Tháng 10-1966, tại Manila
(Philíppin), Giônxơn đã đưa ra cái gọi là “Học thuyết
Giônxơn”, gồm bốn điểm:
- Chống lại “kẻ xâm lược” (ý nói chống lại Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
- Chống đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật.
- Hợp tác kinh tế.
- Tìm kiếm hòa bình.
Giônxơn tóm tắt bốn điểm đó trong công thức
“tay phải tiến công, tay trái đưa ra đề nghị hòa bình”.
Giônxơn luôn luôn nói đến tìm kiếm hòa bình nhằm
che giấu cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam,
xoa dịu dư luận Mỹ không ngớt đòi chính quyền Mỹ
phải lập lại hòa bình ở Việt Nam. Một mục đích khác
của Giônxơn là mở ra một lối thoát cho cuộc chiến tranh
mà Mỹ nhận thấy không có hy vọng thắng. Trong hồi
ký, Giônxơn kể lại rằng chính quyền Mỹ đã thông qua
nhiều nước, nhiều nhân vật để tìm kiếm hòa bình với
Việt Nam nhưng không mang lại kết quả. Theo Giônxơn,
năm 1965 đã có 17 cuộc vận động hòa bình, năm 1966
có 21 cuộc, năm 1967 có 21 cuộc và đầu năm 1968 có
3 cuộc. Giônxơn cũng thường hay nói Mỹ sẵn sàng ngồi
vào bất cứ bàn đàm phán nào, thảo luận mọi vấn đề về
chiến tranh Việt Nam.
14
Trước tình hình Mỹ ngày càng leo thang, dấn sâu
vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhân dân ta đã kiên
cường chống lại đế quốc Mỹ xâm lược, không quản hy
sinh gian khổ. Đi đôi với đấu tranh quyết liệt và thắng
lợi to lớn, liên tiếp trên mặt trận quân sự, Đảng và Nhà
nước ta ngày càng chú trọng nâng cao vị trí và vai trò
của đấu tranh ngoại giao. Ngày 22-3-1965, Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra lập
trường năm điểm. Ngày 08-4-1965, Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa công bố lập trường bốn điểm. Hội nghị
Trung ương lần thứ 12 (khóa III) họp tháng 12-1965 đã
đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại
giao. Hội nghị Trung ương lần thứ 13 họp tháng 01-1967
nhấn mạnh đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan
trọng, tích cực và chủ động trên cơ sở nắm vững những
phương châm: Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta, chủ
động tiến công địch; giữ vững tính độc lập, đồng thời phối
hợp chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở giữ
vững các quyền dân tộc cơ bản, cần vận dụng sách lược
ngoại giao khôn khéo. Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 14 họp tháng 01-1968 nêu rõ: Công tác ngoại
giao phải nhằm tiến công địch trong lúc chúng đang lúng
túng về quân sự và chính trị, đồng thời mở đường cho
địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta.
Đêm 30 rạng ngày 31-01-1968, quân và dân ta mở
đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam
Việt Nam. Theo hồi ký của Giônxơn, quân dân ta đã đánh
15
vào 35 trên 44 tỉnh lỵ, 5 trên 6 thành phố lớn, 25% tổng
số huyện lỵ. Thông cáo của ta cho biết trong 45 ngày
đêm tổng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã diệt
và bắt gọn 145.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 2.200
máy bay, phá 2.500 xe quân sự.
Chính Giônxơn cũng phải thừa nhận: “Cố gắng
của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu
đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, “nhân dân
Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ
rằng chúng ta (Mỹ) đã thất bại”1. Dù cố biện bạch nhằm
làm giảm tác động của cuộc tổng tiến công, nhưng Giônxơn
vẫn phải thừa nhận tổng tiến công Tết Mậu Thân là
“một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”2.
Hămphơrây, Phó Tổng thống Mỹ, thú nhận: “Tổng
tiến công Tết đã giáng cho chúng ta một đòn đích đáng”3.
Trong khi ở miền Nam quân và dân ta giành được
những thắng lợi vang dội thì ở miền Bắc, chúng ta đã
bắn rơi 2.479 máy bay địch (tính đến ngày 31-10-1967).
Mắc Namara và nhiều tướng Mỹ đã thú nhận: Ném
bom miền Bắc không ngăn cản được đối phương thâm
nhập miền Nam.
Chính trong tình hình đó, ngày 31-3-1968, Giônxơn
đã đọc diễn văn nêu ra ba điểm:
1. Không tiến công miền Bắc Việt Nam bằng máy
bay và tàu chiến, trừ khu vực phía Bắc khu phi quân sự;
___________
1, 2, 3. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 64,
504 và 125.
16
2. Hy vọng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có bước
nhân nhượng để có thể chấm dứt hoàn toàn việc ném
bom miền Bắc Việt Nam;
3. Hy vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần
“tìm kiếm một nền hòa bình trong danh dự” dù phải trả
giá như thế nào, dù phải cố gắng như thế nào, dù phải hy
sinh như thế nào để đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ đó1.
Cũng trong diễn văn ngày 31-3-1968, Giônxơn
tuyên bố sẽ không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới.
Tuyên bố của Giônxơn thực chất là sự công khai
thừa nhận đế quốc Mỹ và trực tiếp là chính quyền
Giônxơn đã thất bại nặng nề trong chiến tranh xâm
lược Việt Nam.
Ngày 03-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra tuyên bố nêu rõ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ để xác định
việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc
Mỹ ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam đã chủ động
đưa ra đề nghị về địa điểm họp là Phnôm Pênh.
Trước sách lược ngoại giao linh hoạt, sắc bén và
kịp thời của ta, đối phương rất lúng túng, bị động đồng
thời cũng tỏ ra rất ngoan cố. Vì thế, phải mất 30 ngày
hai bên mới thỏa thuận được về địa điểm họp ở Pari,
theo sáng kiến của ta.
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 125.
17
Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm
chính thức giữa ta và Mỹ hết sức phức tạp. Sự đối đầu
giữa hai hệ thống xã hội trên thế giới, giữa hai cực
Liên Xô và Mỹ rất sâu sắc và toàn diện. Nét nổi bật
nhất của sự đối đầu thể hiện ở cuộc chạy đua vũ trang,
phát triển vũ khí hạt nhân. Những cuộc xung đột khu
vực cũng là thể hiện sự đối đầu giữa hai hệ thống chính
trị xã hội trên thế giới, giữa phong trào đấu tranh giành
và giữ độc lập dân tộc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa
thực dân do Mỹ đứng đầu. Nhân dân yêu chuộng hòa
bình trên thế giới, nhiều giới chính trị, kinh tế, xã hội ở
các nước đế quốc lo ngại trước nguy cơ của cuộc chiến
tranh thế giới mới; lo ngại nguy cơ chiến tranh hạt
nhân; lo ngại chiến tranh khu vực phát triển thành
chiến tranh thế giới. Do đó, dư luận rộng rãi trên thế
giới một mặt ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân
dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, mặt khác
mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng để
giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp
hòa bình.
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng
như hệ thống xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu
thuẫn, bất đồng. Quan hệ Xô - Trung ngày càng xấu,
dẫn đến cuộc xung đột quân sự đầu năm 1969 ở Uxuri.
Hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất đã dành cho ta sự
giúp đỡ rất to lớn nhưng lại theo đuổi những chiến lược
và sách lược khác nhau. Liên Xô mong muốn chúng ta
18
sớm ngồi vào bàn hội nghị để sớm giải quyết vấn đề
Việt Nam bằng thương lượng hòa bình. Có lúc Liên Xô
muốn cùng Anh triệu tập tại Hội nghị Giơnevơ về
Việt Nam.
Cho tới cuối năm 1968, Ban lãnh đạo Trung Quốc
không tán thành ta thương lượng với Mỹ, không tán
thành ta tiếp xúc với Mỹ để đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn
ném bom miền Bắc. Lập luận của lãnh đạo Trung Quốc
là đòi chấm dứt ném bom miền Bắc rồi ngồi vào thương
lượng là tách hai vấn đề Nam Bắc Việt Nam một cách
nguy hiểm; rằng ngồi vào đàm phán bốn bên là trao
quyền chủ lực cho Mỹ...
Đứng trước tình hình phức tạp kể trên, Đảng và
Nhà nước ta phải phát huy tinh thần độc lập và tự chủ,
phối hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh chính trị,
quân sự, ngoại giao; đồng thời tranh thủ đến mức cao
nhất sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã
hội chủ nghĩa khác, cũng như sự ủng hộ tinh thần và
vật chất của nhân dân thế giới. Chúng ta quyết tâm
giành những thắng lợi to lớn ở chiến trường, đồng thời
giương cao ngọn cờ hòa bình và thiện chí, phân hóa và
cô lập đối phương.
19
Chương II
CUỘC ĐÀM PHÁN CHÍNH THỨC GIỮA
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ MỸ
(Từ ngày 10-5-1968 đến 31-10-1968)
Từ đầu tháng 4-1968, Đảng và Nhà nước ta đã cử
đồng chí Xuân Thủy, Bí thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng, Bộ trưởng, làm đại diện của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa trong cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ.
Tham gia đàm phán cùng với đồng chí Xuân Thủy
còn có một số cố vấn. Đến đầu tháng 5-1968, Đảng ta
cử đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, làm cố
vấn đặc biệt cho đồng chí Xuân Thủy (thực tế đồng chí
Lê Đức Thọ là người lãnh đạo cao nhất của đoàn đàm
phán ta). Theo sự phân công, đồng chí Lê Đức Thọ
chuyên trách công tác nghiên cứu và đặc trách những
cuộc gặp bí mật với đối phương; đồng chí Xuân Thủy phụ
trách những cuộc họp công khai với đối phương, công
tác tuyên truyền báo chí, vận động dư luận thế giới.
Ngày 09-5-1968, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đến Pari (đồng chí Lê Đức Thọ đến Pari ngày 03-6-1968).
20
Đoàn Mỹ do Hariman, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
là trưởng đoàn. Hariman là người đã từng dự những
cuộc đàm phán giữa Liên Xô, Mỹ, Anh ở Têhêran và
Yanta. Phó Trưởng đoàn Mỹ là Venxơ - Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng Mỹ.
Trong hai ngày 10 và 11-5-1968, chuyên viên của
hai đoàn đã gặp nhau bàn và thỏa thuận về thủ tục của
cuộc nói chuyện chính thức giữa Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mỹ. Ngày 13-5-1968, đã tiến hành phiên
họp chính thức giữa hai bên.
Cuộc đàm phán chính thức giữa hai bên để xác
định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện
ném bom miền Bắc Việt Nam đã trải qua 28 phiên
họp chính thức, 21 cuộc gặp riêng, bí mật. Cuộc đấu
tranh ngoại giao này đã diễn ra dưới ba hình thức chủ
yếu là:
+ Đấu tranh trong các phiên họp công khai,
chính thức;
+ Đấu tranh và thương lượng trong các cuộc gặp
riêng, bí mật;
+ Đấu tranh bằng dư luận thông qua các cuộc
họp báo, trả lời phỏng vấn các phương tiện thông tin
đại chúng, các cuộc gặp với nhiều đoàn thể và tổ
chức chính trị, xã hội, văn hóa của Pháp, Mỹ và nhiều
nước khác.
Cuộc nói chuyện chính thức đã diễn ra qua bốn
bước:
21
Bước thứ nhất: từ ngày 13-5-1968 đến 12-6-1968
Trong bước này ta tập trung lên án chiến tranh
xâm lược của Mỹ ở hai miền Việt Nam; lên án Mỹ phá
hoại Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương;
lên án những tội ác chiến tranh tày trời của Mỹ; đòi
Mỹ phải rút quân Mỹ và quân chư hầu về nước; phải
chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện ném bom
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đòi Mỹ phải từ bỏ ngụy
quyền Sài Gòn tay sai của Mỹ; đòi Mỹ đáp ứng lập
trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và lập trường năm điểm của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam.
Phía Mỹ cố tình tìm cách biện hộ cho chính sách
xâm lược của mình, đòi có đi có lại; hứa sẽ chấm dứt
ném bom hoàn toàn miền Bắc với điều kiện ta không
tăng cường chiến sự ở miền Nam Việt Nam, không bắn
phá vào các thành phố lớn ở miền Nam, lập lại khu phi
quân sự, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ cùng rút
quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Bước thứ hai: từ ngày 17-6-1968 đến 07-9-1968
Đặc điểm của bước này là ngoài những phiên họp
công khai chính thức, đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc
riêng giữa cố vấn của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
với phó đoàn và một số phụ tá của đoàn Mỹ để thăm dò
ý đồ của nhau. Qua những cuộc tiếp xúc riêng, bí mật,
chúng ta thấy Mỹ có những yêu cầu sau đây:
22
1. Khôi phục khu phi quân sự.
2. Không tiến công vào các đô thị ở miền Nam.
3. Giữ mức hoạt động quân sự bình thường ở miền
Nam Việt Nam.
4. Thăm dò khả năng hai bên cùng rút quân.
5. Yêu cầu để chính quyền Sài Gòn được tham gia
hội đàm.
Trong bước này vì bị phê phán nhiều, phía Mỹ ít
dùng hay không dùng khái niệm có đi có lại mà thay
bằng công thức tạo ra hoàn cảnh để Mỹ chấm dứt hoàn
toàn ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vào giữa
tháng 7-1968, phía Mỹ thay khái niệm tạo ra hoàn cảnh
để chấm dứt ném bom hoàn toàn bằng khái niệm cho biết
điều gì sẽ xảy ra sau khi chấm dứt ném bom.
Qua những cuộc tiếp xúc với phía Mỹ trong bước
này, ta thấy rõ về cơ bản âm mưu, ý đồ của Mỹ đối với
miền Nam Việt Nam vẫn chưa thay đổi, song tình thế và
thời gian thôi thúc Mỹ phải tính đến chuyện chấm dứt
hoàn toàn ném bom miền Bắc, tiến tới việc giải quyết
cả gói vấn đề Việt Nam trước ngày bầu cử tổng thống
ở Mỹ (ngày 05-11-1968).
Bước thứ ba: từ ngày 08-9-1968 đến 14-10-1968
Đặc biệt của bước này là có ít nhất năm cuộc
gặp riêng cấp cao của hai đoàn. Ngày 08-9-1968, các
đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy gặp Hariman và
Venxơ. Tiếp theo là các cuộc gặp vào các ngày 12, 15, 20
tháng 9 và 14-10-1968. Trong những cuộc gặp riêng ấy,
23
Mỹ vẫn cố sử dụng con bài chấm dứt hoàn toàn ném
bom miền Bắc để thực hiện xuống thang ở miền Nam,
đi vào kế hoạch cả gói. Phía Mỹ nhấn mạnh phương án
“hai bên cùng rút quân”.
Về chính trị, ngày 20-9-1968, Mỹ chính thức đưa
ra yêu cầu đại diện chính quyền Sài Gòn được tham gia
đàm phán sau khi chấm dứt ném bom miền Bắc, coi đó
là “yếu tố quan trọng làm dễ dàng cho việc chấm dứt
ném bom miền Bắc”. Phía Mỹ cho đây là đề nghị mới
của Mỹ. Trong những ngày cuối của bước này, phía
Mỹ tạm ngừng các yêu sách của họ về quân sự như
“cùng xuống thang”, “cùng rút quân” ra khỏi miền Nam
Việt Nam. Ngày 11-10-1968, ta hé ra khả năng đồng ý
cho đại diện chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán.
Phía Mỹ cho đây là một sự đột phá bế tắc.
Bước thứ 4: từ ngày 15 đến 31-10-1968
Trong cuộc tiếp xúc riêng ngày 15-10-1968, ta đã
chính thức thông báo cho Mỹ biết là ta đồng ý cho đại
diện chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán sau khi
Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc; đồng thời
ta đòi chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách,
phải tán thành nói chuyện với Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam, tán thành miền Nam trung lập,
tán thành thành lập Chính phủ liên hiệp.
Trong bước này, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ tập
trung vào một số vấn đề như sau:
24
- Mỹ phải chính thức chấm dứt hoàn toàn và
không điều kiện việc ném bom và các hoạt động chiến
tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Hai bên ra một văn kiện chung về việc Mỹ chấm
dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
- Cuộc đàm phán sau khi Mỹ chấm dứt hoàn toàn
và không điều kiện ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa sẽ là giữa bốn bên hay là giữa hai phía.
Chủ trương của ta là cuộc đàm phán có bốn bên
tham gia: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ, chính quyền
Sài Gòn.
Quan điểm của Mỹ là cuộc đàm phán sẽ là hai
phía: Một phía là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một phía
là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam hoặc ai đó là tùy ta. Ý
đồ của Mỹ là nhằm hạ thấp và phủ nhận địa vị và vai
trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam. Phía Mỹ cố tránh ra một văn kiện chung của hai
đoàn về việc Mỹ chấm dứt ném bom hoàn toàn và
không điều kiện.
Qua những cuộc đàm phán, đến những ngày cuối
tháng 10-1968, chúng ta đã đạt được hai yêu cầu cơ bản là:
1. Buộc Mỹ trên thực tế phải chấp nhận chấm dứt
ném bom hoàn toàn và không điều kiện Việt Nam
25
Dân chủ Cộng hòa. Đêm 30 rạng ngày 31-10-1968,
Hariman và Venxơ đã gặp các đồng chí lãnh đạo đoàn ta
thông báo miệng quyết định của Tổng thống Giônxơn về
việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom và các hành động
chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
kể từ ngày 01-11-1968.
2. Buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán với Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong một hội
nghị bốn đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính
quyền Sài Gòn).
Cũng trong đêm 30 rạng ngày 31-10-1968, Hariman
và Venxơ đề nghị phiên đầu tiên của Hội nghị bốn bên
không họp sớm hơn ngày 06-11-1968. Trước đó, phía Mỹ
đề nghị họp sớm hơn nhưng không thực hiện được vì
Thiệu - Kỳ phá rối. Trong hồi ký, Giônxơn tiết lộ rằng
tập đoàn Thiệu - Kỳ âm mưu cố kéo dài thời gian để chờ
đợi kết quả bầu cử tổng thống ở Mỹ. Họ hy vọng Níchxơn
sẽ trúng cử và sẽ là chỗ dựa của chúng. Giônxơn than
vãn chính quyền Sài Gòn “đã làm cho tôi bị hụt hẫng”1.
Giônxơn còn nhận định rằng nếu đạt được một bước
thật sự trong con đường hòa bình ở Việt Nam, thì ứng
cử viên của Đảng Dân chủ có thể khắc phục được tất
cả các trở lực khác. Tâm trạng của Giônxơn là hối tiếc
việc chậm đạt được thỏa thuận về chấm dứt hoàn toàn
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 629.
26
ném bom miền Bắc và họp Hội nghị bốn bên. Giônxơn
oán thán “một số người nhân danh Níchxơn khuyến
khích chính quyền Sài Gòn không đi Pari. Họ hứa
nếu Níchxơn trúng cử, sẽ thực hiện chính sách gần với
nguyện vọng của chính quyền Sài Gòn”1.
Việc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và không điều
kiện khi ném bom và các hành động chiến tranh khác
chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng với việc Mỹ
phải ngồi vào bàn đàm phán trong Hội nghị bốn bên là
thắng lợi quan trọng của quân và dân cả nước ta, là một
thành tích to lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, là
một kết quả đáng kể của sự phối hợp chặt chẽ đấu
tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.
Việc Giônxơn đơn phương tuyên bố ném bom hạn
chế miền Bắc từ ngày 31-3-1968 và việc Giônxơn phải
tuyên bố chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện ném
bom miền Bắc kể từ ngày 01-11-1968, đánh dấu một
bước ngoặt mở ra quá trình Mỹ phải xuống thang chiến
tranh không gì cưỡng lại được.
Nhân dịp này, ngày 03-11-1968, Hồ Chủ tịch kêu
gọi: “Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi
bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng
nói “hòa bình”, “thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ
bỏ dã tâm xâm lược của chúng...
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 657.
27
Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc
này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng,
quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến
tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta
còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”1.
___________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 2011, t.15, tr. 512.
28
Phần thứ hai
HỘI NGHỊ BỐN BÊN VÀ HIỆP ĐỊNH
PARI VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH
LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM
(Từ ngày 18-01-1969 đến 27-01-1973)
29
Chương I
CHUẨN BỊ HỘI NGHỊ BỐN BÊN VỀ VIỆT NAM
Theo thỏa thuận giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Mỹ, sau khi chấm dứt không điều kiện việc ném bom
và các hành động chiến tranh khác chống Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Hội nghị bốn bên sẽ họp (theo đề
nghị của Mỹ sẽ không họp sớm hơn ngày 06-11-1968).
Ngày 04-11-1968, đồng chí Nguyễn Thị Bình Phó Trưởng đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam đã đến Pari, nhưng đoàn của chính
quyền Sài Gòn vẫn chưa chịu đến. Hội nghị bốn bên
chậm khai mạc do mấy nguyên nhân chính sau đây:
1. Níchxơn trúng cử tổng thống nhưng đến ngày
20-01-1969 mới nhậm chức. Giônxơn tuy còn làm tổng
thống nhưng chỉ giải quyết những việc sự vụ. Chính
quyền Giônxơn muốn Hội nghị họp sớm để vớt vát phần
nào uy tín nhưng gặp nhiều trở ngại.
2. Chính quyền Sài Gòn là tập đoàn hiếu chiến,
rất sợ đàm phán. Họ trù trừ chậm đến Pari để trông chờ
Níchxơn mà họ tin là sẽ tăng cường che chở cho họ.
31
3. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều ngoan cố không
chịu thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng Việt Nam
là một bên đàm phán, cố tình hạ thấp vai trò và vị trí
của Mặt trận.
Vì những nguyên nhân kể trên, đại diện Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và đại diện Mỹ trong suốt hai tháng
rưỡi (từ tháng 11-1968 đến giữa tháng 01-1969), qua 14
cuộc họp mất nhiều thời gian bàn về thủ tục, chủ yếu là
trao đổi về lựa chọn hình dáng kiểu bàn để ngồi đàm
phán, cuối cùng đi đến thỏa thuận về kiểu bàn tròn, hai
đầu có hai bàn thư ký.
Việc chọn kiểu bàn để ngồi đàm phán tuy chỉ là
vấn đề thủ tục nhưng có liên quan đến vấn đề chính trị
trọng yếu là vị trí, vai trò của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam. Thời gian cuối năm 1972
đầu năm 1973, Hội nghị cũng mất nhiều thời gian bàn
về vấn đề cách ký của bốn bên, chủ yếu là cách ký của
Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam và của chính quyền Sài Gòn.
Có thể chia Hội nghị bốn bên làm hai thời kỳ:
1. Thời kỳ thứ nhất, từ đầu năm 1969 đến hết
năm 1971. Trong thời kỳ này đàm phán hầu như giẫm
chân tại chỗ. Hai bên thăm dò nhau và tìm mọi cách
thay đổi so sánh lực lượng ở chiến trường.
2. Thời kỳ thứ hai, từ đầu năm 1972 đến tháng
01-1973. Hội nghị chuyển mạnh từ mùa Thu năm 1972,
32
trải qua nhiều khúc khuỷu và đọ sức tại chiến trường,
cuối cùng đã đi đến ký kết Hiệp định Pari về chấm
dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày
27-01-1973.
Tình hình và một số chủ trương lớn của đối
phương và của ta trong thời kỳ 1969-1971
1. Tình hình và chủ trương của chính quyền
Níchxơn
Trong hồi ký, Níchxơn đã kể khá chi tiết sự bàn
giao giữa hai chính quyền của Tổng thống Giônxơn
cho Níchxơn. Níchxơn viết: “Chủ đề chủ yếu là vấn đề
Việt Nam. Sự vất vả trong cuộc chiến tranh lâu dài
ấy đã để lại nhiều nếp nhăn trên các khuôn mặt ngồi
trước tôi. Họ đã thiết tha mong mỏi chấm dứt chiến
tranh trước khi từ chức nhưng không thành công. Hình
như họ đã cạn kiệt các nguồn lực. Họ không giới thiệu
được phương pháp mới nào với chúng tôi.
Tôi nhận thấy tuy họ chán nản với những thất bại
nhưng họ cũng tự an ủi là đã chuyển được cái vũng lầy
cho người khác”1. Trong một đoạn khác, Níchxơn viết:
“Khi tôi trở thành tổng thống, vấn đề đối ngoại cấp bách
nhất là chiến tranh Việt Nam”2.
___________
1, 2. Hồi ký Níchxơn, tiếng Pháp, Nxb. Stanké, Pari, 1978,
tr. 244-251.
33
Trong hồi ký của mình, Kítxinhgiơ viết: “Dù mục
đích ban đầu của chúng ta trong cuộc chiến tranh là
như thế nào đi nữa, nhưng đến năm 1969 sự tín nhiệm
của chúng ta ở bên ngoài biên giới, lòng tin ở sự cam
kết của chúng ta và sự đoàn kết dân tộc của chúng ta bị
uy hiếp bởi cuộc chiến đấu mà chúng ta tiến hành
chống lại một nước ở tận đầu bên kia của thế giới...
Năm 1969, nước chúng ta bị rung chuyển bởi những
làn sóng phản đối, trong nhiều trường hợp có tính chất
bạo động và nguy hiểm... Không chính phủ nào có thể
hoạt động được nếu không có được sự tín nhiệm tối
thiểu. Thế mà sự tín nhiệm đối với chúng ta ngày càng
mất đi...”1.
Nói về tinh thần chiến đấu và sự dũng cảm của
nhân dân Việt Nam, Kítxinhgiơ viết: “Việt Nam là một
nước xa xôi có núi đồi và những cánh đồng xanh tươi
bên cạnh biển xanh da trời, từ mấy nghìn năm nay đã
có tác động như một kim nam châm đối với những người
nước ngoài đến Việt Nam để tìm vinh quang nhưng chỉ
thấy vỡ mộng...”.
Điều gì đã cổ vũ dân tộc này làm bùng lên những
ngọn lửa anh hùng và sự kiên trì làm cho nhiều người
từ các chân trời khác nhau đến Việt Nam để khám phá
___________
1. Hồi ký Kítxinhgiơ: Những năm tháng ở Nhà Trắng, 1968-1973,
tiếng Pháp, Nxb. Fayard, Pari, 1979, tr. 235.
34
những bí ẩn nhưng đã bị đẩy lùi với sự kiên quyết
mãnh liệt, làm thất bại những cố gắng của những người
nước ngoài...”1.
Mặc dù chính quyền Níchxơn thừa nhận Mỹ đã
thất bại ở Việt Nam, chiến tranh Việt Nam làm mất
lòng dân, thừa nhận chủ nghĩa anh hùng bất khuất và
tinh thần đấu tranh kiên cường của quân dân Việt Nam
nhưng họ vẫn nuôi tham vọng và ảo tưởng khuất phục
Việt Nam.
Níchxơn phê phán cách tiến hành chiến tranh của
Giônxơn và phê phán Giônxơn đã để mất thế chủ động
trong đàm phán. Chính quyền Níchxơn đã đề ra những
chủ trương chính sau đây:
1. Chủ trương “chấm dứt chiến tranh bằng cách này
hay bằng cách khác, hoặc bằng một hiệp định thương
lượng, hoặc bằng dùng vũ lực”2...
Q. GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH
Chịu trách nhiệm nội dung:
PHÓ GIÁM ĐỐC - PHÓ TỔNG BIÊN TẬP
TS. ĐỖ QUANG DŨNG
ThS. CÙ THỊ THÚY LAN
Biên tập nội dung:
ThS. NGUYỄN THỊ HẢI BÌNH
NGUYỄN THỊ THÀNH GIANG
TRẦN PHAN BÍCH LIỄU
ĐƯỜNG HỒNG MAI
Trình bày bìa:
BÙI THỊ TÁM
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
PHÒNG BIÊN TẬP KỸ THUẬT
BÙI BỘI THU
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 1360-2020/CXBIPH/2-301/CTQG.
Số quyết định xuất bản: 4998-QĐ/NXBCTQG, ngày 09/6/2020.
Nộp lưu chiểu: tháng 6 năm 2020.
Mã số ISBN: 978-604-57-5655-3.
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguyễn Thành Lê
Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam (1968-1973)/
Nguyễn Thành Lê. - H. : Chính trị Quốc gia, 2018. - 318tr. ;
24cm
1. Lịch sử 2. 1968-1973 3. Hiệp định Pari 4. Hòa bình
5. Việt Nam
959.7043 - dc23
CTF0318p-CIP
2
Héi ®ång biªn tËp - xuÊt b¶n
NguyÔn duy hïng
NguyÔn v¨n träng
NguyÔn vò thanh h¶o
D¬ng nhËt huy
NguyÔn thÞ h¬ng
Vâ thÞ tó oanh
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cách đây 50 năm, sau những thắng lợi vang dội của
quân dân ta và những thất bại liên tiếp của Mỹ - ngụy, cuộc
đàm phán để bàn về giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh
Việt Nam giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hợp chúng
quốc Hoa Kỳ đã được tổ chức tại Pari (Pháp).
Cuộc đàm phán Pari về Việt Nam kéo dài gần năm năm
thực sự là cuộc đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp, đầy kịch
tính trên mặt trận ngoại giao của chúng ta và cuối cùng đã đi
đến thắng lợi, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung
của dân tộc.
Xoay quanh cuộc đàm phán lịch sử này có biết bao nhiêu
sự kiện, bao nhiêu diễn biến phức tạp... mà đến nay chưa có
cuốn sách nào đề cập một cách có hệ thống, đầy đủ.
Nhằm đáp ứng mong mỏi của bạn đọc quan tâm đến quá
trình diễn biến của cuộc đàm phán, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Cuộc đàm phán Pari về
Việt Nam (1968-1973) của đồng chí Nguyễn Thành Lê, người
đã có vinh dự là nhân chứng lịch sử, thành viên kiêm phát
ngôn báo chí của Đoàn đàm phán đại diện Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tại Hội nghị Pari. Trong lần xuất bản này, chúng
5
tôi có bổ sung thêm hai bài của tác giả cuốn sách viết về cuộc
đàm phán Pari, đăng trên báo Nhân dân để bạn đọc có thêm
tài liệu tham khảo.
Có thể nội dung cuốn sách chưa phản ánh được đầy đủ
mọi khía cạnh, diễn biến phức tạp của cuộc đàm phán, nhưng
chúng tôi hy vọng nó sẽ cung cấp thêm một số thông tin và tư
liệu bổ ích để bạn đọc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 01 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoạt động
ngoại giao của ta phong phú, đa dạng. Nhà nước ta đã cử
đại biểu dự nhiều hội nghị quốc tế như Hội nghị Đà Lạt,
Hội nghị Phôngtennơblô, Hội nghị Giơnevơ (1954) về Đông
Dương, Hội nghị Giơnevơ (1961-1962) về Lào, Cuộc đàm
phán Pari về Việt Nam (1968-1973), v.v..
Hình như chưa một hội nghị nào kể trên được thuật
lại từ đầu chí cuối và in thành sách. Những người quan
tâm đến hoạt động đối ngoại cho đó là một thiệt thòi lớn.
Nhiều bạn đọc gặp anh chị em đã tham gia đàm
phán Pari, thúc giục viết sách. Đã có những đáp ứng bước
đầu. Tuy nhiên viết chi tiết, đầy đủ về cuộc đàm phán, đòi
hỏi nhiều điều kiện, nhiều công phu, nhiều thời giờ.
Cuốn sách nhỏ này chỉ mới là một phác thảo, chắc
chắn còn nhiều khuyết điểm, nhược điểm. Rất mong được
sự góp ý kiến của bạn đọc.
Chúng tôi chân thành cảm tạ nhiều đồng chí đã tận
tình giúp đỡ chúng tôi về nhiều mặt trong việc viết cuốn
sách nhỏ này.
NGƯỜI VIẾT
7
8
Phần thứ nhất
CUỘC ĐẤU TRANH TẠI BÀN ĐÀM PHÁN
ĐÒI MỸ CHẤM DỨT NÉM BOM
VÀ CÁC HÀNH ĐỘNG CHỐNG
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
(Từ ngày 10-5-1968 đến 31-10-1968)
9
10
Chương I
BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ
DẪN ĐẾN CUỘC ĐÀM PHÁN Ở PARI
Ngay từ cuối những năm 1940, Mỹ đã can thiệp
vào Việt Nam và cả Đông Dương bằng cách chi viện
ngày càng nhiều cho thực dân Pháp trong cuộc chiến
tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954). Mỹ đã
lập ra phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ đông tới mấy
trăm người để giúp thực dân Pháp. Vào những năm
1952-1953, Mỹ đài thọ tới 80% chi phí chiến tranh của
Pháp ở Đông Dương.
Sáu đời Tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã dính líu ngày
càng sâu vào Việt Nam (kể từ H. Tơruman đến G. Pho).
Mỹ đã phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954
về Đông Dương, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
Mỹ đã lần lượt tiến hành nhiều chiến lược như chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “Chiến tranh cục bộ”...
chống Việt Nam.
Cùng với các phương tiện chiến tranh hiện đại và
những khoản tiền khổng lồ đổ vào miền Nam Việt Nam,
11
từ đầu những năm 1960, Mỹ đã không ngừng đưa quân
Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Năm 1961, số nhân viên
quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam là 700 người, năm 1962 lên
tới 3.400 người, đến cuối năm 1964 lên đến 23.000 người.
Tháng 7-1965, số nhân viên này là 75.000 người, cuối
năm 1965: 184.000 người, năm 1966: 383.500 người,
giữa năm 1967: 420.000 người, tháng 6-1968 lên tới
525.000 người. Tiếp theo sự kiện Vịnh Bắc Bộ do Mỹ
dàn dựng (tháng 8-1964), Mỹ đã leo thang chiến tranh
bằng cách tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc
Việt Nam, chủ yếu bằng không quân và hải quân.
Tiến hành chiến tranh phá hoại, ném bom miền
Bắc Việt Nam, chính quyền Mỹ nuôi ảo tưởng có thể
khuất phục được nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh
của bom đạn và bạo tàn. Theo báo cáo của Oétmolen,
chính quyền Mỹ hy vọng có thể rút quân vào cuối
năm 1965. Nhưng càng đánh, Mỹ càng sa lầy, nội bộ Mỹ
càng mâu thuẫn.
Báo cáo của Taylo, Đại sứ Mỹ bên cạnh chính
quyền ngụy Sài Gòn gửi Tổng thống Giônxơn đầu
năm 1965 viết: “Hiện nay chúng ta đã bị cuốn vào một
quá trình thất bại và chúng ta phải mạo hiểm tiến
hành một sự thay đổi. Bây giờ mà không tiến hành
những hoạt động tích cực thì phải chấp nhận sự thất
bại trong một tương lai tương đối gần”1.
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Nxb. Buchet Chastel, Pari, 1972, tr. 157.
12
Tháng 7-1965, Mắc Namara (McNamara) đã đề ra
ba phương án sau khi đi khảo sát ở miền Nam Việt Nam:
1. Rút khỏi Việt Nam.
2. Duy trì cơ bản hiện trạng.
3. Tăng cường can thiệp, tăng quân, tránh thất
bại, cố đi tới một giải pháp thuận lợi về lâu về dài.
Trong hồi ký của mình, Giônxơn đã thổ lộ rằng
nhiều lúc cảm thấy ngán ngẩm về cuộc chiến tranh này.
Chiến tranh xâm lược Việt Nam càng kéo dài, càng leo
thang thì tổn thất của Mỹ về người và của càng lớn,
phong trào chống chiến tranh ở Mỹ phát triển ngày
càng sâu rộng, nội bộ chính quyền Mỹ ngày càng mâu
thuẫn, lục đục. Tháng 7-1965, G. Bôn - Thứ trưởng
Ngoại giao Mỹ - nói với Giônxơn: “Tôi nhìn thấy một
cuộc du hành nguy hiểm, tôi rất lo trong điều kiện như
vậy làm sao có thể thắng được đối phương”1.
Clípphót lúc đó là Chủ tịch Ủy ban tư vấn thông
tin về nước ngoài, về sau làm Bộ trưởng Quốc phòng,
nói: “Tôi không tin rằng chúng ta có thể thắng được ở
miền Nam Việt Nam”2.
Thượng nghị sĩ Menphin bày tỏ sự hoài nghi và
chống đối. Nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ nhận
định cuộc chiến tranh của Mỹ tiến hành ở Việt Nam là
cuộc chiến tranh nguy hiểm, tốn kém và mất lòng dân.
Mặc dù sự chống đối trong nhân dân Mỹ và chính giới
___________
1, 2. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 184, 186.
13
Mỹ ngày càng tăng, Giônxơn và tập đoàn hiếu chiến ở
Mỹ vẫn lao sâu vào cuộc chiến. Tháng 10-1966, tại Manila
(Philíppin), Giônxơn đã đưa ra cái gọi là “Học thuyết
Giônxơn”, gồm bốn điểm:
- Chống lại “kẻ xâm lược” (ý nói chống lại Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
- Chống đói nghèo, ngu dốt, bệnh tật.
- Hợp tác kinh tế.
- Tìm kiếm hòa bình.
Giônxơn tóm tắt bốn điểm đó trong công thức
“tay phải tiến công, tay trái đưa ra đề nghị hòa bình”.
Giônxơn luôn luôn nói đến tìm kiếm hòa bình nhằm
che giấu cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam,
xoa dịu dư luận Mỹ không ngớt đòi chính quyền Mỹ
phải lập lại hòa bình ở Việt Nam. Một mục đích khác
của Giônxơn là mở ra một lối thoát cho cuộc chiến tranh
mà Mỹ nhận thấy không có hy vọng thắng. Trong hồi
ký, Giônxơn kể lại rằng chính quyền Mỹ đã thông qua
nhiều nước, nhiều nhân vật để tìm kiếm hòa bình với
Việt Nam nhưng không mang lại kết quả. Theo Giônxơn,
năm 1965 đã có 17 cuộc vận động hòa bình, năm 1966
có 21 cuộc, năm 1967 có 21 cuộc và đầu năm 1968 có
3 cuộc. Giônxơn cũng thường hay nói Mỹ sẵn sàng ngồi
vào bất cứ bàn đàm phán nào, thảo luận mọi vấn đề về
chiến tranh Việt Nam.
14
Trước tình hình Mỹ ngày càng leo thang, dấn sâu
vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhân dân ta đã kiên
cường chống lại đế quốc Mỹ xâm lược, không quản hy
sinh gian khổ. Đi đôi với đấu tranh quyết liệt và thắng
lợi to lớn, liên tiếp trên mặt trận quân sự, Đảng và Nhà
nước ta ngày càng chú trọng nâng cao vị trí và vai trò
của đấu tranh ngoại giao. Ngày 22-3-1965, Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra lập
trường năm điểm. Ngày 08-4-1965, Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa công bố lập trường bốn điểm. Hội nghị
Trung ương lần thứ 12 (khóa III) họp tháng 12-1965 đã
đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại
giao. Hội nghị Trung ương lần thứ 13 họp tháng 01-1967
nhấn mạnh đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan
trọng, tích cực và chủ động trên cơ sở nắm vững những
phương châm: Phát huy thế mạnh, thế thắng của ta, chủ
động tiến công địch; giữ vững tính độc lập, đồng thời phối
hợp chặt chẽ với các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở giữ
vững các quyền dân tộc cơ bản, cần vận dụng sách lược
ngoại giao khôn khéo. Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 14 họp tháng 01-1968 nêu rõ: Công tác ngoại
giao phải nhằm tiến công địch trong lúc chúng đang lúng
túng về quân sự và chính trị, đồng thời mở đường cho
địch đi vào thương lượng theo hướng có lợi nhất cho ta.
Đêm 30 rạng ngày 31-01-1968, quân và dân ta mở
đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam
Việt Nam. Theo hồi ký của Giônxơn, quân dân ta đã đánh
15
vào 35 trên 44 tỉnh lỵ, 5 trên 6 thành phố lớn, 25% tổng
số huyện lỵ. Thông cáo của ta cho biết trong 45 ngày
đêm tổng tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã diệt
và bắt gọn 145.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 2.200
máy bay, phá 2.500 xe quân sự.
Chính Giônxơn cũng phải thừa nhận: “Cố gắng
của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu
đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, “nhân dân
Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ
rằng chúng ta (Mỹ) đã thất bại”1. Dù cố biện bạch nhằm
làm giảm tác động của cuộc tổng tiến công, nhưng Giônxơn
vẫn phải thừa nhận tổng tiến công Tết Mậu Thân là
“một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”2.
Hămphơrây, Phó Tổng thống Mỹ, thú nhận: “Tổng
tiến công Tết đã giáng cho chúng ta một đòn đích đáng”3.
Trong khi ở miền Nam quân và dân ta giành được
những thắng lợi vang dội thì ở miền Bắc, chúng ta đã
bắn rơi 2.479 máy bay địch (tính đến ngày 31-10-1967).
Mắc Namara và nhiều tướng Mỹ đã thú nhận: Ném
bom miền Bắc không ngăn cản được đối phương thâm
nhập miền Nam.
Chính trong tình hình đó, ngày 31-3-1968, Giônxơn
đã đọc diễn văn nêu ra ba điểm:
1. Không tiến công miền Bắc Việt Nam bằng máy
bay và tàu chiến, trừ khu vực phía Bắc khu phi quân sự;
___________
1, 2, 3. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 64,
504 và 125.
16
2. Hy vọng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có bước
nhân nhượng để có thể chấm dứt hoàn toàn việc ném
bom miền Bắc Việt Nam;
3. Hy vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần
“tìm kiếm một nền hòa bình trong danh dự” dù phải trả
giá như thế nào, dù phải cố gắng như thế nào, dù phải hy
sinh như thế nào để đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ đó1.
Cũng trong diễn văn ngày 31-3-1968, Giônxơn
tuyên bố sẽ không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới.
Tuyên bố của Giônxơn thực chất là sự công khai
thừa nhận đế quốc Mỹ và trực tiếp là chính quyền
Giônxơn đã thất bại nặng nề trong chiến tranh xâm
lược Việt Nam.
Ngày 03-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra tuyên bố nêu rõ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ để xác định
việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc
Mỹ ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam đã chủ động
đưa ra đề nghị về địa điểm họp là Phnôm Pênh.
Trước sách lược ngoại giao linh hoạt, sắc bén và
kịp thời của ta, đối phương rất lúng túng, bị động đồng
thời cũng tỏ ra rất ngoan cố. Vì thế, phải mất 30 ngày
hai bên mới thỏa thuận được về địa điểm họp ở Pari,
theo sáng kiến của ta.
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 125.
17
Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm
chính thức giữa ta và Mỹ hết sức phức tạp. Sự đối đầu
giữa hai hệ thống xã hội trên thế giới, giữa hai cực
Liên Xô và Mỹ rất sâu sắc và toàn diện. Nét nổi bật
nhất của sự đối đầu thể hiện ở cuộc chạy đua vũ trang,
phát triển vũ khí hạt nhân. Những cuộc xung đột khu
vực cũng là thể hiện sự đối đầu giữa hai hệ thống chính
trị xã hội trên thế giới, giữa phong trào đấu tranh giành
và giữ độc lập dân tộc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa
thực dân do Mỹ đứng đầu. Nhân dân yêu chuộng hòa
bình trên thế giới, nhiều giới chính trị, kinh tế, xã hội ở
các nước đế quốc lo ngại trước nguy cơ của cuộc chiến
tranh thế giới mới; lo ngại nguy cơ chiến tranh hạt
nhân; lo ngại chiến tranh khu vực phát triển thành
chiến tranh thế giới. Do đó, dư luận rộng rãi trên thế
giới một mặt ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân
dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, mặt khác
mong muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng để
giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp
hòa bình.
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng
như hệ thống xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu
thuẫn, bất đồng. Quan hệ Xô - Trung ngày càng xấu,
dẫn đến cuộc xung đột quân sự đầu năm 1969 ở Uxuri.
Hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất đã dành cho ta sự
giúp đỡ rất to lớn nhưng lại theo đuổi những chiến lược
và sách lược khác nhau. Liên Xô mong muốn chúng ta
18
sớm ngồi vào bàn hội nghị để sớm giải quyết vấn đề
Việt Nam bằng thương lượng hòa bình. Có lúc Liên Xô
muốn cùng Anh triệu tập tại Hội nghị Giơnevơ về
Việt Nam.
Cho tới cuối năm 1968, Ban lãnh đạo Trung Quốc
không tán thành ta thương lượng với Mỹ, không tán
thành ta tiếp xúc với Mỹ để đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn
ném bom miền Bắc. Lập luận của lãnh đạo Trung Quốc
là đòi chấm dứt ném bom miền Bắc rồi ngồi vào thương
lượng là tách hai vấn đề Nam Bắc Việt Nam một cách
nguy hiểm; rằng ngồi vào đàm phán bốn bên là trao
quyền chủ lực cho Mỹ...
Đứng trước tình hình phức tạp kể trên, Đảng và
Nhà nước ta phải phát huy tinh thần độc lập và tự chủ,
phối hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh chính trị,
quân sự, ngoại giao; đồng thời tranh thủ đến mức cao
nhất sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã
hội chủ nghĩa khác, cũng như sự ủng hộ tinh thần và
vật chất của nhân dân thế giới. Chúng ta quyết tâm
giành những thắng lợi to lớn ở chiến trường, đồng thời
giương cao ngọn cờ hòa bình và thiện chí, phân hóa và
cô lập đối phương.
19
Chương II
CUỘC ĐÀM PHÁN CHÍNH THỨC GIỮA
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ MỸ
(Từ ngày 10-5-1968 đến 31-10-1968)
Từ đầu tháng 4-1968, Đảng và Nhà nước ta đã cử
đồng chí Xuân Thủy, Bí thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng, Bộ trưởng, làm đại diện của Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa trong cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ.
Tham gia đàm phán cùng với đồng chí Xuân Thủy
còn có một số cố vấn. Đến đầu tháng 5-1968, Đảng ta
cử đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, làm cố
vấn đặc biệt cho đồng chí Xuân Thủy (thực tế đồng chí
Lê Đức Thọ là người lãnh đạo cao nhất của đoàn đàm
phán ta). Theo sự phân công, đồng chí Lê Đức Thọ
chuyên trách công tác nghiên cứu và đặc trách những
cuộc gặp bí mật với đối phương; đồng chí Xuân Thủy phụ
trách những cuộc họp công khai với đối phương, công
tác tuyên truyền báo chí, vận động dư luận thế giới.
Ngày 09-5-1968, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đến Pari (đồng chí Lê Đức Thọ đến Pari ngày 03-6-1968).
20
Đoàn Mỹ do Hariman, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
là trưởng đoàn. Hariman là người đã từng dự những
cuộc đàm phán giữa Liên Xô, Mỹ, Anh ở Têhêran và
Yanta. Phó Trưởng đoàn Mỹ là Venxơ - Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng Mỹ.
Trong hai ngày 10 và 11-5-1968, chuyên viên của
hai đoàn đã gặp nhau bàn và thỏa thuận về thủ tục của
cuộc nói chuyện chính thức giữa Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mỹ. Ngày 13-5-1968, đã tiến hành phiên
họp chính thức giữa hai bên.
Cuộc đàm phán chính thức giữa hai bên để xác
định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện
ném bom miền Bắc Việt Nam đã trải qua 28 phiên
họp chính thức, 21 cuộc gặp riêng, bí mật. Cuộc đấu
tranh ngoại giao này đã diễn ra dưới ba hình thức chủ
yếu là:
+ Đấu tranh trong các phiên họp công khai,
chính thức;
+ Đấu tranh và thương lượng trong các cuộc gặp
riêng, bí mật;
+ Đấu tranh bằng dư luận thông qua các cuộc
họp báo, trả lời phỏng vấn các phương tiện thông tin
đại chúng, các cuộc gặp với nhiều đoàn thể và tổ
chức chính trị, xã hội, văn hóa của Pháp, Mỹ và nhiều
nước khác.
Cuộc nói chuyện chính thức đã diễn ra qua bốn
bước:
21
Bước thứ nhất: từ ngày 13-5-1968 đến 12-6-1968
Trong bước này ta tập trung lên án chiến tranh
xâm lược của Mỹ ở hai miền Việt Nam; lên án Mỹ phá
hoại Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương;
lên án những tội ác chiến tranh tày trời của Mỹ; đòi
Mỹ phải rút quân Mỹ và quân chư hầu về nước; phải
chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện ném bom
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đòi Mỹ phải từ bỏ ngụy
quyền Sài Gòn tay sai của Mỹ; đòi Mỹ đáp ứng lập
trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và lập trường năm điểm của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam.
Phía Mỹ cố tình tìm cách biện hộ cho chính sách
xâm lược của mình, đòi có đi có lại; hứa sẽ chấm dứt
ném bom hoàn toàn miền Bắc với điều kiện ta không
tăng cường chiến sự ở miền Nam Việt Nam, không bắn
phá vào các thành phố lớn ở miền Nam, lập lại khu phi
quân sự, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ cùng rút
quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Bước thứ hai: từ ngày 17-6-1968 đến 07-9-1968
Đặc điểm của bước này là ngoài những phiên họp
công khai chính thức, đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc
riêng giữa cố vấn của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
với phó đoàn và một số phụ tá của đoàn Mỹ để thăm dò
ý đồ của nhau. Qua những cuộc tiếp xúc riêng, bí mật,
chúng ta thấy Mỹ có những yêu cầu sau đây:
22
1. Khôi phục khu phi quân sự.
2. Không tiến công vào các đô thị ở miền Nam.
3. Giữ mức hoạt động quân sự bình thường ở miền
Nam Việt Nam.
4. Thăm dò khả năng hai bên cùng rút quân.
5. Yêu cầu để chính quyền Sài Gòn được tham gia
hội đàm.
Trong bước này vì bị phê phán nhiều, phía Mỹ ít
dùng hay không dùng khái niệm có đi có lại mà thay
bằng công thức tạo ra hoàn cảnh để Mỹ chấm dứt hoàn
toàn ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vào giữa
tháng 7-1968, phía Mỹ thay khái niệm tạo ra hoàn cảnh
để chấm dứt ném bom hoàn toàn bằng khái niệm cho biết
điều gì sẽ xảy ra sau khi chấm dứt ném bom.
Qua những cuộc tiếp xúc với phía Mỹ trong bước
này, ta thấy rõ về cơ bản âm mưu, ý đồ của Mỹ đối với
miền Nam Việt Nam vẫn chưa thay đổi, song tình thế và
thời gian thôi thúc Mỹ phải tính đến chuyện chấm dứt
hoàn toàn ném bom miền Bắc, tiến tới việc giải quyết
cả gói vấn đề Việt Nam trước ngày bầu cử tổng thống
ở Mỹ (ngày 05-11-1968).
Bước thứ ba: từ ngày 08-9-1968 đến 14-10-1968
Đặc biệt của bước này là có ít nhất năm cuộc
gặp riêng cấp cao của hai đoàn. Ngày 08-9-1968, các
đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy gặp Hariman và
Venxơ. Tiếp theo là các cuộc gặp vào các ngày 12, 15, 20
tháng 9 và 14-10-1968. Trong những cuộc gặp riêng ấy,
23
Mỹ vẫn cố sử dụng con bài chấm dứt hoàn toàn ném
bom miền Bắc để thực hiện xuống thang ở miền Nam,
đi vào kế hoạch cả gói. Phía Mỹ nhấn mạnh phương án
“hai bên cùng rút quân”.
Về chính trị, ngày 20-9-1968, Mỹ chính thức đưa
ra yêu cầu đại diện chính quyền Sài Gòn được tham gia
đàm phán sau khi chấm dứt ném bom miền Bắc, coi đó
là “yếu tố quan trọng làm dễ dàng cho việc chấm dứt
ném bom miền Bắc”. Phía Mỹ cho đây là đề nghị mới
của Mỹ. Trong những ngày cuối của bước này, phía
Mỹ tạm ngừng các yêu sách của họ về quân sự như
“cùng xuống thang”, “cùng rút quân” ra khỏi miền Nam
Việt Nam. Ngày 11-10-1968, ta hé ra khả năng đồng ý
cho đại diện chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán.
Phía Mỹ cho đây là một sự đột phá bế tắc.
Bước thứ 4: từ ngày 15 đến 31-10-1968
Trong cuộc tiếp xúc riêng ngày 15-10-1968, ta đã
chính thức thông báo cho Mỹ biết là ta đồng ý cho đại
diện chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán sau khi
Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc; đồng thời
ta đòi chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách,
phải tán thành nói chuyện với Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam, tán thành miền Nam trung lập,
tán thành thành lập Chính phủ liên hiệp.
Trong bước này, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ tập
trung vào một số vấn đề như sau:
24
- Mỹ phải chính thức chấm dứt hoàn toàn và
không điều kiện việc ném bom và các hoạt động chiến
tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Hai bên ra một văn kiện chung về việc Mỹ chấm
dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.
- Cuộc đàm phán sau khi Mỹ chấm dứt hoàn toàn
và không điều kiện ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa sẽ là giữa bốn bên hay là giữa hai phía.
Chủ trương của ta là cuộc đàm phán có bốn bên
tham gia: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ, chính quyền
Sài Gòn.
Quan điểm của Mỹ là cuộc đàm phán sẽ là hai
phía: Một phía là Mỹ và chính quyền Sài Gòn, một phía
là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam hoặc ai đó là tùy ta. Ý
đồ của Mỹ là nhằm hạ thấp và phủ nhận địa vị và vai
trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam. Phía Mỹ cố tránh ra một văn kiện chung của hai
đoàn về việc Mỹ chấm dứt ném bom hoàn toàn và
không điều kiện.
Qua những cuộc đàm phán, đến những ngày cuối
tháng 10-1968, chúng ta đã đạt được hai yêu cầu cơ bản là:
1. Buộc Mỹ trên thực tế phải chấp nhận chấm dứt
ném bom hoàn toàn và không điều kiện Việt Nam
25
Dân chủ Cộng hòa. Đêm 30 rạng ngày 31-10-1968,
Hariman và Venxơ đã gặp các đồng chí lãnh đạo đoàn ta
thông báo miệng quyết định của Tổng thống Giônxơn về
việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom và các hành động
chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
kể từ ngày 01-11-1968.
2. Buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán với Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong một hội
nghị bốn đoàn (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính
quyền Sài Gòn).
Cũng trong đêm 30 rạng ngày 31-10-1968, Hariman
và Venxơ đề nghị phiên đầu tiên của Hội nghị bốn bên
không họp sớm hơn ngày 06-11-1968. Trước đó, phía Mỹ
đề nghị họp sớm hơn nhưng không thực hiện được vì
Thiệu - Kỳ phá rối. Trong hồi ký, Giônxơn tiết lộ rằng
tập đoàn Thiệu - Kỳ âm mưu cố kéo dài thời gian để chờ
đợi kết quả bầu cử tổng thống ở Mỹ. Họ hy vọng Níchxơn
sẽ trúng cử và sẽ là chỗ dựa của chúng. Giônxơn than
vãn chính quyền Sài Gòn “đã làm cho tôi bị hụt hẫng”1.
Giônxơn còn nhận định rằng nếu đạt được một bước
thật sự trong con đường hòa bình ở Việt Nam, thì ứng
cử viên của Đảng Dân chủ có thể khắc phục được tất
cả các trở lực khác. Tâm trạng của Giônxơn là hối tiếc
việc chậm đạt được thỏa thuận về chấm dứt hoàn toàn
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 629.
26
ném bom miền Bắc và họp Hội nghị bốn bên. Giônxơn
oán thán “một số người nhân danh Níchxơn khuyến
khích chính quyền Sài Gòn không đi Pari. Họ hứa
nếu Níchxơn trúng cử, sẽ thực hiện chính sách gần với
nguyện vọng của chính quyền Sài Gòn”1.
Việc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và không điều
kiện khi ném bom và các hành động chiến tranh khác
chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng với việc Mỹ
phải ngồi vào bàn đàm phán trong Hội nghị bốn bên là
thắng lợi quan trọng của quân và dân cả nước ta, là một
thành tích to lớn trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, là
một kết quả đáng kể của sự phối hợp chặt chẽ đấu
tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.
Việc Giônxơn đơn phương tuyên bố ném bom hạn
chế miền Bắc từ ngày 31-3-1968 và việc Giônxơn phải
tuyên bố chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện ném
bom miền Bắc kể từ ngày 01-11-1968, đánh dấu một
bước ngoặt mở ra quá trình Mỹ phải xuống thang chiến
tranh không gì cưỡng lại được.
Nhân dịp này, ngày 03-11-1968, Hồ Chủ tịch kêu
gọi: “Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song đó chỉ mới là thắng lợi
bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng
nói “hòa bình”, “thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ
bỏ dã tâm xâm lược của chúng...
___________
1. Giônxơn: Hồi ký về cuộc đời làm tổng thống, Sđd, tr. 657.
27
Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc
này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng,
quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến
tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta
còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”1.
___________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 2011, t.15, tr. 512.
28
Phần thứ hai
HỘI NGHỊ BỐN BÊN VÀ HIỆP ĐỊNH
PARI VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH
LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM
(Từ ngày 18-01-1969 đến 27-01-1973)
29
Chương I
CHUẨN BỊ HỘI NGHỊ BỐN BÊN VỀ VIỆT NAM
Theo thỏa thuận giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Mỹ, sau khi chấm dứt không điều kiện việc ném bom
và các hành động chiến tranh khác chống Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Hội nghị bốn bên sẽ họp (theo đề
nghị của Mỹ sẽ không họp sớm hơn ngày 06-11-1968).
Ngày 04-11-1968, đồng chí Nguyễn Thị Bình Phó Trưởng đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam đã đến Pari, nhưng đoàn của chính
quyền Sài Gòn vẫn chưa chịu đến. Hội nghị bốn bên
chậm khai mạc do mấy nguyên nhân chính sau đây:
1. Níchxơn trúng cử tổng thống nhưng đến ngày
20-01-1969 mới nhậm chức. Giônxơn tuy còn làm tổng
thống nhưng chỉ giải quyết những việc sự vụ. Chính
quyền Giônxơn muốn Hội nghị họp sớm để vớt vát phần
nào uy tín nhưng gặp nhiều trở ngại.
2. Chính quyền Sài Gòn là tập đoàn hiếu chiến,
rất sợ đàm phán. Họ trù trừ chậm đến Pari để trông chờ
Níchxơn mà họ tin là sẽ tăng cường che chở cho họ.
31
3. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều ngoan cố không
chịu thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng Việt Nam
là một bên đàm phán, cố tình hạ thấp vai trò và vị trí
của Mặt trận.
Vì những nguyên nhân kể trên, đại diện Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa và đại diện Mỹ trong suốt hai tháng
rưỡi (từ tháng 11-1968 đến giữa tháng 01-1969), qua 14
cuộc họp mất nhiều thời gian bàn về thủ tục, chủ yếu là
trao đổi về lựa chọn hình dáng kiểu bàn để ngồi đàm
phán, cuối cùng đi đến thỏa thuận về kiểu bàn tròn, hai
đầu có hai bàn thư ký.
Việc chọn kiểu bàn để ngồi đàm phán tuy chỉ là
vấn đề thủ tục nhưng có liên quan đến vấn đề chính trị
trọng yếu là vị trí, vai trò của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam. Thời gian cuối năm 1972
đầu năm 1973, Hội nghị cũng mất nhiều thời gian bàn
về vấn đề cách ký của bốn bên, chủ yếu là cách ký của
Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam và của chính quyền Sài Gòn.
Có thể chia Hội nghị bốn bên làm hai thời kỳ:
1. Thời kỳ thứ nhất, từ đầu năm 1969 đến hết
năm 1971. Trong thời kỳ này đàm phán hầu như giẫm
chân tại chỗ. Hai bên thăm dò nhau và tìm mọi cách
thay đổi so sánh lực lượng ở chiến trường.
2. Thời kỳ thứ hai, từ đầu năm 1972 đến tháng
01-1973. Hội nghị chuyển mạnh từ mùa Thu năm 1972,
32
trải qua nhiều khúc khuỷu và đọ sức tại chiến trường,
cuối cùng đã đi đến ký kết Hiệp định Pari về chấm
dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày
27-01-1973.
Tình hình và một số chủ trương lớn của đối
phương và của ta trong thời kỳ 1969-1971
1. Tình hình và chủ trương của chính quyền
Níchxơn
Trong hồi ký, Níchxơn đã kể khá chi tiết sự bàn
giao giữa hai chính quyền của Tổng thống Giônxơn
cho Níchxơn. Níchxơn viết: “Chủ đề chủ yếu là vấn đề
Việt Nam. Sự vất vả trong cuộc chiến tranh lâu dài
ấy đã để lại nhiều nếp nhăn trên các khuôn mặt ngồi
trước tôi. Họ đã thiết tha mong mỏi chấm dứt chiến
tranh trước khi từ chức nhưng không thành công. Hình
như họ đã cạn kiệt các nguồn lực. Họ không giới thiệu
được phương pháp mới nào với chúng tôi.
Tôi nhận thấy tuy họ chán nản với những thất bại
nhưng họ cũng tự an ủi là đã chuyển được cái vũng lầy
cho người khác”1. Trong một đoạn khác, Níchxơn viết:
“Khi tôi trở thành tổng thống, vấn đề đối ngoại cấp bách
nhất là chiến tranh Việt Nam”2.
___________
1, 2. Hồi ký Níchxơn, tiếng Pháp, Nxb. Stanké, Pari, 1978,
tr. 244-251.
33
Trong hồi ký của mình, Kítxinhgiơ viết: “Dù mục
đích ban đầu của chúng ta trong cuộc chiến tranh là
như thế nào đi nữa, nhưng đến năm 1969 sự tín nhiệm
của chúng ta ở bên ngoài biên giới, lòng tin ở sự cam
kết của chúng ta và sự đoàn kết dân tộc của chúng ta bị
uy hiếp bởi cuộc chiến đấu mà chúng ta tiến hành
chống lại một nước ở tận đầu bên kia của thế giới...
Năm 1969, nước chúng ta bị rung chuyển bởi những
làn sóng phản đối, trong nhiều trường hợp có tính chất
bạo động và nguy hiểm... Không chính phủ nào có thể
hoạt động được nếu không có được sự tín nhiệm tối
thiểu. Thế mà sự tín nhiệm đối với chúng ta ngày càng
mất đi...”1.
Nói về tinh thần chiến đấu và sự dũng cảm của
nhân dân Việt Nam, Kítxinhgiơ viết: “Việt Nam là một
nước xa xôi có núi đồi và những cánh đồng xanh tươi
bên cạnh biển xanh da trời, từ mấy nghìn năm nay đã
có tác động như một kim nam châm đối với những người
nước ngoài đến Việt Nam để tìm vinh quang nhưng chỉ
thấy vỡ mộng...”.
Điều gì đã cổ vũ dân tộc này làm bùng lên những
ngọn lửa anh hùng và sự kiên trì làm cho nhiều người
từ các chân trời khác nhau đến Việt Nam để khám phá
___________
1. Hồi ký Kítxinhgiơ: Những năm tháng ở Nhà Trắng, 1968-1973,
tiếng Pháp, Nxb. Fayard, Pari, 1979, tr. 235.
34
những bí ẩn nhưng đã bị đẩy lùi với sự kiên quyết
mãnh liệt, làm thất bại những cố gắng của những người
nước ngoài...”1.
Mặc dù chính quyền Níchxơn thừa nhận Mỹ đã
thất bại ở Việt Nam, chiến tranh Việt Nam làm mất
lòng dân, thừa nhận chủ nghĩa anh hùng bất khuất và
tinh thần đấu tranh kiên cường của quân dân Việt Nam
nhưng họ vẫn nuôi tham vọng và ảo tưởng khuất phục
Việt Nam.
Níchxơn phê phán cách tiến hành chiến tranh của
Giônxơn và phê phán Giônxơn đã để mất thế chủ động
trong đàm phán. Chính quyền Níchxơn đã đề ra những
chủ trương chính sau đây:
1. Chủ trương “chấm dứt chiến tranh bằng cách này
hay bằng cách khác, hoặc bằng một hiệp định thương
lượng, hoặc bằng dùng vũ lực”2...
 








Các ý kiến mới nhất