hay qua
Chuyên đề: Tập làm văn lớp 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: soạn
Người gửi: Lâm Quang Tâm (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:22' 23-12-2008
Dung lượng: 88.0 KB
Số lượt tải: 1994
Nguồn: soạn
Người gửi: Lâm Quang Tâm (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:22' 23-12-2008
Dung lượng: 88.0 KB
Số lượt tải: 1994
Số lượt thích:
0 người
Tên đề tài:
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN - LỚP 5
I.Lý do chọn đề tài:
Tiếng mẹ đẻ có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Với cộng đồng là phương tiện để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh qua nó chỉ thông qua công cụ này”. Do đó trẻ em cần được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học, cẩn thận trong các giờ học Tiếng Việt đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn, để sử dụng công cụ này trong những tháng năm học tập ở nhà trường, cũng như trong suốt cuộc đời.
Do nhận thấy tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong trường tiểu học. Là giáo viên dạy lớp cuối cấp của bậc tiểu học, chúng tôi cần phải giúp đỡ các em ngoài việc nhận ra tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ còn phải nói, viết tiếng mẹ đẻ một cách chính xác, thành thạo qua phân môn Tập làn văn trong Tiếng Việt ở tiểu học. Đó cũng là lý do mà tổ khối 5 chọn đề tài này để nghiên cứu.
II.Quá trình thực hiện đề tài:
Dựa vào mục đích yêu cầu của phân môn Tập làm văn:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn.
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, xúc cảm thẩm mĩ, hình thành nhân cách học sinh.
Dựa trên nội dung dạy học của phân môn Tập làm văn:
2.1-Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn gồm:
a-Cấu trúc chương trình tập làm văn:
+ Kể chuyện (ôn tập).
+ Miêu tả đồ vật, cây cối, con vật ( ôn tâp).
+ Miêu tả cảnh.
+ Miêu tả người
+ Các loại văn bản khác: Báo cáo thống kê, đơn, thuyết trình tranh luận, làm biên bản, lập chương trình hoạt động, chuyển đoạn văn thành kịch.
b-Các kiến thức làm văn:
* Văn miêu tả:
+ Tả cảnh.
+ Tả người.
…
* Các loại văn bản khác:
+ Báo cáo thống kê.
+ Đơn.
+ Thuyết trình tranh luận.
…
c- Các kĩ năng làm văn:
* Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
+ Phân tích đề.
+ Nhận dạng kiểu văn bản.
* Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý một bài văn đã cho sẵn.
+ Tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện.
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn miêu tả.
* Kĩ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp:
+ Xây dựng đoạn văn.
+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn.
* Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.
* Các loại bài học:
+ Dạy bài lý thuyết.
+ Hướng dẫn thực hành.
2.2-Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh:
- Các bài văn gắn liền với chủ điểm của đơn vị học.
- Kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là cơ hội trẻ mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống.
- Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài văn kể chuyện, miêu tả, biên bản …góp phần phát triển khả năng phân tích tổng hợp của HS.
- Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh nhân hoá khi miêu tả cảnh và người.
Dựa trên thực trạng hiện nay của học sinh:
Ở cả lớp 2 và lớp 3 môn TLV nhìn chung khi trả lời câu hỏi, làm các bài, tả, kể, theo chương trình HS điều lúng túng không biết trả lời, viết thế nào là chuẩn là hay. Thông thường các em bắt chước theo bạn, theo thầy cô, bắt chước hệt như người khác. Bản chất môn làm văn không phải là sự bắt chước máy móc, bắt chước mãi, không có cái riêng của mình thì sẽ trở thành người máy. Một lớp học toàn là người máy thì không còn là lớp học. Lớp học như vậy thì việc dạy và học đã đi chệch con đường dạy
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN - LỚP 5
I.Lý do chọn đề tài:
Tiếng mẹ đẻ có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người. Với cộng đồng là phương tiện để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh qua nó chỉ thông qua công cụ này”. Do đó trẻ em cần được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học, cẩn thận trong các giờ học Tiếng Việt đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn, để sử dụng công cụ này trong những tháng năm học tập ở nhà trường, cũng như trong suốt cuộc đời.
Do nhận thấy tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong trường tiểu học. Là giáo viên dạy lớp cuối cấp của bậc tiểu học, chúng tôi cần phải giúp đỡ các em ngoài việc nhận ra tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ còn phải nói, viết tiếng mẹ đẻ một cách chính xác, thành thạo qua phân môn Tập làn văn trong Tiếng Việt ở tiểu học. Đó cũng là lý do mà tổ khối 5 chọn đề tài này để nghiên cứu.
II.Quá trình thực hiện đề tài:
Dựa vào mục đích yêu cầu của phân môn Tập làm văn:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn.
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, xúc cảm thẩm mĩ, hình thành nhân cách học sinh.
Dựa trên nội dung dạy học của phân môn Tập làm văn:
2.1-Trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn gồm:
a-Cấu trúc chương trình tập làm văn:
+ Kể chuyện (ôn tập).
+ Miêu tả đồ vật, cây cối, con vật ( ôn tâp).
+ Miêu tả cảnh.
+ Miêu tả người
+ Các loại văn bản khác: Báo cáo thống kê, đơn, thuyết trình tranh luận, làm biên bản, lập chương trình hoạt động, chuyển đoạn văn thành kịch.
b-Các kiến thức làm văn:
* Văn miêu tả:
+ Tả cảnh.
+ Tả người.
…
* Các loại văn bản khác:
+ Báo cáo thống kê.
+ Đơn.
+ Thuyết trình tranh luận.
…
c- Các kĩ năng làm văn:
* Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
+ Phân tích đề.
+ Nhận dạng kiểu văn bản.
* Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý một bài văn đã cho sẵn.
+ Tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện.
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn miêu tả.
* Kĩ năng hiện thực hoá hoạt động giao tiếp:
+ Xây dựng đoạn văn.
+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn.
* Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.
* Các loại bài học:
+ Dạy bài lý thuyết.
+ Hướng dẫn thực hành.
2.2-Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh:
- Các bài văn gắn liền với chủ điểm của đơn vị học.
- Kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là cơ hội trẻ mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống.
- Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài văn kể chuyện, miêu tả, biên bản …góp phần phát triển khả năng phân tích tổng hợp của HS.
- Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh nhân hoá khi miêu tả cảnh và người.
Dựa trên thực trạng hiện nay của học sinh:
Ở cả lớp 2 và lớp 3 môn TLV nhìn chung khi trả lời câu hỏi, làm các bài, tả, kể, theo chương trình HS điều lúng túng không biết trả lời, viết thế nào là chuẩn là hay. Thông thường các em bắt chước theo bạn, theo thầy cô, bắt chước hệt như người khác. Bản chất môn làm văn không phải là sự bắt chước máy móc, bắt chước mãi, không có cái riêng của mình thì sẽ trở thành người máy. Một lớp học toàn là người máy thì không còn là lớp học. Lớp học như vậy thì việc dạy và học đã đi chệch con đường dạy








Các ý kiến mới nhất