Chủ nghĩ xã hội khoa học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: GV.Khoa Triết ĐHKHXHNV
Người gửi: Chu Mạnh Quyền
Ngày gửi: 21h:22' 04-06-2008
Dung lượng: 663.0 KB
Số lượt tải: 403
Nguồn: GV.Khoa Triết ĐHKHXHNV
Người gửi: Chu Mạnh Quyền
Ngày gửi: 21h:22' 04-06-2008
Dung lượng: 663.0 KB
Số lượt tải: 403
Số lượt thích:
0 người
Phần I
Đề cương bài giảngChương 1
Vị trí, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của
chủ nghĩa xã hội khoa học
A. Mục đích
Giúp người học nắm được đối tượng nghiên cứu của CNXHKH, phân biệt đối tượng của CNXHKH với Triết học Mác - Lênin, Kinh tế học chính trị Mác -Lênin, hiểu được chức năng, nhiệm vụ và ý nghĩa của việc nghiên cứu CNXHKH trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay. Từ đó, người học thấy rõ được mối quan hệ gắn bó giữa CNXHKH với Triết học Mác - Lênin và Kinh tế học chính trị Mác - Lênin.
B. Các thuật ngữ cần lưu ý
- Chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa cộng sản.
- Chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Chủ nghĩa cộng sản khoa học.
- Quy luật chính trị - xã hội.
- Quan hệ chính trị - xã hội.
- Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
C. Nội dung chi tiết
Chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm 3 bộ phận hợp thành là Triết học Mác -Lênin, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin và CNXHKH. Giữa 3 bộ phận này có mối quan hệ gắn bó với nhau, vừa có sự thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối.
1. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội khoa học
+ CNXHKH là học thuyết lý luận do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, được đánh dấu bằng tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, luận giải quy luật của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo nghĩa này, thuật ngữ CNXHKH thống nhất với chủ nghĩa cộng sản khoa học. Song CNXHKH, chủ yếu tập trung luận giải những vấn đề, quy luật của CNXH, với tính cách là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
+ CNXHKH là lý luận về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, nhằm giải phóng xã hội và giải phóng con người. Vì vậy, có thể nói, CNXHKH là lý luận thể hiện trực tiếp nhất hệ tưởng chính trị của giai cấp công nhân.
2. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin
Thứ nhất, CNXHKH là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, giữa Triết học Mác-Lênin, Kinh tế học chính trị Mác-Lênin và CNXHKH có sự thống nhất, thể hiện:
+ Cả ba bộ phận đều dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
+ Cả 3 bộ phận đều bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
+ Cả 3 bộ phận đều mong muốn cải tạo hiện thực khách quan, muốn xoá bỏ những cái cũ, lạc hậu, hướng tới những cái mới, cái tiến bộ.
+ Cả 3 bộ phận đều tạo thành cơ sở lý luận cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại những hệ tư tưởng đối lập.
- Mặc dù có sự thống nhất, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin và CNXHKH đều có tính độc lập tương đối, thể hiện:
+ Mỗi bộ môn khoa học đó có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng.
+ Từ đối tượng nghiên cứu mà mỗi bộ môn khoa học đó có nhiệm vụ khác nhau khi luận giải về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chẳng hạn, Triết học Mác - Lênin luận giải tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa dưới góc độ quy luật chung. Kinh tế học chính trị Mác - Lênin luận giải hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa dưới góc độ quy luật kinh tế, CNXHKH luận giải hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa dưới góc độ quy luật chính trị - xã hội.
+ Từ nhiệm vụ khác nhau của Triết học Mác-Lênin, Kinh tế học chính trị Mác-Lênin, CNXHKH nên chủ nghĩa Mác - Lênin có thể luận giải một cách toàn diện về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nếu thiếu đi một trong ba bộ phận đó, chủ nghĩa Mác không còn là một học thuyết lý luận thống nhất, toàn vẹn, vừa giải thích thế giới, vừa cải tạo thế giới.
Thứ hai, CNXHKH đồng nhất với toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi vì:
- Mục đích thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin là cải tạo thế giới (giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột bất công, tức là xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa). Để thực hiện mục đích này, điều quan trọng nhất là phải tìm ra con đường và biện pháp đúng đắn. Bộ môn CNXHKH, trên cơ sở nghiên cứu quy luật chính trị - xã hội đã chỉ ra con đường đúng đắn để giải phóng xã hội, giải phóng con người là đấu tranh cách mạng của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác mới thực hiện được mục đích thực tiễn của mình. Nói cách khác, CNXHKH có nhiệm vụ hoàn tất chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Giữa Triết học Mác - Lênin, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin và CNXHKH có mối quan hệ gắn bó với nhau, trong đó, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin là cơ sở lý luận và phương pháp luận của CNXHKH. CNXHKH là kết luận hợp lôgíc được rút ra từ Triết học Mác - Lênin và Kinh tế học chính trị Mác - Lênin. Ngược lại , CNXHKH là cơ sở để tiếp tục bổ sung, phát triển những nguyên lý của Triết học Mác - Lênin và Kinh tế học chính trị Mác - Lênin.
Từ những nội dung trên, cho thấy, CNXHKH được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, CNXHKH đồng nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo nghĩa hẹp, CNXHKH là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin.
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học 3.1. Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học
CNXHKH nghiên cứu những qui luật, những vấn đề có tính qui luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân để thực hiện sự chuyển biến từ CNTB lên CNXH và CNCS.
- Những vấn đề, qui luật chính trị - xã hội, đó là những khía cạnh chính trị - xã hội của các quan hệ xã hội, vấn đề xã hội. Một quan hệ xã hội, một vấn đề xã hội như: dân tộc, tôn giáo, gia đình có nhiều góc độ nghiên cứu, nhưng CNXHKH chỉ nghiên cứu góc độ chính trị - xã hội của các vấn đề này. Còn những góc độ khác thuộc phạm vi nghiên cứu của những lĩnh vực khoa học xã hội khác.
- Con đường, biện pháp, những điều kiện thực hiện sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.
+ Qui luật xã hội không thể tự diễn ra mà thông qua hoạt động của con người. Sự chuyển biến từ CNTB lên CNXH là một tất yếu khách quan, nhưng nó không tự xảy ra, mà đòi hỏi giai cấp công nhân phải nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình, tổ chức ra chính đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện việc lật đổ chế độ TBCN, thiết lập nên nhà nước của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế để từng bước biến những ước mơ của nhân dân lao động thành hiện thực trong cuộc sống. Ph.Ăngghen đã viết: "chủ nghĩa cộng sản không phải là một học thuyết mà là một cuộc vận động. Nó xuất phát không phải từ những nguyên tắc, mà là sự thật ... Chủ nghĩa cộng sản nảy sinh từ nền đại công nghiệp và những hậu quả của đại công nghiệp ... Chủ nghĩa cộng sản ở mức độ nó là lý luận, là sự biểu hiện lý luận của lập trường của giai cấp vô sản, trong cuộc đấu tranh nó là sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản" .
- So sánh đối tượng nghiên cứu của CNXHKH với đối tượng nghiên cứu của Triết học Mác - Lênin.
+ Đối tượng nghiên cứu của Triết học là những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Triết học dù theo trường phái nào thì cũng là thế giới quan và nhân sinh quan của con người. Triết học Mác - Lênin là thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp công nhân hiện đại, đại biểu cho lợi ích của người lao động.
+ Triết học nghiên cứu những qui luật chung nhất của sự vận động tự nhiên, xã hội và tư duy con người trong các xã hội có giai cấp. Nghiên cứu CNTB, Triết học Mác - Lênin đi đến khẳng định sự xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa như một quá trình lịch sử tự nhiên.
+ CNXHKH nghiên cứu quy luật chính trị - xã hội của một giai đoạn lịch sử - giai đoạn chuyển từ CNTB sang CNXH và CNCS. CNXHKH là sự biểu hiện hệ tư tưởng chính trị, lập trường giai cấp công nhân trong đấu tranh chống áp bức, bóc lột.
Những vấn đề mà Triết học Mác - Lênin nghiên cứu là những vấn đề chung, còn CNXHKH nghiên cứu một loại vấn đề cụ thể - vấn đề chính trị xã hội. Vì vậy, Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận, phương pháp luận chung cho CNXHKH.
- So sánh đối tượng nghiên cứu của CNXHKH với đối tượng nghiên cứu của Kinh tế học chính trị Mác - Lênin.
+ Kinh tế học chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những qui luật của các quan hệ xã hội hình thành và phát triển trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải, vật chất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng trong chế độ TBCN và quá trình chuyển biến tất yếu từ CNTB lên CNXH và CNCS.
+ Giữa Kinh tế học chính trị Mác - Lênin và CNXHKH cùng nghiên cứu quá trình từ CNTB lên CNXH và CNCS (quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa). Tuy nhiên, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những qui luật, quan hệ kinh tế, CNXHKH nghiên cứu những qui luật, quan hệ chính trị - xã hội của quá trình chuyển biến đó.
+ Giữa Kinh tế học chính trị Mác - Lênin và CNXHKH có mối quan hệ mật thiết. Quan hệ kinh tế quyết định quan hệ chính trị - xã hội, ngược lại quan hệ chính trị sẽ tác động trở lại, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế.
- Hệ thống nội dung cơ bản của CNXHKH:
+ Giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.
+ Đảng Cộng sản và vai trò của Đảng Cộng sản đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
+ Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Thời đại ngày nay.
+ Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
+ Liên minh công nông và các tầng lớp lao động.
+ Vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH.
+ Vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng CNXH.
+ Vấn đề gia đình trong quá trình xây dựng CNXH.
+ Vấn đề phát huy nguồn lực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Trong hệ thống nội dung lý luận CNXHKH, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm.
3.2 Phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học
Phương pháp là cách thức người ta tiến hành một công việc nào đó. Phương pháp nghiên cứu c








Đương nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học không dừng lại ở việc chỉ ra giai cấp công nhân là gì, mà quan trọng hơn là, giai cấp công nhân phải làm thế nào để tự giải phóng mình và sau khi thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, giai cấp vô sản sẽ đi tới thủ tiêu sự tồn tại của bản thân mình với tư cách là một giai cấp.
Những đặc trưng khái quát về giai cấp vô sản lần đầu tiên được C. Mác và Ph.Ăng-ghen chỉ ra tương đối đầy đủ trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản:
Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế, giai cấp vô sản ra đời gắn với nền đại công nghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công nghiệp, nền sản xuất xã hội hóa ngày càng cao.
Thứ hai, về nguồn gốc xã hội, giai cấp vô sản được tuyển mộ từ tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Thứ ba, giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất; về lợi ích cơ bản, đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản; giai cấp vô sản là hiện thân của phương thức sản xuất tiên tiến, có tinh thần quốc tế vô sản, tính tiên phong, tinh thần cách mạng triệt để, đoàn kết giai cấp, tính tổ chức kỷ luật cao.
Thứ tư, giai cấp vô sản có bản sắc dân tộc, do xuất thân từ mỗi dân tộc, trở thành "giai cấp dân tộc" và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
Những đặc trưng cơ bản của giai cấp vô sản mà C. Mác và Ph. Ăng-ghen nêu ra đã được V.I Lê-nin tiếp tục khẳng định, làm rõ và phát triển một cách sáng tạo. Đồng thời, V.I. Lê-nin nhấn mạnh thêm mặt bên trong, đến "tâm lý vô sản" của người công nhân. Đây là cơ sở để phân biệt giữa giai cấp vô sản hiện đại với tầng lớp "vô sản lưu manh" vốn là sản phẩm của sự đổ vỡ và thối nát của xã hội cũ. Dưới chủ nghĩa xã hội, khi đã trở thành giai cấp lãnh đạo thông qua chính đảng của mình, giai cấp công nhân có thêm một số đặc trưng cụ thể là: cùng toàn dân làm chủ các tư liệu sản xuất chính của xã hội; đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo xã hội bằng đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước của giai cấp công nhân.
Phân tích địa vị kinh tế - xã hội khách quan và đặc trưng của giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch rõ sứ mệnh lịch sử của nó. Đó là giai cấp duy nhất có khả năng đoàn kết, tổ chức, lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động làm cách mạng xã hội lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới trên nền tảng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không có người bóc lột người. Ph. Ăng-ghen khẳng định: việc hoàn thành được kỳ công ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại. Còn theo Lê-nin, điều chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ học thuyết đó làm sáng tỏ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản hiện đại là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Những quan điểm kinh điển cơ bản về giai cấp công nhân cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận khoa học để nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại trong điều kiện lịch sử mới. Tuy vậy, chung quanh khái niệm "giai cấp công nhân hiện đại", từ nhiều năm nay đã xuất hiện một số quan niệm khác nhau. Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học xác định: Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân hay là giai cấp vô sản - đó là tổng hòa những người lao động làm thuê bị nhà tư sản bóc lột, là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất (những vật thể và dịch vụ có tính chất vật chất) nhờ đủ loại công cụ lao động và thiết bị kỹ thuật. Đó là giai cấp đối địch với giai cấp tư sản, tiến hành đấu tranh chống tư sản một cách hoàn toàn hợp quy luật. Một số nhà nghiên cứu khác lại đưa ra quan niệm: "giai cấp công nhân bao gồm cả một tầng lớp ngày càng đông đảo những công nhân lao động dịch vụ"...
Sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội loài người, nhất là ở các nước tư bản phát triển làm cho giai cấp công nhân trải qua những biến động cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Những biến đổi về cơ cấu xã hội, cơ cấu nghề nghiệp của giai cấp công nhân diễn ra theo chiều hướng tăng tỷ lệ công nhân trong các ngành dịch vụ và các ngành sản xuất công nghiệp có sử dụng công nghệ cao -"công nhân cổ trắng", giảm tỷ lệ lao động ở các ngành sản xuất công nghiệp truyền thống - "công nhân cổ xanh". Sự phân hóa về mức thu nhập giữa những người làm việc ở các ngành khác nhau cũng có xu hướng gia tăng nhanh chóng...
Trước những biến động ấy, các lý luận gia tư sản cho rằng, giai cấp công nhân hiện nay đang dần dần bị biến mất, "bị hòa tan" vào các giai cấp khác trong xã hội; rằng giai cấp công nhân hiện đại biến thành "giai cấp trung sản". Bên cạnh đó lại có quan điểm nhấn mạnh: trong điều kiện khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự kết tinh của trí tuệ trong một sản phẩm hàng hóa nhiều lên đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn và chuyên môn cao, đã dẫn đến quá trình trí thức hóa công nhân. Quan điểm này muốn phủ nhận sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, việc trí thức hóa công nhân không có nghĩa là biến giai cấp công nhân thành trí thức và do đó không có nghĩa sứ mệnh lịch sử không còn thuộc về giai cấp công nhân.
Thực tế cho thấy, giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là lực lượng sản xuất vật chất chủ yếu, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ giai cấp công nhân hiện đại bao gồm đa số là công nhân kỹ thuật các loại trực tiếp tham gia sản xuất vật chất và những kỹ thuật viên, kỹ sư trực tiếp vận hành quy trình sản xuất. Mặt khác, do đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại, nên cơ cấu giai cấp công nhân thế giới đang được bổ sung ngày càng nhiều những người lao động có trình độ học vấn cao mà một số công trình nghiên cứu gọi họ là "công nhân - trí thức" và "trí thức - công nhân". Bộ phận này vừa sản xuất, vừa phát minh lý thuyết. Ngoài ra, bộ phận công nhân dịch vụ ngày càng tăng trong các lĩnh vực liên quan đến các quy trình sản xuất có tính chất công nghiệp hiện đại. Bên cạnh các bộ phận công nhân như đã nêu, vẫn còn một bộ phận công nhân lao động giản đơn mà chủ yếu là ở các nước đang phát triển. Số liệu thống kê của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) và Ngân hàng thế giới (WB) cho thấy, nếu năm 1900 trên thế giới mới có 80 triệu công nhân, đến năm 1990 có 615 triệu, thì năm 2003 con số đó đã lên đến trên 800 triệu người. Như vậy, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tiếp tục phát triển chứ không hề bị thu hẹp hoặc bị "mất đi" như sự tuyên truyền của các học giả tư sản nhằm phủ nhận cơ sở xã hội giai cấp của các Đảng Cộng sản. Sự phát triển về số lượng và chất lượng lên một trình độ mới của giai cấp công nhân là hoàn toàn phù hợp với xu hướng chủ đạo trong lịch sử phát triển của giai cấp công nhân thế giới. Chất lượng của giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao và được biểu hiện thông qua sự cải thiện rõ rệt về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, mức sống, điều kiện làm việc, v.v..
Cùng với sự biến đổi về cơ cấu và thành phần, trong nội bộ giai cấp công nhân cũng nảy sinh sự phân hóa không chỉ về thu nhập, mức sống, mà còn cả về lập trường quan điểm chính trị do thay đổi về nhu cầu lợi ích, quan niệm, hệ giá trị... Điều này đặt ra những vấn đề không đơn giản cho các Đảng Cộng sản, cho cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản hiện đại đồng thời làm xuất hiện một xu hướng nổi bật- sự đa dạng của các hình thức đấu tranh mới. Tuy cơ cấu giai cấp công nhân biến động mạnh mẽ, nhưng nó không xóa bỏ sự phân chia cơ bản về giai cấp - xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Bán sức lao động vẫn là phương thức tồn tại và đặc điểm chủ yếu của giai cấp công nhân hiện đại; chiếm đoạt giá trị thặng dư vẫn là nguồn thu nhập, nguồn sống cơ bản của giai cấp tư sản. Song, do mức độ xã hội hóa, toàn cầu hóa nền sản xuất ngày càng cao, nên không phải lúc nào người lao động làm thuê cũng nhận ra một cách trực tiếp và đầy đủ sự bóc lột ngày càng tinh vi của giới chủ tư bản.
Trên cơ sở quan điểm tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về giai cấp công nhân và những biểu hiện mới của nó trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, có thể thấy: Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân bao gồm những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu trong các quy trình sản xuất và các hoạt động dịch vụ trực tiếp trong công nghiệp hay có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại. Họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất chủ yếu, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong xã hội tư bản, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, là động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Quan niệm này vừa phản ánh được những tiêu chí đặc trưng của giai cấp công nhân, vừa phản ánh quá trình phát triển, biến động của giai cấp công nhân hiện đại; đồng thời cũng phù hợp với nguyên tắc cơ bản của phương pháp luận duy vật lịch sử.
Sự thâm nhập của khoa học và công nghệ vào quá trình sản xuất, quản lý và phân phối đã làm thay đổi mạnh cơ cấu việc làm. Nếu giai cấp vô sản thế kỷ XIX được hợp thành bởi 3 bộ phận: vô sản công nghiệp, vô sản hầm mỏ và vô sản nông nghiệp, thì dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp công nhân có cả ở 3 khu vực: khu vực I (ngành nông, lâm, ngư); khu vực II (khai thác, chế tạo, xây dựng); khu vực III (ngành kinh tế phục vụ, dịch vụ). Giai cấp công nhân đang biến động mạnh theo hướng giảm trong từng ngành, từng bộ phận ở khu vực I, II, tăng ở khu vực III tại những nước tư bản phát triển nhất. Sự bùng nổ các tiến bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt trên lĩnh vực tin học và điều khiển học đã làm cho việc sử dụng nhân lực trong sản xuất kinh doanh khác trước rất nhiều. Trung tâm của quá trình sản xuất dần dần sẽ không phải là người công nhân thực hiện những mệnh lệnh từ trên xuống, mà là người lao động hoàn toàn độc lập với tính sáng tạo và tính chủ động cao. Nhiều chức năng sản xuất trước đây do lao động sống thực hiện giờ đây đã được chuyển giao cho máy móc và các thiết bị kỹ thuật. Điều này hoàn toàn phù hợp với những dự kiến của C. Mác và Ph. Ăng-ghen khi dự kiến về nền sản xuất tương lai, trong đó "khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp". Một nền sản xuất tự động hóa cao cho phép người lao động tách khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, trở thành những người điều khiển sản xuất.
Với những thay đổi như trên, lao động trí óc tăng và dần thay thế lao động giản đơn, cơ bắp, số lượng công nhân truyền thống giảm dần và thay thế vào đó là công nhân các ngành mới. Trong các ngành mới, sự thể hiện rõ nét đầu tiên là tính đa dạng của các ngành nghề, đặc biệt là ở các quốc gia hàng đầu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Khoa học và công nghệ tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất làm giảm bớt đáng kể chi phí năng lượng, nguyên liệu và sức lao động bằng cách thay thế lao động sống bằng lao động vật hóa, nhiều chức năng trí tuệ của con người được chuyển giao cho phương tiện kỹ thuật. Trên cơ sở đó, xuất hiện một lớp công nhân lao động mới có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu, rộng. Đây là đòi hỏi tất yếu trong quá trình ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại.
Như vậy, trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa, cùng với những điều chỉnh của nhà nước tư sản, thì cơ cấu số lượng của giai cấp công nhân biến động tăng, giảm ở từng ngành, nghề, khu vực khác nhau. Song thực tiễn đã chứng minh vai trò của giai cấp công nhân trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội là rất to lớn và không suy giảm. Sẽ không đúng nếu nghiên cứu giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển mà không tính cả lực lượng rất lớn lao động từ các bộ phận khác như nhân viên hành chính, dịch vụ tri thức... bị vô sản hóa thông qua chế độ tiền công, ngày làm việc, điều kiện và nội dung công việc cũng như quan hệ của họ với giới chủ. Cũng sẽ là sai lầm nếu tách ra khỏi giai cấp công nhân những công nhân bị thất nghiệp, nửa thất nghiệp hoặc có việc làm bấp bênh (làm theo mùa vụ, làm việc không trọn ngày...). Số này vốn là hiện tượng phổ biến trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
Trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa, giai cấp công nhân không chỉ biến động về số lượng theo hướng tăng lên mà chất lượng cũng được nâng cao. Do làm việc trong điều kiện máy móc hiện đại với cường độ trí tuệ và năng lực cao; do phải "chạy đua" với đội quân thất nghiệp ngày càng hùng hậu; do phải bươn chải để khỏi bị chìm xuống đáy xã hội, người công nhân buộc phải nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn. Ngày nay, đối với người lao động nói chung, giai cấp công nhân nói riêng, phẩm chất quan trọng nhất là tính linh hoạt, sáng tạo và cơ động về nghề nghiệp. Tức là năng lực được đào tạo lại nhanh chóng, thậm chí thay đổi nghề khi cần thiết. Những yếu tố bắt buộc phải có là trình độ giáo dục chung vững chắc, sự đào tạo nghề nghiệp rộng rãi và trình độ văn hóa - kỹ thuật cao, kỹ năng đổi mới và bổ sung tri thức nhanh chóng trong mọi lĩnh vực hoạt động. Người công nhân phải có khả năng tư duy kinh tế, làm việc trong tập thể sáng tạo, hiểu biết về marketing, có tính kỷ luật, có đầu óc nhạy bén, có năng lực phân tích và phán đoán độc lập, trách nhiệm cao, và, ngoài ra còn cần có sự hiểu biết về mặt xã hội. Chỉ như vậy, người công nhân mới có chỗ đứng ổn định trong nền sản xuất hiện đại.
Quá trình vận động của giai cấp công nhân, như phân tích ở trên, chứng tỏ giai cấp công nhân vẫn luôn là lực lượng tiên tiến của xã hội, không chỉ trong thời kỳ đại công nghiệp mà cả ở thời đại khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa. Tỷ trọng "công nhân cổ trắng" tăng lên nhanh chóng có nghĩa là giai cấp công nhân trở nên có học thức hơn, có ý thức hơn và điều đó cũng xác nhận xu hướng ra đời "công nhân trí óc" theo quan điểm của Ph. Ăng-ghen và "giai cấp vô sản kỹ thuật" như V.I. Lê-nin đã từng nêu. Giai cấp công nhân rõ ràng đã mở rộng vượt khỏi phạm trù nghề nghiệp của vô sản công nghiệp, cái đặc tả những người vô sản không phải là tính chất nghề nghiệp mà là vị trí xã hội của họ như là lao động ăn lương. Điểm cơ bản của giai cấp công nhân là bán sức lao động có tính sản xuất vật chất hay phi sản xuất vật chất để lấy lương. Đó là một trong những đặc điểm bất biến của giai cấp công nhân. Bởi vậy, xác định giai cấp công nhân không phải dựa vào thu nhập mà dựa vào nguồn gốc thu nhập, dù nó là lương hay tài sản và được gắn với quan hệ sản xuất. Thu nhập cao hơn cho các công nhân không làm thay đổi quan hệ bị bóc lột của họ.
Như vậy, sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự biến động về kết cấu nội bộ giai cấp công nhân chứ không làm thay đổi tính chất làm thuê của công nhân hiện đại, không có nghĩa là "giai cấp công nhân sụp đổ". Khoa học - công nghệ phát triển và được ứng dụng làm cho lực lượng lao động không ngừng đổi mới, lao động trí óc và lao động chân tay xâm nhập vào nhau nhiều hơn. Tỷ lệ giữa người lao động trí óc và người lao động chân tay thay đổi chỉ là biểu hiện của sự thay đổi phương thức lao động trong nội bộ giai cấp công nhân. Trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng cao dẫn đến việc mở rộng "hạt nhân" của giai cấp công nhân là hoàn toàn khách quan, đội ngũ công nhân được mở rộng tới những người sử dụng máy tính, xử lý thông tin, tư vấn kỹ thuật, các ngành dịch vụ sản xuất công nghiệp... Những biến đổi này không hề làm thay đổi bản chất, địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân. Đây là cái cốt lõi quy định sứ mệnh lịch sử thế giới của họ. Tuy nhiên, sự biến đổi trong cơ cấu giai cấp công nhân hiện đại góp phần hình thành những mâu thuẫn mới phức tạp trong xã hội tư bản đương đại, quy định tính chất cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp hơn đối với các Đảng Cộng sản và phong trào cộng sản - công nhân quốc tế hiện nay.
Theo TS Nguyễn Hoàng – Ths Nguyễn Thị Quế Tạp chí Cộng sản số 732 tháng 5/2005