Tuần 7. Chiếu cầu hiền (Cầu hiền chiếu)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê phú
Ngày gửi: 19h:51' 22-10-2022
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 29
Nguồn:
Người gửi: Lê phú
Ngày gửi: 19h:51' 22-10-2022
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 29
Số lượt thích:
0 người
CHIẾU CẦU HIỀN
1.
Tác giả
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) hiệu là Hi Doãn, sinh trưởng trong một dòng họ nổi tiếng về khoa hoạn và trước thuật
là họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Đông), nay thuộc Thanh Trì (Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1775, từng làm quan
dưới thời Lê Cảnh Hưng.
Sau đó nhà Lê sụp đổ, Ngô Thì Nhậm là người có đầu óc và tiên tiến cho nên khi triều đại sụp đổ ông không trung
thành một cách mù quáng mà đi theo nghĩa quân Tây Sơn, được Nguyễn Huệ tin dùng và giao cho soạn thảo công
văn giấy tờ quan trọng.
Sau khi vua Quang Trung lên ngôi Ngô Thì Nhậm đã theo Quan Trung cùng ông góp phần vào xây dựng đất nước.
Ngô Thì Nhậm là người học giỏi, kiến thức sâu rộng, văn võ toàn tài, có mưu lược chính trị, có tài bang giao, đã
phò giúp Nguyễn Huệ trong việc đánh tan 20 vạn quân Thanh và xây dựng triều Nguyễn Quang Trung, ông được
xem như một nhân vật chính trị xuất chúng, một tác giả văn học và triết học tôn giáo lỗi lạc dưới triều Tây Sơn, để
lại một số lượng lớn các tác phẩm gồm nhiều thể loại phong phú.
1.
Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: bài chiếu được viết nhằm để ban bố đến toàn dân thiên hạ về sự thắng lợi của nghĩa quân Tây
Sơn và mong muốn của nhà. vua cầu hiền tài để cùng vua xây dựng đất nước. Ngô Thì Nhậm đã thay vua Quang
Trung viết bài cáo này để ban bố khắp thiên hạ.
Chiếu cầu hiền là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên tri thức
Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước.
3. Bố cục
Bố cục của bài chiếu gồm 3 phần:
o Phần 1: (từ đầu đến "... ý trời sinh ra người hiền vậy") nói lên sứ mệnh, vai trò của người hiền tài đối với
vua và đất nước.
o
Phần 2: (tiếp theo đến "... vì mưu lợi mà phải bán rao.") cách ứng xử của người hiền tài và những hứa hẹn
về chính sách trọng dụng người hiền của nhà nước.
o
Phần 3: còn lại: đường lối cầu hiền của vua Quang Trung.
Nội dung: Chiếu cầu hiền là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động
viên tri thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước.
Chiếu nói chung và bài Chiếu cầu hiền nói riêng thuộc thể loại văn bản nghị luận chính trị - xã hội. Mặc dù chiếu
thuộc thể loại công văn của triều đình, lệnh cho thần dân thực hiện. Tuy nhiên trong bài Chiếu cầu hiền, đối tượng
là bậc hiền tài – những nho sĩ còn mang nặng tư tưởng trung quân. Trong nhan đề còn có từ cầu, có nghĩa là tính
chất mệnh lệnh không được đề cao, thay vào đó là sự kêu gọi. Đó chính là lời động viên lời kêu gọi sĩ phu Bắc Hà
đem tài sức mình ra phụng sự đất nước.
4. Thể loại
Chiếu là một loại văn bản do vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân biết vể một chủ trương lớn, chính sách lớn của nhà
vua và triều đình. Chiếu có ngôn từ trang trọng, trang nghiêm, được viết bằng thể văn xuôi cổ, thường có đối và có vần (văn
biền ngẫu).
5.
a. Cách ứng xử, thái độ của các sĩ phu Bắc Hà khi Tây Sơn diệt nhà Lê- Trịnh và thái độ của Quang Trung trước thái
độ đó.
* Cách ứng xử, thái độ của các nho sĩ Bắc Hà khi Tây Sơn diệt nhà Lê- Trịnh.
- Nghệ thuật: sử dụng nhiều điển tích, điển cố và lối nói ẩn dụ.
+ Ẩn dụ: “kiêng dè... tiếng” (69)
+ Điển cố:
“Phải... khe”: lấy ý trong bài thơ “Khảo bàn” trong Kinh thi chỉ việc đi ở ẩn.
“Trốn tránh việc đời” (68)
“Gõ mõ canh cửa” (69)
“Ra biển vào sông” (69)
“Chết đuối trên cạn”(69)
Lẩn tránh...(69)
→Khái quát tới mức cao độ những kiểu trốn tránh việc đời với những màu vẻ khác nhau của kẻ sĩ Bắc Hà: Có kẻ lánh đời bỏ
đi ở ẩn để giữ trọn lòng tiết tháo; cũng có người ở lại làm quan trong triều nhưng đều giữ mình không dám nói thẳng hoặc
làm việc một cách cầm chừng, không hăng hái.
- Nguyên nhân:
+ Cố chấp: vì chữ “Trung” với triều đại cũ nên bỏ đi ở ẩn
+ Lo sợ: nên im lặng, làm việc cầm chừng
+ Nghi ngờ: nguồn gốc xuất thân của vua Quang Trung.
ÊThái độ của kẻ sĩ Bắc Hà: bất hợp tác với nhà Nguyễn Tây Sơn, quay lưng với thời cuộc, không chịu đem tài năng của mình
ra giúp đời, giúp nước.
* Thái độ của Quang Trung.
- Không trực tiếp nói cách hành xử của các sĩ phu BH khi Tây Sơn ra Bắc mà dùng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc →thái
độ cảm thông của Nguyễn Huệ với tâm trạng của các sĩ phu BH trước một sự thay đổi lớn.
- Bộc lộ niềm mong muốn tha thiết chân thành của mình.
+ “Ghé chiếu” (69): thái độ khiêm tốn, sẵn sàng chờ đợi và trọng dụng hiền tài của vua QT.
+ Ngày đêm mong mỏi: khao khát luôn thường trực.
+ Hai câu hỏi tu từ: vừa thể hiện sự thành tâm, khiêm nhường, vừa hướng tới các sĩ phu Bắc Hà nhận ra những cách ứng xử
không đúng với hiện thực bấy giờ, đồng thời cũng chỉ ra con đường để thay đổi cho họ là đem tài năng, đức độ ra phục vụ
chiều đại mới. Đó cũng là con đường đi duy nhất và hợp lí.
→Niềm mong mỏi của vua QT: muốn các bậc sĩ phu BH hiểu mình và góp sức cùng mình đứng ra xây dựng đất nước. Tấm
lòng vì nước, vì dân của QT.
b. Tính chất của thời đại mới, nhu cầu của đất nước và thái độ của vua Quang Trung.
* Những bất cập của triều đại mới và nhu cầu của đất nước.
- Đất nước mới bắt đầu một triều đại mới, “công việc vừa mới mở ra”, trong “buổi đầu của nền đại thịnh” còn nhiều khó
khăn.
- Những khó khăn cụ thể:
+ Kỉ cương nơi triều chính...
+ Công việc ngoài biên ải...
+ Cuộc sống của nhân dân...
+ Tấm lòng của nhà vua nhiều người chưa hiểu.
→Thẳng thắn thừa nhận những bất cập của triều đại mới, tác giả đã khéo léo nêu nhu cầu của đất nước: cần hiền tài hơn bao
giờ hết.
* Thái độ của vua Quang Trung.
- Câu văn: “một... trị bình” sử dụng nghệ thuật so sánh dùng hình ảnh: một cái cột không thể đỡ nỗi một căn nhà lớn, mưu
lược của một người không thể dựng nghiệp, trị bình để khẳng định nếu không được người hiền giúp sức thì một mình nhà vua
cũng không thể xây dựng nghiệp lớn.
- Hai câu tiếp: sử dụng câu khẳng định và câu hỏi tu từ:
+ Thể hiện niềm tin tưởng và tự hào về lượng người tài của đất nước.
+ Tâm trạng sốt ruột của QT khi người hiền chưa ra giúp nước.
→Qua lời lẽ khiêm nhường, tha thiết nhưng cũng rất thẳng thắng, kiên quyết, người xuống chiếu đã thể hiện rõ thái độ cầu
hiền, chân thành mong muốn người hiền ra giúp nước khiến sĩ phu Bắc Hà không thể không thay đổi cách ứng xử.
1.
Tác giả
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) hiệu là Hi Doãn, sinh trưởng trong một dòng họ nổi tiếng về khoa hoạn và trước thuật
là họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (Hà Đông), nay thuộc Thanh Trì (Hà Nội), đỗ tiến sĩ năm 1775, từng làm quan
dưới thời Lê Cảnh Hưng.
Sau đó nhà Lê sụp đổ, Ngô Thì Nhậm là người có đầu óc và tiên tiến cho nên khi triều đại sụp đổ ông không trung
thành một cách mù quáng mà đi theo nghĩa quân Tây Sơn, được Nguyễn Huệ tin dùng và giao cho soạn thảo công
văn giấy tờ quan trọng.
Sau khi vua Quang Trung lên ngôi Ngô Thì Nhậm đã theo Quan Trung cùng ông góp phần vào xây dựng đất nước.
Ngô Thì Nhậm là người học giỏi, kiến thức sâu rộng, văn võ toàn tài, có mưu lược chính trị, có tài bang giao, đã
phò giúp Nguyễn Huệ trong việc đánh tan 20 vạn quân Thanh và xây dựng triều Nguyễn Quang Trung, ông được
xem như một nhân vật chính trị xuất chúng, một tác giả văn học và triết học tôn giáo lỗi lạc dưới triều Tây Sơn, để
lại một số lượng lớn các tác phẩm gồm nhiều thể loại phong phú.
1.
Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: bài chiếu được viết nhằm để ban bố đến toàn dân thiên hạ về sự thắng lợi của nghĩa quân Tây
Sơn và mong muốn của nhà. vua cầu hiền tài để cùng vua xây dựng đất nước. Ngô Thì Nhậm đã thay vua Quang
Trung viết bài cáo này để ban bố khắp thiên hạ.
Chiếu cầu hiền là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên tri thức
Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước.
3. Bố cục
Bố cục của bài chiếu gồm 3 phần:
o Phần 1: (từ đầu đến "... ý trời sinh ra người hiền vậy") nói lên sứ mệnh, vai trò của người hiền tài đối với
vua và đất nước.
o
Phần 2: (tiếp theo đến "... vì mưu lợi mà phải bán rao.") cách ứng xử của người hiền tài và những hứa hẹn
về chính sách trọng dụng người hiền của nhà nước.
o
Phần 3: còn lại: đường lối cầu hiền của vua Quang Trung.
Nội dung: Chiếu cầu hiền là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động
viên tri thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước.
Chiếu nói chung và bài Chiếu cầu hiền nói riêng thuộc thể loại văn bản nghị luận chính trị - xã hội. Mặc dù chiếu
thuộc thể loại công văn của triều đình, lệnh cho thần dân thực hiện. Tuy nhiên trong bài Chiếu cầu hiền, đối tượng
là bậc hiền tài – những nho sĩ còn mang nặng tư tưởng trung quân. Trong nhan đề còn có từ cầu, có nghĩa là tính
chất mệnh lệnh không được đề cao, thay vào đó là sự kêu gọi. Đó chính là lời động viên lời kêu gọi sĩ phu Bắc Hà
đem tài sức mình ra phụng sự đất nước.
4. Thể loại
Chiếu là một loại văn bản do vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân biết vể một chủ trương lớn, chính sách lớn của nhà
vua và triều đình. Chiếu có ngôn từ trang trọng, trang nghiêm, được viết bằng thể văn xuôi cổ, thường có đối và có vần (văn
biền ngẫu).
5.
a. Cách ứng xử, thái độ của các sĩ phu Bắc Hà khi Tây Sơn diệt nhà Lê- Trịnh và thái độ của Quang Trung trước thái
độ đó.
* Cách ứng xử, thái độ của các nho sĩ Bắc Hà khi Tây Sơn diệt nhà Lê- Trịnh.
- Nghệ thuật: sử dụng nhiều điển tích, điển cố và lối nói ẩn dụ.
+ Ẩn dụ: “kiêng dè... tiếng” (69)
+ Điển cố:
“Phải... khe”: lấy ý trong bài thơ “Khảo bàn” trong Kinh thi chỉ việc đi ở ẩn.
“Trốn tránh việc đời” (68)
“Gõ mõ canh cửa” (69)
“Ra biển vào sông” (69)
“Chết đuối trên cạn”(69)
Lẩn tránh...(69)
→Khái quát tới mức cao độ những kiểu trốn tránh việc đời với những màu vẻ khác nhau của kẻ sĩ Bắc Hà: Có kẻ lánh đời bỏ
đi ở ẩn để giữ trọn lòng tiết tháo; cũng có người ở lại làm quan trong triều nhưng đều giữ mình không dám nói thẳng hoặc
làm việc một cách cầm chừng, không hăng hái.
- Nguyên nhân:
+ Cố chấp: vì chữ “Trung” với triều đại cũ nên bỏ đi ở ẩn
+ Lo sợ: nên im lặng, làm việc cầm chừng
+ Nghi ngờ: nguồn gốc xuất thân của vua Quang Trung.
ÊThái độ của kẻ sĩ Bắc Hà: bất hợp tác với nhà Nguyễn Tây Sơn, quay lưng với thời cuộc, không chịu đem tài năng của mình
ra giúp đời, giúp nước.
* Thái độ của Quang Trung.
- Không trực tiếp nói cách hành xử của các sĩ phu BH khi Tây Sơn ra Bắc mà dùng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc →thái
độ cảm thông của Nguyễn Huệ với tâm trạng của các sĩ phu BH trước một sự thay đổi lớn.
- Bộc lộ niềm mong muốn tha thiết chân thành của mình.
+ “Ghé chiếu” (69): thái độ khiêm tốn, sẵn sàng chờ đợi và trọng dụng hiền tài của vua QT.
+ Ngày đêm mong mỏi: khao khát luôn thường trực.
+ Hai câu hỏi tu từ: vừa thể hiện sự thành tâm, khiêm nhường, vừa hướng tới các sĩ phu Bắc Hà nhận ra những cách ứng xử
không đúng với hiện thực bấy giờ, đồng thời cũng chỉ ra con đường để thay đổi cho họ là đem tài năng, đức độ ra phục vụ
chiều đại mới. Đó cũng là con đường đi duy nhất và hợp lí.
→Niềm mong mỏi của vua QT: muốn các bậc sĩ phu BH hiểu mình và góp sức cùng mình đứng ra xây dựng đất nước. Tấm
lòng vì nước, vì dân của QT.
b. Tính chất của thời đại mới, nhu cầu của đất nước và thái độ của vua Quang Trung.
* Những bất cập của triều đại mới và nhu cầu của đất nước.
- Đất nước mới bắt đầu một triều đại mới, “công việc vừa mới mở ra”, trong “buổi đầu của nền đại thịnh” còn nhiều khó
khăn.
- Những khó khăn cụ thể:
+ Kỉ cương nơi triều chính...
+ Công việc ngoài biên ải...
+ Cuộc sống của nhân dân...
+ Tấm lòng của nhà vua nhiều người chưa hiểu.
→Thẳng thắn thừa nhận những bất cập của triều đại mới, tác giả đã khéo léo nêu nhu cầu của đất nước: cần hiền tài hơn bao
giờ hết.
* Thái độ của vua Quang Trung.
- Câu văn: “một... trị bình” sử dụng nghệ thuật so sánh dùng hình ảnh: một cái cột không thể đỡ nỗi một căn nhà lớn, mưu
lược của một người không thể dựng nghiệp, trị bình để khẳng định nếu không được người hiền giúp sức thì một mình nhà vua
cũng không thể xây dựng nghiệp lớn.
- Hai câu tiếp: sử dụng câu khẳng định và câu hỏi tu từ:
+ Thể hiện niềm tin tưởng và tự hào về lượng người tài của đất nước.
+ Tâm trạng sốt ruột của QT khi người hiền chưa ra giúp nước.
→Qua lời lẽ khiêm nhường, tha thiết nhưng cũng rất thẳng thắng, kiên quyết, người xuống chiếu đã thể hiện rõ thái độ cầu
hiền, chân thành mong muốn người hiền ra giúp nước khiến sĩ phu Bắc Hà không thể không thay đổi cách ứng xử.
 









Các ý kiến mới nhất