Chí Phèo (Nam Cao)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:35' 19-05-2008
Dung lượng: 97.0 KB
Số lượt tải: 206
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:35' 19-05-2008
Dung lượng: 97.0 KB
Số lượt tải: 206
Số lượt thích:
0 người
Nam cao
I. Tiểu sử và con người
1- Tiểu sử:
- Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam trong một gia đình nông dân. Quê Nam Cao xưa kia thuộc vùng chiêm trũng nên quanh năm nghèo đói. Nam Cao học hết bậc Thành trung (cấp II) nhưng không tìm được việc làm phải kiếm sống bằng nhiều nghề. Nghề gắn bó cả đời của ông là nghề viết văn.
- Nam Cao bắt đầu cầm bút từ khoảng 1936. Khi mới bước vào làng văn, Nam Cao sáng tác theo khuynh hướng LM.
- Cũng như bao thanh niên hồi đó, NC cũng ấp ủ những ước mơ được hấp thụ qua những sách báo đương thời. Không chấp nhận cuộc sống quanh quẩn tù túng, NC cũng khao khát xê dịch, thích “phiêu lưu giang hồ” say mê đến những miền đất hứa.
- Dấu vết của tâm hồn đầy mơ mộng ấy được thể hiện khi thì qua những trang viết thấm đẫm cảm xúc LM về “một mối tình trong trẻo và cảm động buổi xuân đời”, khi thì qua “một mối tình u ẩn” mà “nồng nàn tha thiết” (Những cánh hoa tàn), khi lại thể hiện qua những mảnh tâm trạng buồn vơ vẩn, thầm yêu trộm nhớ:
Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vương vấn theo ai bốn góc trời
Rồi để một chiều theo gió thổi
Bay lên thành những mảnh mây trôi
- Tất nhiên những sáng tác theo khuynh hướng này của ông không thành công. Chính vì thế ông đã chuyển sang khuynh hướng hiện thực và với khuynh hướng này ông đã gặt hái được rất nhiều thành công bất ngờ.
- Năm 1943 NC tham gia hội văn hoá cứu quốc do ĐCS tổ chức và lãnh đạo, tham gia cướp chính quyền địa phương. Sau CM ông tham gia nhiều công tác khác nhau: công tác ở hội văn hoá cứu quốc, Nam tiến, làm tuyên truyền, tham gia chiến dịch biên giới.
- Tháng 11 năm 1951 NC đã bị địch phục kích và bắt được trên đường vào công tác vùng sau lưng địch thuộc liên khu III và bị chúng bắn chết ở gần Hoàng Đan thuộc tỉnh Ninh Bình.
- Con người:
- Trước CM Nam Cao mang nặng nặng tâm sự u uất của một người trí thức giàu tâm huyết phải chịu cảnh bị xã hội bóp nghẹt sự sống của con người. Ông luôn giữ cho mình một tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, đặc biệt là những người nông dân nghèo khổ. Tất nhiên là một trí thức, NC đôi lúc không tránh khỏi việc ảnh hưởng việc bị ảnh hưởng lối sống của tầng lớp TTS, nhưng ông luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân để vượt qua những cám dỗ của lối sống thoát li hưởng lạc, tầm thường nhỏ nhen.
II.Sự nghiệp sáng tác
- Trước CM: Sáng tác của NC tập trung vào hai mảng đề tài chính:
+ Cuộc sống của người TTS nghèo
+ Cuộc sống của người nông dân
+ Bi kịch bị tha hóa của những người LĐ đặc biệt là nông dân (Nửa đêm; Chí Phèo; Tư cách mõ; Một bữa no…). ở đề tài này nhà văn quan tâm trước hết tới cuộc sống tối tăm thê thảm của những số phận hẩm hiu bị đè nén, áp bức. Nam Cao thường đi sâu vào những trường hợp vì nghèo đói khốn cùng nên người nông dân đã bị lăng nhục một cách tàn nhẫn, bất công. Ông đã kiên quyết đứng về phía những con người thấp cổ bé họng này để đòi quyền sống và nhân phẩm cho họ. Viết về quá trình nông dân bị lưu manh hóa trong những năm dưới ách của thực dân Pháp và phát xít Nhật, Nam Cao đã tố cáo xã hội tàn bạo hủy diệt cả thể xác lẫn linh hồn của người nông dân, đồng thời, nhà văn cũng trân trọng phát hiện những phẩm chất cao đẹp của họ, cho dù họ bị tàn phá cả hình người lẫn tính người. Điều này chứng tỏ chiều sâu hiện thực và ngòi bút nhân đạo của Nam Cao.
+ Bi kịch đời thừa, bi kịch sống mòn của tầng lớp trí thức tiểu tư sản (Sóng mòn; Đời thừa; Truyện người hàng xóm). Còn ở loại đề tài này, Nam Cao thường lấy chính mình làm nguyên mẫu để viết. Chính vì vậy ông đã khắc họa nổi bật tấn bi kịch tinh thần của những giáo khổ trường tư, những viên chức nghèo, những nhà văn nghèo. Họ có hoài bão đẹp, khao khát được phát triển nhân cách, được khẳng định cá nhân mình trước cuộc đời. Thế nhưng họ đã bị xã hội bất công và đời sống đói nghèo ghì sát đất. Những ước mơ đẹp đẽ bị dập tắt phũ phàng. Qua đó nhà văn lên án xã hội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá cuộc đời con người. Mặt khác ông cũng thể hiện niềm khát khao vươn tới cuộc sống cao đẹp, ở đó con người có cơ hội phát triển tâm đức, tài trí của mình để xứng đáng với danh hiệu cao quý là CON NGƯờI. Có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có cây bút nào viết về trí thức vừa chân thực, dũng cảm vừa sâu sắc như Nam Cao.
- Sau CM: NC là cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới. Sau CM NC sáng tác để phục vụ cuộc kháng chiến . Truyện ngắn Đôi mắt (1948), Nhật ký ở rừng(1948),và tập bút ký Chuyện biên giới (1950) là những sáng tác thành công của NC góp phần vào thành công của nền văn học mới sau CM tháng T8.
III. Vị trí của Nam Cao trong dòng văn học HTPP
- Khi NC ra đời – với tư cách một nhà văn - thì trong xu hướng VHHTPP 1930 – 1945 đã có biết bao cây bút nổi danh. Viết về người nông dân ư? Đã có Chị Dậu của Ngô Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng… Viết về người TTS trí thức ư? Thì văn học hợp pháp thời ấy có vô số tác phẩm… Viết về cuộc sống lang thang vất vưởng bên hè phố ư? đã có Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng…
- Phải thừa nhận đúng là về thời gian Nam Cao là người đến muộn. Nhưng có lẽ chính vì đến muộn Nam Cao lại có dịp để phát huy mạnh mẽ bản sắc độc đáo của mình. Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan ra đời ít ai nghĩ rằng thân phận người nông dân dưới ách đế quốc Phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn nỗi khổ của chị Dậu và Anh Pha, hay, Tám Bính. Nhưng đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì là khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân cùng ở một nước thuộc địa bị giày đạp, bị cào xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình.” (Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa… nhưng chị còn được làm người. Chí Phèo phải bán cả linh hồn và diện mạo của mình để trở thành con quỷ giữ của làng Vũ Đại…
- Cho nên bức tranh rộng lớn của VH phản ánh xã hội, đất nước những năm 30 – 45 chắc chắn sẽ không được toàn diện nếu thiếu cây bút sắc sảo của NC. Cùng với những tác phẩm mang giá trị đặc sắc của mình, NC xứng đáng được đánh giá ở vị trí một nhà văn lớn trong dòng VH HTPP 30 – 45 nói riêng trong nền văn xuôi hiện đại VN nói chung.
4. Quan điểm sáng tác
- Nam Cao là một trong những nhà văn HTPP (1930 – 1945) có ý thức nhất về QĐNT của mình. Những QĐ đó rất ít khi được phát biểu trực tiếp dưới dạng lý luận mà thường được bộc lộ qua những sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông.
- Trước CM T8, quan điểm của NC thể hiện ở một số nét lớn sau:
*Quan điểm phủ nhận nghệ thuật LM thoát ly: NC khẳng định NT chân chính phải là NT hiện thực gắn bó với đời sống, phản ánh chân thực đời sống. Người cầm bút không được trốn tránh sự thực, dù cho sự thực ấy chẳng nên thơ chút nào.
(Trong Giăng sáng (1942), NC viết: “Chao ôi! NT không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than…” )
Nêu ra quan điểm này NC muốn phê phán thứ NT chỉ chạy theo cái đẹp bề ngoài. Ông đã vạch trần sự “lừa dối” của thứ NT thi vị hoá cuộc sống, giống như ánh trăng tuy rất đẹp, rất thơ mộng, rất huyền ảo, nhưng “trong những căn lều nát mà trăng làm cho bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?” Vậy là cái đẹp, cái thi vị của ánh trăng đã che dấu sự thực tàn nhẫn là tình trạng khốn khổ của nhân dân. Có thể nói bằng cách so sánh tài tình này, NC đã giúp người đọc nhận rõ tác hại của thứ NT phi hiện thực. Cho nên việc ông yêu cầu: “NT không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối” là yêu cầu sâu sắc và chính đáng
* Quan điểm hiện thực và nhân đạo: Nhân đạo là một trong những tư tưởng lớn chi phối sâu sắc quá trình sáng tạo của Nam Cao. Nhiều người cho rằng: Chủ nghĩa hiện thực của ông được xây dựng trên nền tảng vững chắc của chủ nghĩa nhân đạo.
-Tư tưởng nhân đạo khi viết về đề tài người nông dân:
- Cùng với Ngô Tất Tố, Nam Cao được đánh giá là một trong những nhà văn của những người nông dân bất hạnh, nhà văn của những người khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực dân-phong kiến.
- Thứ nhất: Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn. Với ông, thế giới, cuộc đời, con người, mối quan hệ giữa những con người được nhìn nhận bằng những con mắt của chính họ. Nhà văn trong những đánh giá và nhận xét, đã xuất phát từ lợi ích và yêu cầu của chính những con người cùng khổ nhất, không có quyền bị xã hội áp bức chà đạp xuống tận bùn đen.
- Thứ hai: như GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Nam Cao la
I. Tiểu sử và con người
1- Tiểu sử:
- Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam trong một gia đình nông dân. Quê Nam Cao xưa kia thuộc vùng chiêm trũng nên quanh năm nghèo đói. Nam Cao học hết bậc Thành trung (cấp II) nhưng không tìm được việc làm phải kiếm sống bằng nhiều nghề. Nghề gắn bó cả đời của ông là nghề viết văn.
- Nam Cao bắt đầu cầm bút từ khoảng 1936. Khi mới bước vào làng văn, Nam Cao sáng tác theo khuynh hướng LM.
- Cũng như bao thanh niên hồi đó, NC cũng ấp ủ những ước mơ được hấp thụ qua những sách báo đương thời. Không chấp nhận cuộc sống quanh quẩn tù túng, NC cũng khao khát xê dịch, thích “phiêu lưu giang hồ” say mê đến những miền đất hứa.
- Dấu vết của tâm hồn đầy mơ mộng ấy được thể hiện khi thì qua những trang viết thấm đẫm cảm xúc LM về “một mối tình trong trẻo và cảm động buổi xuân đời”, khi thì qua “một mối tình u ẩn” mà “nồng nàn tha thiết” (Những cánh hoa tàn), khi lại thể hiện qua những mảnh tâm trạng buồn vơ vẩn, thầm yêu trộm nhớ:
Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vương vấn theo ai bốn góc trời
Rồi để một chiều theo gió thổi
Bay lên thành những mảnh mây trôi
- Tất nhiên những sáng tác theo khuynh hướng này của ông không thành công. Chính vì thế ông đã chuyển sang khuynh hướng hiện thực và với khuynh hướng này ông đã gặt hái được rất nhiều thành công bất ngờ.
- Năm 1943 NC tham gia hội văn hoá cứu quốc do ĐCS tổ chức và lãnh đạo, tham gia cướp chính quyền địa phương. Sau CM ông tham gia nhiều công tác khác nhau: công tác ở hội văn hoá cứu quốc, Nam tiến, làm tuyên truyền, tham gia chiến dịch biên giới.
- Tháng 11 năm 1951 NC đã bị địch phục kích và bắt được trên đường vào công tác vùng sau lưng địch thuộc liên khu III và bị chúng bắn chết ở gần Hoàng Đan thuộc tỉnh Ninh Bình.
- Con người:
- Trước CM Nam Cao mang nặng nặng tâm sự u uất của một người trí thức giàu tâm huyết phải chịu cảnh bị xã hội bóp nghẹt sự sống của con người. Ông luôn giữ cho mình một tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương, đặc biệt là những người nông dân nghèo khổ. Tất nhiên là một trí thức, NC đôi lúc không tránh khỏi việc ảnh hưởng việc bị ảnh hưởng lối sống của tầng lớp TTS, nhưng ông luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân để vượt qua những cám dỗ của lối sống thoát li hưởng lạc, tầm thường nhỏ nhen.
II.Sự nghiệp sáng tác
- Trước CM: Sáng tác của NC tập trung vào hai mảng đề tài chính:
+ Cuộc sống của người TTS nghèo
+ Cuộc sống của người nông dân
+ Bi kịch bị tha hóa của những người LĐ đặc biệt là nông dân (Nửa đêm; Chí Phèo; Tư cách mõ; Một bữa no…). ở đề tài này nhà văn quan tâm trước hết tới cuộc sống tối tăm thê thảm của những số phận hẩm hiu bị đè nén, áp bức. Nam Cao thường đi sâu vào những trường hợp vì nghèo đói khốn cùng nên người nông dân đã bị lăng nhục một cách tàn nhẫn, bất công. Ông đã kiên quyết đứng về phía những con người thấp cổ bé họng này để đòi quyền sống và nhân phẩm cho họ. Viết về quá trình nông dân bị lưu manh hóa trong những năm dưới ách của thực dân Pháp và phát xít Nhật, Nam Cao đã tố cáo xã hội tàn bạo hủy diệt cả thể xác lẫn linh hồn của người nông dân, đồng thời, nhà văn cũng trân trọng phát hiện những phẩm chất cao đẹp của họ, cho dù họ bị tàn phá cả hình người lẫn tính người. Điều này chứng tỏ chiều sâu hiện thực và ngòi bút nhân đạo của Nam Cao.
+ Bi kịch đời thừa, bi kịch sống mòn của tầng lớp trí thức tiểu tư sản (Sóng mòn; Đời thừa; Truyện người hàng xóm). Còn ở loại đề tài này, Nam Cao thường lấy chính mình làm nguyên mẫu để viết. Chính vì vậy ông đã khắc họa nổi bật tấn bi kịch tinh thần của những giáo khổ trường tư, những viên chức nghèo, những nhà văn nghèo. Họ có hoài bão đẹp, khao khát được phát triển nhân cách, được khẳng định cá nhân mình trước cuộc đời. Thế nhưng họ đã bị xã hội bất công và đời sống đói nghèo ghì sát đất. Những ước mơ đẹp đẽ bị dập tắt phũ phàng. Qua đó nhà văn lên án xã hội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá cuộc đời con người. Mặt khác ông cũng thể hiện niềm khát khao vươn tới cuộc sống cao đẹp, ở đó con người có cơ hội phát triển tâm đức, tài trí của mình để xứng đáng với danh hiệu cao quý là CON NGƯờI. Có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có cây bút nào viết về trí thức vừa chân thực, dũng cảm vừa sâu sắc như Nam Cao.
- Sau CM: NC là cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới. Sau CM NC sáng tác để phục vụ cuộc kháng chiến . Truyện ngắn Đôi mắt (1948), Nhật ký ở rừng(1948),và tập bút ký Chuyện biên giới (1950) là những sáng tác thành công của NC góp phần vào thành công của nền văn học mới sau CM tháng T8.
III. Vị trí của Nam Cao trong dòng văn học HTPP
- Khi NC ra đời – với tư cách một nhà văn - thì trong xu hướng VHHTPP 1930 – 1945 đã có biết bao cây bút nổi danh. Viết về người nông dân ư? Đã có Chị Dậu của Ngô Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng… Viết về người TTS trí thức ư? Thì văn học hợp pháp thời ấy có vô số tác phẩm… Viết về cuộc sống lang thang vất vưởng bên hè phố ư? đã có Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng…
- Phải thừa nhận đúng là về thời gian Nam Cao là người đến muộn. Nhưng có lẽ chính vì đến muộn Nam Cao lại có dịp để phát huy mạnh mẽ bản sắc độc đáo của mình. Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan ra đời ít ai nghĩ rằng thân phận người nông dân dưới ách đế quốc Phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn nỗi khổ của chị Dậu và Anh Pha, hay, Tám Bính. Nhưng đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì là khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân cùng ở một nước thuộc địa bị giày đạp, bị cào xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình.” (Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa… nhưng chị còn được làm người. Chí Phèo phải bán cả linh hồn và diện mạo của mình để trở thành con quỷ giữ của làng Vũ Đại…
- Cho nên bức tranh rộng lớn của VH phản ánh xã hội, đất nước những năm 30 – 45 chắc chắn sẽ không được toàn diện nếu thiếu cây bút sắc sảo của NC. Cùng với những tác phẩm mang giá trị đặc sắc của mình, NC xứng đáng được đánh giá ở vị trí một nhà văn lớn trong dòng VH HTPP 30 – 45 nói riêng trong nền văn xuôi hiện đại VN nói chung.
4. Quan điểm sáng tác
- Nam Cao là một trong những nhà văn HTPP (1930 – 1945) có ý thức nhất về QĐNT của mình. Những QĐ đó rất ít khi được phát biểu trực tiếp dưới dạng lý luận mà thường được bộc lộ qua những sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông.
- Trước CM T8, quan điểm của NC thể hiện ở một số nét lớn sau:
*Quan điểm phủ nhận nghệ thuật LM thoát ly: NC khẳng định NT chân chính phải là NT hiện thực gắn bó với đời sống, phản ánh chân thực đời sống. Người cầm bút không được trốn tránh sự thực, dù cho sự thực ấy chẳng nên thơ chút nào.
(Trong Giăng sáng (1942), NC viết: “Chao ôi! NT không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than…” )
Nêu ra quan điểm này NC muốn phê phán thứ NT chỉ chạy theo cái đẹp bề ngoài. Ông đã vạch trần sự “lừa dối” của thứ NT thi vị hoá cuộc sống, giống như ánh trăng tuy rất đẹp, rất thơ mộng, rất huyền ảo, nhưng “trong những căn lều nát mà trăng làm cho bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?” Vậy là cái đẹp, cái thi vị của ánh trăng đã che dấu sự thực tàn nhẫn là tình trạng khốn khổ của nhân dân. Có thể nói bằng cách so sánh tài tình này, NC đã giúp người đọc nhận rõ tác hại của thứ NT phi hiện thực. Cho nên việc ông yêu cầu: “NT không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối” là yêu cầu sâu sắc và chính đáng
* Quan điểm hiện thực và nhân đạo: Nhân đạo là một trong những tư tưởng lớn chi phối sâu sắc quá trình sáng tạo của Nam Cao. Nhiều người cho rằng: Chủ nghĩa hiện thực của ông được xây dựng trên nền tảng vững chắc của chủ nghĩa nhân đạo.
-Tư tưởng nhân đạo khi viết về đề tài người nông dân:
- Cùng với Ngô Tất Tố, Nam Cao được đánh giá là một trong những nhà văn của những người nông dân bất hạnh, nhà văn của những người khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực dân-phong kiến.
- Thứ nhất: Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn. Với ông, thế giới, cuộc đời, con người, mối quan hệ giữa những con người được nhìn nhận bằng những con mắt của chính họ. Nhà văn trong những đánh giá và nhận xét, đã xuất phát từ lợi ích và yêu cầu của chính những con người cùng khổ nhất, không có quyền bị xã hội áp bức chà đạp xuống tận bùn đen.
- Thứ hai: như GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Nam Cao la
Nếu có gửi cho em qua nick :sakura_koro1001









Các ý kiến mới nhất