Tuần 30. Truyện Kiều (tiếp theo - Chí khí anh hùng)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn anh
Ngày gửi: 14h:46' 09-03-2016
Dung lượng: 74.5 KB
Số lượt tải: 192
Nguồn:
Người gửi: nguyễn anh
Ngày gửi: 14h:46' 09-03-2016
Dung lượng: 74.5 KB
Số lượt tải: 192
Số lượt thích:
0 người
CHÍ KHÍ ANH HÙNG
(Trích: Truyện Kiều- Nguyễn Du)
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Kiến thức: Qua nhân vật Từ Hải, hiểu được lí tưởng a nh hùng của Nguyễn Du
Nắm được đặc trưng nghệ thuật trong việc tả nhân vật anh hùng của Nguyễn Du.
2. Kỹ năng: Rèn kỹ năng đọc hiểu thơ trữ tình
3. Thái độ: Có ý thức trân trọng ước mơ của Nguyễn Du.
B. THIẾT KẾ BÀI HỌC:
I. CHUẨN BỊ CỦA GV, HS
1. Chuẩn bị của GV: SGK, giáo án cá nhân.
2. Chẩn bị của HS: SGK, vở ghi, vở soạn.
II. TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới:
Truyện Kiều xuất sắc không chỉ vì ngôn ngữ nghệ thuật, mà còn vì ý nghĩa nội dung độc đáo, sâu sắc. Nguyễn Du phản ánh một hiện thực xã hội phong kiến đương thời – cái xã hội hủ nát đã vùi dập chính ông – hay vùi dập số phận nàng Kiều và vô vàn những số phận tài hoa khác. Điều ấy khiến Truyện Kiều thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Và khi đưa Từ Hải vào như một nét sáng tạo trong cốt truyện, Nguyễn Du đã làm sáng cái ý chí và hoài bão lớn lao của những bậc anh hùng thời bấy giờ. Hình ảnh nhân vật Từ Hải được thể hiện rõ nét nhất qua đoạn trích Chí khí anh hùng.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 1
(?): Em hãy tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn?
HS:Làm việc cá nhân, suy nghĩ, trả lời
GV: Nhận xét, chốt
(?):Theo em nên chia đoạn trích này thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần?
Hoạt động 2
GV gọi 1 HS đọc diễn cảm VB, 1 HS khác nhận xét cách đọc.
GV nhận xét cách đọc, hướng HS đến cách đọc đúng cho đoạn trích: giọng đọc chậm rãi, hào hùng thể hiện sự khâm phục, ngợi ca.
GV lưu ý HS phần chú giải từ khó chân trang113.
GV yêu cầu 1 HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu.
(?):Em hãy cho biết Từ Hải ra đi trong hoàn cảnh nào?
HS suy nghĩ, trả lời
GV bình: Kiều bị lừa vào lầu xanh lần thứ 2, tâm trạng nàng vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. May sao Từ Hải đột ngột xuất hiện, đã xem Kiều như tri kỉ và chuộc nàng thoát khỏi lầu xanh. Cả 2 đều là những con người thuộc tầng lớp thấp kém (một gái lầuxanh, một tướng giặc) bị xã hội phong kiến thối nát lúc bấy giờ ruồng rẫy, coi thường, và họ đã đến với nhau trong 1 tình cảm gắn bó của đôi tri kỉ. Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo của Kiều và ngược lại Kiều nhận ra ở Từ Hải có chí khí anh hùng hiếm có trong thiên hạ, đồng thời cũng là người duy nhất có thể giải thoát cho nàng.Nhưng dù yêu thương,trân trọng Từ Hải, Kiều cũng không thể giữ chân bậc anh hùng cái thế.Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự anh hùng.
Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều mới đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc. Thế nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm nhưng chật hẹp, tù túng mà luôn khao khát giấc mộng anh hùng nên đã dứt áo ra đi
(?):Hình ảnh Từ Hải được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nào trong 4 câu thơ trên?
HS phát hiện chi tiết
GV nhận xét và yêu cầu HS trình bày cách hiểu về các chi tiết, hình ảnh đã tìm ra.
GV bình cụm “lòng bốn phương”:Bốn phương ở đây là đông, tây, nam, bắc có nghĩa là thiên hạ thế giới. Theo Kinh lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng gọi tắt là tang bồng, bắn ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Nên khi nói đến lòng bốn phương là nói đến chí tang bồng, chí làm trai của nam tử thời xưa.Ngày xưa chí làm trai là phải “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên”. Chính Nguyễn Công Trứ cũng từng khẳng định “ Chí làm trai nam bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Vốn là một bậc anh hùng cái thế “ đội trời đạp đất” với “ gươm đàn nửa gánh non sông một chèo, Từ Hải làm sao có thể say sưa trong hạnh phúc lứa đôi khi mà chí lớn
(Trích: Truyện Kiều- Nguyễn Du)
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Kiến thức: Qua nhân vật Từ Hải, hiểu được lí tưởng a nh hùng của Nguyễn Du
Nắm được đặc trưng nghệ thuật trong việc tả nhân vật anh hùng của Nguyễn Du.
2. Kỹ năng: Rèn kỹ năng đọc hiểu thơ trữ tình
3. Thái độ: Có ý thức trân trọng ước mơ của Nguyễn Du.
B. THIẾT KẾ BÀI HỌC:
I. CHUẨN BỊ CỦA GV, HS
1. Chuẩn bị của GV: SGK, giáo án cá nhân.
2. Chẩn bị của HS: SGK, vở ghi, vở soạn.
II. TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới:
Truyện Kiều xuất sắc không chỉ vì ngôn ngữ nghệ thuật, mà còn vì ý nghĩa nội dung độc đáo, sâu sắc. Nguyễn Du phản ánh một hiện thực xã hội phong kiến đương thời – cái xã hội hủ nát đã vùi dập chính ông – hay vùi dập số phận nàng Kiều và vô vàn những số phận tài hoa khác. Điều ấy khiến Truyện Kiều thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Và khi đưa Từ Hải vào như một nét sáng tạo trong cốt truyện, Nguyễn Du đã làm sáng cái ý chí và hoài bão lớn lao của những bậc anh hùng thời bấy giờ. Hình ảnh nhân vật Từ Hải được thể hiện rõ nét nhất qua đoạn trích Chí khí anh hùng.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 1
(?): Em hãy tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn?
HS:Làm việc cá nhân, suy nghĩ, trả lời
GV: Nhận xét, chốt
(?):Theo em nên chia đoạn trích này thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần?
Hoạt động 2
GV gọi 1 HS đọc diễn cảm VB, 1 HS khác nhận xét cách đọc.
GV nhận xét cách đọc, hướng HS đến cách đọc đúng cho đoạn trích: giọng đọc chậm rãi, hào hùng thể hiện sự khâm phục, ngợi ca.
GV lưu ý HS phần chú giải từ khó chân trang113.
GV yêu cầu 1 HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu.
(?):Em hãy cho biết Từ Hải ra đi trong hoàn cảnh nào?
HS suy nghĩ, trả lời
GV bình: Kiều bị lừa vào lầu xanh lần thứ 2, tâm trạng nàng vô cùng đau khổ và tuyệt vọng. May sao Từ Hải đột ngột xuất hiện, đã xem Kiều như tri kỉ và chuộc nàng thoát khỏi lầu xanh. Cả 2 đều là những con người thuộc tầng lớp thấp kém (một gái lầuxanh, một tướng giặc) bị xã hội phong kiến thối nát lúc bấy giờ ruồng rẫy, coi thường, và họ đã đến với nhau trong 1 tình cảm gắn bó của đôi tri kỉ. Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo của Kiều và ngược lại Kiều nhận ra ở Từ Hải có chí khí anh hùng hiếm có trong thiên hạ, đồng thời cũng là người duy nhất có thể giải thoát cho nàng.Nhưng dù yêu thương,trân trọng Từ Hải, Kiều cũng không thể giữ chân bậc anh hùng cái thế.Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự anh hùng.
Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều mới đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc. Thế nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm nhưng chật hẹp, tù túng mà luôn khao khát giấc mộng anh hùng nên đã dứt áo ra đi
(?):Hình ảnh Từ Hải được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nào trong 4 câu thơ trên?
HS phát hiện chi tiết
GV nhận xét và yêu cầu HS trình bày cách hiểu về các chi tiết, hình ảnh đã tìm ra.
GV bình cụm “lòng bốn phương”:Bốn phương ở đây là đông, tây, nam, bắc có nghĩa là thiên hạ thế giới. Theo Kinh lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng gọi tắt là tang bồng, bắn ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Nên khi nói đến lòng bốn phương là nói đến chí tang bồng, chí làm trai của nam tử thời xưa.Ngày xưa chí làm trai là phải “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên”. Chính Nguyễn Công Trứ cũng từng khẳng định “ Chí làm trai nam bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Vốn là một bậc anh hùng cái thế “ đội trời đạp đất” với “ gươm đàn nửa gánh non sông một chèo, Từ Hải làm sao có thể say sưa trong hạnh phúc lứa đôi khi mà chí lớn
 








Các ý kiến mới nhất