Chế Lan Viên - Tháp chàm bốn mặt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Ngày gửi: 19h:15' 23-10-2008
Dung lượng: 81.5 KB
Số lượt tải: 38
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Ngày gửi: 19h:15' 23-10-2008
Dung lượng: 81.5 KB
Số lượt tải: 38
Số lượt thích:
0 người
CHẾ LAN VIÊN
THÁP CHÀM BỐN MẶT
Đỗ Lai Thúy
Trong một mình bảy tám biệt ly
CAO BÁ NHẠ
Mỗi câu thơ che một trận tuyến tâm tình
CHẾ LAN VIÊN
Năm 1992, sau khi cuốn Con mắt thơ ra đời, đi đâu tôi cũng bị người ta chất vấn: Sao không có Chế? Phải, đã có Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Hàn Mạc Tử, sao lại không có Chế Lan Viên? Thế mới biết, trong số đông người đọc, Chế chiếm giữ vị trí như thế nào!
Có lần, đánh bài lờ mãi không được, tôi đành phải thưa lại theo kiểu học đường: một là, mỗi tác giả tôi giới thiệu đều là một mắt thơ, tương ứng với một phạm trù thi pháp học, như Thế Lữ là quan niệm nghệ thuật về con người, Xuân Diệu là quan niệm nghệ thuật về thời gian, Huy Cận là quan niệm nghệ thuật về không gian..., mà Chế Lan Viên thì tôi chưa tìm được một phạm trù tương ứng, nên ông không có chân trong nhóm thất tinh ấy; hai là, theo tôi, Điêu tàn của Chế Lan Viên, nếu xét về mặt tư duy nghệ thuật, so với Tinh huyết của Bích Khê, Đau thương của Hàn Mạc Tử, những người cùng Trường thơ Loạn với ông, thì không bằng. Và, điều đáng ngạc nhiên hơn, là không bằng cả Ánh sáng và Phù sa của chính Chế; ba là, vân vân và vân vân.
Tôi nói đáng ngạc nhiên, bởi lẽ, vượt mốc Bốn nhăm, tất cả các nhà Thơ Mới đều tự đánh vỡ phong cách cũ của mình và thay vội bộ đồ mới hợp thời hơn. Xuân Diệu làm thơ mộc, đi đâu ông cũng niệm câu Kinh "Chân, chân, chân; Thực, thực, thực" hoặc giương cao khẩu hiệu: "Thơ với cuộc sống, thơ với thực tế". Huy Cận có lúc cố níu kéo phong cách Lửa thiêng, nhưng một Bến Trung Hà trơ cạn không sánh nổi với một Trường giang mênh mông... Duy có Chế Lan Viên là lệ ngoại. Ánh sáng và Phù sa như một con quạ trắng, bởi lẽ nó không chỉ là sự tiếp tục của Điêu tàn, mà còn vươn tới một đỉnh cao.
Năm 1937, Điêu tàn xuất hiện như một niềm kinh dị, "giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật". Và bạn đọc thủa ấy, hẳn cũng có cảm giác như Hoài Thanh, "người đồng bằng thỉnh thoảng trèo lên đó - có người trèo đuối sức - mà trầm ngâm xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhưng triền miên trong đó thì không nên. Riêng tôi, mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: không còn biết mình là người hay ma. Và tôi sung sướng biết bao lúc khỏi giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, người vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh".
Qua lời bộc bạch của tác giả Thi nhân Việt Nam, người, có lẽ do cơ địa, để mỹ cảm của mình dừng lại ở Lãng mạn chưa vươn tới được Tượng trưng và Siêu thực, tôi thấy người ta kinh ngạc trước Điêu tàn chủ yếu ở phương diện đề tài. Quả thực, Chế Lan Viên bấy giờ đã đi vào một đề tài nhạy cảm và ít nhiều kỳ quái. Đó là số phận của cả một tộc người. Xưa oai hùng mà nay tàn tạ:
Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rên than
(Trên đường về)
Lời Điêu tàn, mặc dù tác giả tự nhận mình là Người Mơ, Người Say, Người Điên, là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, và làm thơ là gào vỡ sọ, thét đứt hầu, khóc trào máu mắt, cười tràn cả tủy là tủy, vẫn rất trong sáng, dễ hiểu:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
(Xuân)
Mặc dù có một số khám phá mới mẻ về ngôn ngữ, nhưng ở Điêu tàn Chế Lan Viên vẫn chưa tìm được một ngôn ngữ thích hợp để phô diễn những tư tưởng tân kỳ, điều mà ông đã làm được ở Ánh sáng và Phù sa. Sự cách tân ngôn ngữ thơ này của Chế Lan Viên bị số đông chê là cầu kỳ, khó hiểu. Khó hiểu vì xưa người ta phần lớn thấy A # B. Cầu kỳ vì ngôn ngữ Chế nhiều lớp lang, đòi hỏi phải giải mã, trái thói quen đọc ăn liền. Ánh sáng và Phù sa đầy rẫy những mâu thuẫn logic, những nghịch
THÁP CHÀM BỐN MẶT
Đỗ Lai Thúy
Trong một mình bảy tám biệt ly
CAO BÁ NHẠ
Mỗi câu thơ che một trận tuyến tâm tình
CHẾ LAN VIÊN
Năm 1992, sau khi cuốn Con mắt thơ ra đời, đi đâu tôi cũng bị người ta chất vấn: Sao không có Chế? Phải, đã có Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê, Hàn Mạc Tử, sao lại không có Chế Lan Viên? Thế mới biết, trong số đông người đọc, Chế chiếm giữ vị trí như thế nào!
Có lần, đánh bài lờ mãi không được, tôi đành phải thưa lại theo kiểu học đường: một là, mỗi tác giả tôi giới thiệu đều là một mắt thơ, tương ứng với một phạm trù thi pháp học, như Thế Lữ là quan niệm nghệ thuật về con người, Xuân Diệu là quan niệm nghệ thuật về thời gian, Huy Cận là quan niệm nghệ thuật về không gian..., mà Chế Lan Viên thì tôi chưa tìm được một phạm trù tương ứng, nên ông không có chân trong nhóm thất tinh ấy; hai là, theo tôi, Điêu tàn của Chế Lan Viên, nếu xét về mặt tư duy nghệ thuật, so với Tinh huyết của Bích Khê, Đau thương của Hàn Mạc Tử, những người cùng Trường thơ Loạn với ông, thì không bằng. Và, điều đáng ngạc nhiên hơn, là không bằng cả Ánh sáng và Phù sa của chính Chế; ba là, vân vân và vân vân.
Tôi nói đáng ngạc nhiên, bởi lẽ, vượt mốc Bốn nhăm, tất cả các nhà Thơ Mới đều tự đánh vỡ phong cách cũ của mình và thay vội bộ đồ mới hợp thời hơn. Xuân Diệu làm thơ mộc, đi đâu ông cũng niệm câu Kinh "Chân, chân, chân; Thực, thực, thực" hoặc giương cao khẩu hiệu: "Thơ với cuộc sống, thơ với thực tế". Huy Cận có lúc cố níu kéo phong cách Lửa thiêng, nhưng một Bến Trung Hà trơ cạn không sánh nổi với một Trường giang mênh mông... Duy có Chế Lan Viên là lệ ngoại. Ánh sáng và Phù sa như một con quạ trắng, bởi lẽ nó không chỉ là sự tiếp tục của Điêu tàn, mà còn vươn tới một đỉnh cao.
Năm 1937, Điêu tàn xuất hiện như một niềm kinh dị, "giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật". Và bạn đọc thủa ấy, hẳn cũng có cảm giác như Hoài Thanh, "người đồng bằng thỉnh thoảng trèo lên đó - có người trèo đuối sức - mà trầm ngâm xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhưng triền miên trong đó thì không nên. Riêng tôi, mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tôi choáng váng: không còn biết mình là người hay ma. Và tôi sung sướng biết bao lúc khỏi giấc mơ dữ dội, tôi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, người vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh".
Qua lời bộc bạch của tác giả Thi nhân Việt Nam, người, có lẽ do cơ địa, để mỹ cảm của mình dừng lại ở Lãng mạn chưa vươn tới được Tượng trưng và Siêu thực, tôi thấy người ta kinh ngạc trước Điêu tàn chủ yếu ở phương diện đề tài. Quả thực, Chế Lan Viên bấy giờ đã đi vào một đề tài nhạy cảm và ít nhiều kỳ quái. Đó là số phận của cả một tộc người. Xưa oai hùng mà nay tàn tạ:
Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rên than
(Trên đường về)
Lời Điêu tàn, mặc dù tác giả tự nhận mình là Người Mơ, Người Say, Người Điên, là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, và làm thơ là gào vỡ sọ, thét đứt hầu, khóc trào máu mắt, cười tràn cả tủy là tủy, vẫn rất trong sáng, dễ hiểu:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
(Xuân)
Mặc dù có một số khám phá mới mẻ về ngôn ngữ, nhưng ở Điêu tàn Chế Lan Viên vẫn chưa tìm được một ngôn ngữ thích hợp để phô diễn những tư tưởng tân kỳ, điều mà ông đã làm được ở Ánh sáng và Phù sa. Sự cách tân ngôn ngữ thơ này của Chế Lan Viên bị số đông chê là cầu kỳ, khó hiểu. Khó hiểu vì xưa người ta phần lớn thấy A # B. Cầu kỳ vì ngôn ngữ Chế nhiều lớp lang, đòi hỏi phải giải mã, trái thói quen đọc ăn liền. Ánh sáng và Phù sa đầy rẫy những mâu thuẫn logic, những nghịch
 








Các ý kiến mới nhất