Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Chế Lan Viên

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thanh Hằng
Ngày gửi: 18h:27' 23-04-2008
Dung lượng: 214.5 KB
Số lượt tải: 90
Số lượt thích: 0 người
http://www.hue.vnn.vn/vanhocthica/2005/06/88587/

Chế Lan Viên và những vần thơ mãi nhớ....

09:33` 19/06/2005 (GMT+7)

(NetCoDo) 26 năm ông đã trở về với cát bụi, mất mát còn đó, đau thương thật nhiều, nhớ ông, những người yêu ông, yêu thơ ông cũng làm sao quên được những bài thơ, vần thơ của ông đã đi cùng năm tháng. Bài viết xin được thay cho nén hương trầm tưởng nhớ nhà thơ … 


Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989)

Trong “Thi nhân Việt Nam”, anh em nhà phê bình Hoài Thanh-Hoài Chân, khi giới thiệu về tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên đã từng thốt lên : “Tôi cầm bút viết bài này thì văng vẳng bên tai tôi giọng ca Nam Bình đưa sang từ nhà bên cạnh. Giọng ca âm thầm ai oán, mỗi lần tôi nghe lại khiến lòng tôi bồn chồn, chân tay tôi rời rã. Cũng lạ ! Bị chinh phục đến tiêu diệt mà cảm được lòng những kẻ đã diệt mình một cách sâu sắc như thế dễ chỉ có dân tộc Chiêm Thành. Những nhạc công của chúng ta luôn luôn ca nỗi oán hờn của họ. Bao nhiêu thi nhân của ta bị ám ảnh bởi những nỗi buồn thương của họ. Chúng ta lại còn dành riêng cho họ một nhà thơ, để vì học giải giùm những nỗi uất ức bao nhiêu năm như nghẹn ngào trên núi sông này. Vong linh đau khổ của nòi giống họ đã nhập vào Chế Lan Viên, cho nên, dẫu khong phải người họ Chế, Chế Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành. Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện giữ làng thơ như một niềm kinh dị …”. Vâng, không “kinh dị” sao được, bởi khi Điêu tàn ra đời (1937) là khi mà chủ đề về cá nhân trong thơ mới đang thịnh hành thì với giọng thơ rất riêng của mình, nhà thơ họ Chế đã trở về với một số phận dân tộc bị thời gian chn vùi với bao máu xương kêu khóc (chữ dùng của Trần Đình Sử). Nhà thơ đã tìm cái đẹp không phải trong cái chân, cái thiện, mà tìm trong hư ảo với điêu tàn. Hẳn ở đây, sẽ có ảnh hưởng của Lơ công tơ đờ Linlơ và Saclơ Bôđơle, song cái chính là sự lựa chọn của nhà thơ, mặc dù khi đó ông mới tròn 17 tuổi. Đọc Điêu tàn ta như thấy một thoáng ớn lạnh trong từng con chữ, bởi ở đó nó “dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xương máu. Cùng yêu ma” (Hoài Thanh-Hoài Chân). Chỗ này một yêu tinh nghe tiếng trống cầm canh chợt nhớ nơi trần thế : “Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng; Nút bao dòng huyết đẵm khí tanh hôi; Tìm những “miếng trần gian” trong tuỷ cạn; Rồi say sưa vang cất tiếng reo cười”. Và chỗ kia thì ấy là “…Những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn; Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”…Nhưng rồi, cách mạng tháng Tám thành công, những cảnh điêu tàn trên thế gian cũng dần mất đi và những câu thơ theo lối chản nản gay gắt, não nùng như kiểu : “Trời hỡi trời ! Hôm nay ta chán hết; Những sắc màu hình ảnh của Trần gian”; mà thay vào đó là những “Ánh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường” hay “Chim báo bão”- những tác phẩm đánh dấu bước trỗi dậy đổi mới của thơ Chế Lan Viên, gắn liền với ý thức về cái tôi của ông. Ông đã từng trãi lòng mình trong một lần tâm sự : “Hiểu mình và hiểu người, Hiểu đời và hiểu Đảng, Tôi góp phần ánh sáng, Tôi làm chủ hồn tôi”. Ông Trần Đình Sử cho rằng : Chế Lan Viên phân biệt mình với người, với đời và với Đảng, ông xem cái tôi như một điểm xuất phát của thơ để nói về tất cả. Ông đã nói tới cái buồn đau, dằn vặt của riêng mình với tấm lòng thiết tha với Tổ quốc. Giữa lúc mọi người nói nhiều tới việc thơ nói thực tế, nói người thực, việc thực thì Chế Lan Viên nói nhiều tới cái hư ảo, cơn mơ và mộng tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà hầu như Chế Lan Viên không làm thơ trữ tình nhập vai (kiểu Bầu ơi) và Ánh sáng và phù sa là tập thơ thuần tuý trữ tình bậc nhất. Đối với ông, thơ và đời, thơ và sự sống, Tổ quốc và tâm hồn luôn chuyển hoá, thăng hoa kì diệu để tạo thành chất thơ rất Chế Lan Viên. Ông đề cao thơ như phương tiện sáng tạo và làm giàu cho con người : “Trái đất rộng thêm ra một phần vì bởi các trang thơ; Vì diện tích tâm hồn các nhà thi sĩ”. Nhà thơ cho rằng, thơ gắn liền với cái lạ, hương sắc lạ. Chân lí trong nghệ thuật là chân lí luôn gây ngạc nhiên, bất ngờ, có tính phát hiện. Nên thơ ông luôn có sự đổi thay, biến hoá, nó nói lên được sự kì diệu của cuộc đời : “Giặc nước đuổi xong rồi, trời xanh thành tiếng hát; Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân; Những kẻ quê mùa đã thành trí thức; Tăm tối cần lao nay hoá những anh hùng”. Thơ ông còn diễn tả sự hài hoà một cách kì diệu, giàu chất khái quát, chất trí tuệ, biểu trưng, triết lí nhưng không khô xác : “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét; Tình yêu ta cánh kiến hoa vàng; Như xuân đến chim rừng lông trở biếc; Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”. Những hình ảnh trong thơ ông rất giàu chất hư ảo, điều đó càng làm cho thơ lộng lẫy, rực rỡ, hào hoa. Ông miêu tả hình ảnh Bác Hồ với một lối thơ, một tứ thơ chưa từng có trong thơ ta về Bác kính yêu : “Đêm mơ nước ngày thấy hình của nước; Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà; ăn một miếng ngon cũng đắng long vì Tổ quốc; Chẳng yên lòng khi ngắm một nhà hoa”. Ông nói về tình yêu Tổ quốc bằng những vần thơ hay, nó cháy bỏng một tình yêu và sáng ngời đức hi sinh, hình ảnh và giọng thơ to lớn mà không khoa trương, lại rất thành thật : “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt; Như mẹ cha ta như vợ như chồng; Ôi Tổ quốc, Nếu cần ta chết; Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông …”. Và tiếng lòng ông cũng đã từng ngân rung nhịp gọi “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”. Tiếng lòng ông ngân rung, bởi ông đã cảm nhận sâu sắc về sự kì diệu của đất nước, của dân tộc, khi Việt Nam đã trở thành niềm tin và lương tâm của nhân loại : “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả; Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn; Trái cây rơi vào áo người ngắm quả; Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn; Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ; Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn”. Cái hay trong thơ ông, trong quan niệm của ông về văn hoá dân tộc nói chung và văn học nói riêng là sự kế thừa và phát triển. Không phải lúc nào và bao giờ cũng phải khư khư ôm lấy và quá sùng bái những gì của quá khứ. Nhà thơ cho rằng : “Bốn ngàn năm chưa phải là ta đã cày sâu vào trang giấy lắm đâu; Gié lúa nhiều thế kỷ cầm lên còn lép hạt; Đảng bảo tat hay giống lúa xưa và thay cả những luống cày”. Ông cũng không đồng ý với quan niệm, càng truyền thống xa xưa thì càng dân tộc, mà với ông : “…Nghe cha ông và nghe con cái nữa; Truyền thống là giống Lý-Trần và giống nhiều những thế hệ mai sau; Giống những năm tháng sẽ khai hoang, những chân trời sẽ vỡ; Chớ chỉ tìm dân tộc phía đàng sau”…
Thế nhưng, rồi cuộc đời này, đến như một nhà thơ mà tài năng dường ấy, lỗi lạc dường ấy, thế mà ông vẫn phải tự rút ra một điều rằng, chúng ta hãy phải “Tập qua hàng”. Tập qua hàng như cách ông viết trong thơ :
“Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
trở về. Nắng sớm cũng mong. Cây
cùng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay”.
Và hôm nay, tôi đang trăn trở “tập qua hàng” cùng ông …


Chế Lan Viên
Saturday, 25. August 2007, 01:50:23
(Phần thứ hai)
III. CHẾ LAN VIÊN VỚI TÙY BÚT, BÚT KÍ VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC 1. Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên có tập văn xuôi triết lý vàng sao (1942) bộc lộ những tìm tòi nhưng bế tắc của nhà thơ về tư tưởng và nghệ thuật, lạc xa vào những suy nghiệm siêu hình, hư vô về bản thể. Trong kháng chiến chống Pháp, do công tác báo chí, Chế Lan Viên viết một số bút kí, phóng sự ghi lại những hình ảnh kháng chiến ở Liên khu IV. Sau tập bút kí thăm Trung Quốc (1963), Chế Lan Viên ít viết bút kí mà chuyển sang thể tài tùy bút - Chính luận. Ở thể tài này, cây bút văn xuôi Chế Lan Viên bộc lộ được rõ hơn những đặc sắc của mình. Tùy bút của ông được tập hợp trong các tập Những ngày nổi giận (1966), Giờ của số thành (1977) và rải rác trong các tập Suy nghĩ và bình luận (1971), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)v.v... Tùy bút của Chế Lan Viên thường được viết trong những thời điểm quan trọng, những bước ngoặt biến chuyển của đời sống dân tộc, đất nước. Những thời điểm "chói sáng" "đột biến" của lịch sử, nâng đôi cánh của cảm xúc, thôi thúc trí tuệ của nhà thơ suy nghĩ, nhận thức khám phá. Trong những thời điểm đó, thường thì Chế Lan Viên vừa làm thơ, vừa viết tùy bút, tùy bút như để mở rộng thêm những cảm xúc và suy nghĩ trong thơ. Trong tùy bút, bút kí của Chế Lan Viên, không có nhiều chi tiết thực tế. Hiện thực cuộc sống được sử dụng chọn lọc, xoay quanh cái trục chính là sự kiện lịch sử trọng yếu và đó là điểm tựa để nhà văn suy nghĩ, bình luận, đào sâu vào cốt lõi của vấn đề, mở rộng nó trong những liên hệ nhiều mặt, khám phá những ý nghĩa sâu rộng và mới mẻ. Nếu như trong thơ Chế Lan Viên dồi dào yếu tố trí tuệ, thì trong tùy bút của ông lại giàu chất thơ. Chất thơ ấy thể hiện trong những xúc cảm có khi bay bổng, nhưng thường thì đằm sâu trong những suy ngẫm trí tuệ. Nó còn được bộc lộ trong lối diễn đạt rất chú trọng đến hình ảnh và nhịp điệu. 2. Năng lực suy nghĩ sắc sảo và bao quát của Chế Lan Viên còn được phát huy hơn nữa trong các bài bình luận văn học. Trước 1945, Chế Lan Viên đã có bài Tựa. Cho tập Điêu tàn của mình, được coi như Tuyên ngôn thơ của trường thơ "Loạn" và bài Tựa rất đáng chú ý cho tập thơ Mùa cổ điển của Quách Tấn. Trong kháng chiến chống Pháp, khi làm báo và công tác văn nghệ ở Liên khu IV, Chế Lan Viên viết Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, đề cao phương hướng văn nghệ hiện thực và nhân dân, sau 1954, nhất là từ 1960, Chế Lan Viên trở thành một trong những cây bút phê bình văn học đáng chú ý trong số những nhà văn viết phê bình, với các tập: phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Từ gác khuê văn đến quán Trung tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Ngoại vi thơ (1987). Với ý thức trách nhiệm và sự nhạy bén trước phong trào văn học của đất nước, Chế Lan Viên thường lên tiếng kịp thời về nhiều vấn đề của đời sống văn học nghệ thuật. Điều quan tâm hàng đầu của ông là vấn đề cơ bản: quan hệ giữa văn nghệ với cách mạng, với dân tộc và thời đại. Ông tham luận trong Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, trước Quốc hội về Những thành tựu và thiếu sót của ngành văn nghệ chúng tôi, văn học nghệ thuật và hiến pháp. Đứng ở tư thế và vị trí của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, ông phát biểu trên các diễn đàn
 
Gửi ý kiến