Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài:Vội Vàng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Danh Ngọc
Ngày gửi: 03h:23' 26-06-2008
Dung lượng: 98.5 KB
Số lượt tải: 229
Số lượt thích: 0 người
Giáo án bài Vội vàng – Xuân Diệu

Mục tiêu bài học:
Về kiến thức:
- Giúp HS có được những kiến thức cơ bản nhất về tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng.
- Giúp HS cảm nhận được lòng yêu đời yêu sống bồng bột, mãnh liệt, quan niệm mới về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc cũng như quan niệm thẩm mỹ mới mẻ của thi sĩ Xuân Diệu
- Giúp HS phát hiện được sự kết hợp giữa mạch cảm xúc dào dạt và mạch luận lí trong bài thơ, những sáng tạo mới mẻ trong nghệ thuật biểu hiện
2. Về kĩ năng:
- Giúp HS rèn luyện kĩ năng cảm thụ và phân tích thơ trữ tình
- Có khả năng so sánh khi phân tích văn bản thơ
3. Về thái độ:
- Giúp HS biết quí trọng thời gian, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống, biết sống tích cực từng ngày từng giờ.
II. Phương pháp, thiết bị, tài liệu dạy học:
Phương pháp:
- Phương pháp thuyết minh
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp tổ chức hoạt động của học sinh
2. Thiết bị, tài liệu:
- SGK
- Thiết kế bài giảng
- Tài liệu tham khảo:
+ 217 đề và bài văn: Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), NXB ĐHQGHN, 1999
+ Ba đỉnh cao thơ mới: Chu Văn Sơn, NXB GD, 2003
+ Tư liệu ngữ văn 11 phần văn học: Nhiều tác giả, NXB GD, 2007
- Thiết bị: bảng phấn, có thể dùng power point
III. Tiến trình bài giảng:

Kiến thức cần đạt
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh

Giới thiệu bài mới:
Nội dung bài giảng:
Tìm hiểu chung:
Tác giả Xuân Diệu:
Tiểu sử:
Những nét chính về con người và thơ Xuân Diệu
Sự nghiệp:
Về bài thơ Vội vàng:
- Xuất xứ bài thơ: trích từ tập Thơ thơ (1938)
- Bài thơ tiêu biểu cho quan niệm sống và quan điểm thẩm mĩ của nhà thơ
- Bài thơ được coi như một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng.
- Thể loại và bố cục:
+ Thể thơ trữ tình tự do, kết hợp thơ ngũ ngôn và thơ mới 8 tiếng, thơ tự do, vần chân liền, bằng trắc xen kẽ
+ Bố cục: 3 phần
4 câu đầu: ước muốn kì lạ của thi sĩ
9 câu tiếp: tình yêu thiết tha với thiên đường nơi trần thế của nhà thơ
Từ câu 14 đến câu 29: cảm nhận mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian
Lời giục giã sống vội vàng, cuống quít.






Phân tích văn bản:

Ước muốn kì lạ của thi sĩ: (4 câu thơ đầu):
- Ước muốn kì lạ vì: vô lí: tắt nắng và buộc gió là việc của tạo hóa, con người không thể điều chỉnh được qui luật tự nhiên.
- Mục đích: cho màu đừng nhạt mất, cho hương đừng bay đi -> lưu giữ màu sắc và hương thơm là những mong muốn bồng bột vì không bao giờ thực hiện được. Nhưng đó cũng là một ước muốn rất thực của một hồn thơ rất hồn nhiên.
-> cách mở đầu bài thơ tạo sự chú ý bởi sự kì lạ có thể nói là ngông cuồng của thi sĩ. Thể thơ ngũ ngôn ngắn như lời khẳng định, giãi bày, cô nén cảm xúc và ý tưởng, lại vừa thể hiện sự dồn dập, sôi nổi, khác với thể thơ này ở Ông đồ của Vũ Đình Liên.
Sự bộc lộ của cái tôi cá nhân nhà thơ.

Tình yêu thiết tha của thi sĩ với thiên đường nơi trần thế: (9 câu tiếp)
2.1. Bức tranh thiên nhiên được thể hiện qua các từ ngữ biểu cảm: của ong bướm, tuần tháng mật, hoa – đồng nội, lá – cành tơ phơ phất, yến anh – khúc tình si, ánh sáng – hàng mi, thần Vui, tháng Giêng – cặp môi gần
Đó là những hình ảnh đẹp đẽ, tươi non, trẻ trung của thiên nhiên.
-> một bức tranh thiên nhiên đầy ánh sáng mới mẻ, tinh khôi, đầy âm thanh rộn rã, tình tứ, đầy màu sắc, hương thơm và vị ngọt ngào men say tình ái, đầy niềm vui đón chờ ánh ban mai. Đó là một bức tranh thiên nhiên căng tràn, ứ đầy nhựa sống dâng lên từ trong lòng tạo vật. Tất cả đều được bày sẵn, gọi mời như một bữa tiệc trần gian.
- Câu thơ kéo dài ra thành 8 chữ, các điệp từ “đây, này đây” như liên tục phơi bày, mời gọi, chỉ cho người đọc quan sát và thưởng thức mọi cảnh sắc và vẻ đẹp khác nhau trong khu vườn xuân – các món ăn trên bàn tiệc trần gian theo sự cảm nhận và “thức nhọn các giác quan” của thi sĩ.
Biện pháp liệt kê và nhịp thơ nhanh kết hợp các điệp từ như dồn dập trải bức tranh thiên nhiên rộng và dài ra vô tận trước sự chiêm ngưỡng của người đọc.
2.2. Cái nhìn mới mẻ của nhà thơ thể hiện trong bức tranh thiên nhiên: cái nhìn trẻ trung và đầy xuân tình. Nhìn thiên nhiên như người tình, thiên nhiên được gợi tả trong quan hệ như với người yêu, người đang yêu, như tình yêu đôi lứa của tuổi trẻ đắm say, si mê và tràn đầy hạnh phúc (tuần tháng mật, khúc tình si, cặp môi gần).












- Nhận xét về cảm xúc trong đoạn thơ: say mê, yêu đời, yêu sống, đa tình.















- Câu thơ độc đáo và mới mẻ nhất: “tháng
Giêng ngon như một cặp môi gần”.
Trước Xuân Diệu chưa có nhà thơ nào so
sánh táo bạo như thế. Đó là cảm giác của
ái ân tình tự. Cảm giác ấy đã làm cho
người ta cảm thấy tháng Giêng mơn mởn
tơ non đầy sức sống thanh tân kia tự ẩn
chứa và lồ lộ ra một sức quyến rũ lạ kì
sức quyến rũ không thể cưỡng lại được.






- Bức tranh thiên nhiên, bức tranh trần thế tươi đẹp, quyến rũ là lí do giải thích cho ước muốn của thi sĩ ở đầu bài thơ.
2 câu cuối của đoạn thơ là tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng vẫn logic và thống nhất của nhà thơ: sung sướng nhưng vội vàng một nửa, chính vì cuộc sống thiên đường hàng ngày đẹp và đáng hưởng thụ như thế mà không thể lưu giữ mãi được. Nó cứ trôi đi vô tình cho nên phải cố níu kéo, kìm giữ, cho dù điều đó là không thể. Thi sĩ muốn sống nhanh, sống gấp để kịp với sự chảy trôi của thời gian và tạo vật.


Cảm nhận mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian:
3.1. Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân đã già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

- cách lập luận về thời gian của nhà thơ: thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, mỗi phút đã qua là mất đi vĩnh viễn. Quan niệm ấy xuất phát từ cái nhìn động và biện chứng về vũ trụ thời gian.
- điệp từ “nghĩa là” tạo thành câu khẳng định, giải thích để tìm ra bản chất, qui luật của thiên nhiên, cuộc sống, mang tính khẳng định, phát hiện như chân lí, tạo sức nặng cho luận điểm.
Cách lập luận còn đặc biệt ở chỗ tác giả phát hiện ra sự chảy trôi của thời gian ở từng động thái nhỏ nhất, tinh vi nhất của nó: đương tới – đương qua, non – già. Động từ và tính từ đều được sử dụng nhằm cực tả sự chảy trôi mãnh liệt đó.
Giọng thơ như tranh luận, phản bác, lại như thảng thốt và tiếc nuối.
Xuân: tới – qua, non – già
Tôi: cũng mất, tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, chẳng còn tôi mãi.
- Nhà thơ tạo ra giọng tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình, như đang đối thoại với ai đó chứ không chỉ một mình. Dùng lối “định nghĩa” như thế để chỉ ra thật cụ thể, rõ ràng sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận và mãnh liệt hơn nhà thơ còn lí lẽ: mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
- Nhà thơ không ngần ngại mà thể hiện sự tiếc nuối của mình: “Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”





- Cách kết cấu đó có tác dụng kết nối ý thơ, lí lẽ biện minh như đang tranh luận, giãi bày, đang lí lẽ về chân lí mới mẻ mà nhà thơ đã phát hiện.


3.2. Cách cảm nhận thời gian của Xuân Diệu:
- Cảm nhận thời gian tinh tế, đặc biệt: “Mùi tháng năm… sắp sửa?”
- Sự chuyển đổi cảm giác và trừu tượng hóa cảm giác: Mùi tháng năm, rớm, vị, vị chia phôi. Xuân Diệu đã lần lượt cảm nhận thời gian bằng hầu khắp các giác quan của mình: khứu giác – thị giác – vị giác…
- Giọng thơ tranh biện nhưng lại nặng cảm xúc tiếc nuối, ngậm ngùi và đau khổ. Sự thức dậy sâu xa về giá trị của sự sống cá thể đã đưa đến một cảm nhận đầy ám ảnh về thời gian trong lòng tạo vật như thế ở nhà thơ Xuân Diệu.







- Thái độ chạy đua với thời gian: không thể tắt nắng, buộc gió trong khi “độ phai tàn” thì sắp sửa, cách duy nhất của thi nhân là tranh thủ sống, chạy đua với thời gian: “chẳng bao giờ… chiều hôm”.
Đến đây, phần luận giải của tuyên ngôn Vội vàng đã đủ đầy luận lí.

Lời giục giã sống vội vàng, cuống quít: (Phần cuối)
- lối tách câu cùng đại từ “ta” mang nghĩa tình cảm chung, phổ quát khiến cho tính chủ thể được nhấn mạnh. “Ta muốn ôm” đặt giữa đoạn thơ diễn tả đúng tư thế giang tay ôm lấy vạn vật.
- các điệp ngữ: ta muốn được điệp đi điệp lại nhiều lần, nhất là mỗi lần lại đi kèm với một động từ mạnh: ôm, riết, say, thâu, cắn -> cấp độ cảm xúc tăng tiến của nhà thơ .
- từ “và” trong câu thơ chưa từng gặp trong văn học trung đại: và non nước, và cây và cỏ rạng, tưởng thừa thãi nhưng là sáng tạo của Xuân Diệu. chữ “và”hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ: cảm giác trực tiếp, tươi sống cái cảm giác ham hố, vồ vập, đam mê, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực thi sĩ.
- một làn sóng ngôn từ liên trùng điệp đan xen, như những lớp sóng gối lên nhau không dứt, câu chữ có vẻ xô bồ, lấn át khung cấu tứ bình thường, các từ chỉ trạng thái cũng theo đó mà tăng lên: chếnh choáng – đã đầy – no nê. Các hình ảnh thơ cũng đa dạng và quyến rũ: bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cái hôn nhiều, cỏ rạng, mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, thời tươi, xuân hồng.
- câu thơ cuối cùng là đỉnh điểm của cảm xúc. Từ “cắn” động từ mạnh mang ý nghĩa xác thịt nhưng là “cắn xuân hồng”. Sự kết hợp này đem lại hiệu quả nghệ thuật thật bất ngờ. Câu cuối như một lời tuyên ngôn mạnh mẽ.
-> tất cả cộng hưởng để thúc giục vội vàng. Đoạn thơ cuối như bao gộp tất cả những gì xuân sắc, xuân tình nhất, tươi đẹp nhất, ngọt ngào nhất mà thi sĩ đang cố tận hưởng trong sự vội vàng, cuống quít. Quả thực “Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” (Hoài Thanh).










- Giới thiệu vị trí của bài thơ trong sự nghiệp thơ của Xuân Diệu và trong phong trào thơ Mới lúc bấy giờ.
- Đọc mẫu bài thơ và gọi HS đọc thơ, hướng dẫn HS thể hiện đúng các sắc thái cảm xúc của từng đoạn qua giọng đọc. Phần đầu được đọc với giọng vui tươi, phơi phới, náo nức, chú ý các điệp từ điệp ngữ. Từ câu 14 đến 29 chuyển sang giọng tranh luận, thảng thốt, tiếc nuối. Cao trào cảm xúc của bài thơ là từ câu 30 cho đến hết. Giọng đọc trong phần này cần sôi nổi, nhanh, chú ý nhấn giọng vào các điệp ngữ, các từ miêu tả, các động từ được thể hiện theo lối tăng tiến.
- Bài thơ được chia làm mấy đoạn, nội dung chính của từng đoạn?
- Nhận xét: bố cục bài thơ rất chặt chẽ, mạch thơ là sự kết hợp giữa lí lẽ lập luận và cảm xúc dâng trào càng về sau càng mạnh mẽ, mãnh liệt.
- Chuyển dẫn: Theo bố cục của bài thơ có thể thấy cảm xúc của nh
 
Gửi ý kiến