BÀI TIỂU LUẬN SỐ 1 LỚP BỒI DƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN THPT HẠNG 2, NĂM 2019

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Thu Thuỷ
Ngày gửi: 22h:04' 27-03-2019
Dung lượng: 48.5 KB
Số lượt tải: 17
Nguồn:
Người gửi: Võ Thị Thu Thuỷ
Ngày gửi: 22h:04' 27-03-2019
Dung lượng: 48.5 KB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
BÀI TIỂU LUẬN SỐ 1
LỚP BỒI DƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THPT HẠNG 2, NĂM 2019
Họ và tên:
Ngày sinh:
Nơi sinh:
Đơn vị công tác:
Câu hỏi bài thu hoạch: Phân tích các chính sách và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông và giáo viên trung học cơ sở.
Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian vừa qua Bộ GD&ĐT đã chuyển quản lý viên chức từ mã ngạch sang hạng chức danh nghề nghiệp nhằm giúp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của viên chức ngành giáo dục. Ngoài những yêu cầu bắt buộc về trình độ chuyên môn và các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cần có của viên chức thì mỗi viên chức khi được xếp hạng hoặc thăng hạng phải được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ chuẩn chức danh nghề nghiệp mình đang giữ hoặc muốn thăng hạng. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/9/ 2015 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở công lập, giáo viên THCS hạng II cần phải có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở hạng II, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tổ chức mơ các lớp bồi dưỡng thăng hạng giáo viên THCS hạng II nhằm tạo điều kiện để giáo viên theo học nâng cao trình độ và đảm bảo về các loại chứng chỉ cần có khi giữ hạng viên chức.
Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích, qua đó mạnh dạn đưa ra một số bài học nhằm phục vụ cho quá trình công tác sau này. Tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn, việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn, do đó dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các đồng nghiệp để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Phần II. NỘI DUNG
4 giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng
GD&TĐ - Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT với quan điểm chỉ đạo là “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Để thực hiện thành công điều này, điều quan trọng là cần phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Phát triển đội ngũ giáo viên (GV) là một quá trình học tập liên tục của GV, bắt đầu từ khi họ được tuyển vào học tại các cơ sở đào tạo GV và kéo dài trong suốt cuộc đời dạy học.
Đồng với quan điểm của ThS Mai Quang Huy (trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội) đề xuất một số giải pháp cho đào tạo GV ở Việt Nam dựa trên việc tham khảo chính sách phát triển GV của một số nước.
Thu hút người giỏi học sư phạm.
Để có được GV giỏi, cần thu hút những người giỏi vào học ngành sư phạm, đó là một quan điểm phổ biến trên thế giới. Nhìn chung, các nước đều tuyển chọn GV từ những người học tốt nhất.
Về mô hình đào tạo ban đầu, ở Đức, GV được đào tạo theo mô hình kế tiếp: bậc cử nhân trong 6 học kỳ (180 tín chỉ) được tiếp tục với bậc thạc sỹ trong 4 học kỳ (120 tín chỉ). Chương trình đào tạo được mô đun hóa và sử dụng hệ thống chuyển giao tín chỉ châu Âu.
Tại Nhật Bản, GV THPT không đào tạo từ đầu cho những người tốt nghiệp THPT mà được đào tạo cho sinh viên của các ngành học khác. Theo quy định của luật, họ phải tích lũy thêm 23 tín chỉ các học phần về khoa học giáo dục, 20 tín chỉ các học phần về khoa học cơ bản và 16 tín chỉ hoặc khoa học cơ bản, hoặc khoa học giáo dục để được nhận được chứng chỉ GV. Hiện nay, Nhật Bản đưa ra mô hình đào tạo thạc sỹ cho các GV trong các chương trình với sự kết hợp của các cơ sở đào tạo sau ĐH và các trường phổ thông.
Bên cạnh các mô hình đào tạo GV truyền thống, 2/3 các nước thành viên OECD còn tiến hành việc đào tạo GV theo các cách thức khác như đào tạo GV tại các nhà trường.
Ở nước ta, sự ra đời của trường ĐH Giáo dục – ĐHQG Hà Nội tạo ra một mô hình mới về đào tạo GV trong các ĐH đa ngành, đa lĩnh vực; cho phép tận dụng lợi thế của các trường ĐH thành viên là những cơ sở ĐH hàng đầu về khoa học cơ bản.
LỚP BỒI DƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THPT HẠNG 2, NĂM 2019
Họ và tên:
Ngày sinh:
Nơi sinh:
Đơn vị công tác:
Câu hỏi bài thu hoạch: Phân tích các chính sách và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông và giáo viên trung học cơ sở.
Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian vừa qua Bộ GD&ĐT đã chuyển quản lý viên chức từ mã ngạch sang hạng chức danh nghề nghiệp nhằm giúp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của viên chức ngành giáo dục. Ngoài những yêu cầu bắt buộc về trình độ chuyên môn và các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cần có của viên chức thì mỗi viên chức khi được xếp hạng hoặc thăng hạng phải được bồi dưỡng và cấp chứng chỉ chuẩn chức danh nghề nghiệp mình đang giữ hoặc muốn thăng hạng. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/9/ 2015 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở công lập, giáo viên THCS hạng II cần phải có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở hạng II, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tổ chức mơ các lớp bồi dưỡng thăng hạng giáo viên THCS hạng II nhằm tạo điều kiện để giáo viên theo học nâng cao trình độ và đảm bảo về các loại chứng chỉ cần có khi giữ hạng viên chức.
Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích, qua đó mạnh dạn đưa ra một số bài học nhằm phục vụ cho quá trình công tác sau này. Tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn, việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn, do đó dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các đồng nghiệp để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Phần II. NỘI DUNG
4 giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng
GD&TĐ - Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT với quan điểm chỉ đạo là “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Để thực hiện thành công điều này, điều quan trọng là cần phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Phát triển đội ngũ giáo viên (GV) là một quá trình học tập liên tục của GV, bắt đầu từ khi họ được tuyển vào học tại các cơ sở đào tạo GV và kéo dài trong suốt cuộc đời dạy học.
Đồng với quan điểm của ThS Mai Quang Huy (trường ĐH Giáo dục - ĐHQG Hà Nội) đề xuất một số giải pháp cho đào tạo GV ở Việt Nam dựa trên việc tham khảo chính sách phát triển GV của một số nước.
Thu hút người giỏi học sư phạm.
Để có được GV giỏi, cần thu hút những người giỏi vào học ngành sư phạm, đó là một quan điểm phổ biến trên thế giới. Nhìn chung, các nước đều tuyển chọn GV từ những người học tốt nhất.
Về mô hình đào tạo ban đầu, ở Đức, GV được đào tạo theo mô hình kế tiếp: bậc cử nhân trong 6 học kỳ (180 tín chỉ) được tiếp tục với bậc thạc sỹ trong 4 học kỳ (120 tín chỉ). Chương trình đào tạo được mô đun hóa và sử dụng hệ thống chuyển giao tín chỉ châu Âu.
Tại Nhật Bản, GV THPT không đào tạo từ đầu cho những người tốt nghiệp THPT mà được đào tạo cho sinh viên của các ngành học khác. Theo quy định của luật, họ phải tích lũy thêm 23 tín chỉ các học phần về khoa học giáo dục, 20 tín chỉ các học phần về khoa học cơ bản và 16 tín chỉ hoặc khoa học cơ bản, hoặc khoa học giáo dục để được nhận được chứng chỉ GV. Hiện nay, Nhật Bản đưa ra mô hình đào tạo thạc sỹ cho các GV trong các chương trình với sự kết hợp của các cơ sở đào tạo sau ĐH và các trường phổ thông.
Bên cạnh các mô hình đào tạo GV truyền thống, 2/3 các nước thành viên OECD còn tiến hành việc đào tạo GV theo các cách thức khác như đào tạo GV tại các nhà trường.
Ở nước ta, sự ra đời của trường ĐH Giáo dục – ĐHQG Hà Nội tạo ra một mô hình mới về đào tạo GV trong các ĐH đa ngành, đa lĩnh vực; cho phép tận dụng lợi thế của các trường ĐH thành viên là những cơ sở ĐH hàng đầu về khoa học cơ bản.
 








Các ý kiến mới nhất